Cậu út ở trong một căn nhà trệt có khoảng sân nhỏ thuộc khu tập thể đại viện huyện lỵ, tối hôm đó tôi nồng nặc mùi rượu đập cửa nhà cậu. Cậu ngồi xem vô tuyến trên chiếc ghế sofa da nhân tạo ở phòng khách, trên vô tuyến đang phát một bộ phim truyền hình tài liệu tên là 《Hà Thương》. Lúc tôi bước vào, cậu vỗ mạnh vào chiếc bàn trà bằng gỗ bên cạnh: "Thật không ra thể thống gì!" Tôi cứ tưởng cậu đang mắng mình uống rượu, bèn đứng cạnh cậu vô cớ xoa xoa hai bàn tay, không dám ngồi xuống.
Cậu chỉ vào vô tuyến bảo tôi: "Cái gì mà văn minh hoàng thổ, văn minh đại dương, đúng là nhảm nhí! Không có bức tường Trường Thành này, chó sói hổ báo chẳng phải đều xông vào hết rồi sao?"
Cậu đang mắng bộ phim tài liệu trên vô tuyến, trong lòng tôi tức thì nhẹ nhõm hơn rất nhiều, liên mồm phụ họa nói: "Cậu nói đúng, mỗi một gia đình ở nông thôn hay mỗi một đơn vị ở thành phố đều có tường bao cả, kẻ trộm nhiều quá mà."
Cậu ra hiệu cho tôi ngồi xuống, sau đó nói với tôi rất nhiều điều về lý tưởng và niềm tin. Cậu bảo giới trẻ bây giờ có vấn đề lớn, suốt ngày chỉ nghĩ đến chuyện "tôi muốn thế này thế nọ", chưa bao giờ nghĩ đến người khác ra sao, đất nước ra sao, bách tính ra sao. Tự do hóa tư sản rốt cuộc chính là muốn mỗi người đều trở thành kẻ ích kỷ cực đoan và kẻ vô chính phủ. Vào buổi tối mùa đông này, tôi đầu óc quay cuồng hùa theo cậu vạch trần thối tha của trào lưu tự do hóa làm hại nước hại dân, nhân hơi men tôi nói: "Con thưa rõ ràng giới hạn với tự do hóa."
Nhà của cậu rất giống một xưởng thủ công bừa bãi ở quê, dăm chiếc tủ kiểu cũ gia công thô kệch tựa vào góc tường, vại gạo, hũ dưa muối và mấy chiếc ghế gỗ chen chúc nhau trong phòng khách kiêm phòng ăn rộng chưa tới mười mấy mét vuông. Trên tường treo từng chuỗi ớt đỏ khô và dăm tờ lịch treo tường in hình Lưu Hiểu Khánh, Dương Tại Bảo. Dưới ánh đèn mờ ảo phảng phất mùi chua ủng của dưa muối, một chiếc vô tuyến đen trắng 17 inch đã khiến sông Hoàng Hàng, Trường Thành, Tử Cấm Thành, thần miếu Apollo, tượng Nữ thần Tự do đều trở thành rạch ròi đen trắng, nước lửa bất dung.
Mợ đã mất việc ở công ty thu gom phế liệu, mỗi tháng chỉ nhận bốn mươi đồng sinh hoạt phí, em gái vẫn đang học tiểu học, cả nhà chỉ trông chờ vào đồng lương của một mình cậu. Hồi đó tôi ngây thơ nghĩ rằng, có phải vì nhà cậu quá túng thiếu, nên mới được bầu là "Đảng viên ưu tú toàn quốc"?
Nói chuyện phản tự do hóa xong, tôi mở lời với cậu về chuyện khó khăn vay tiền. Cậu trầm ngâm một lát, rồi bảo: "Dạo này công việc của cậu bận quá, đợi qua mấy ngày nay đã, cậu sẽ giúp con đi vay."
Tôi đem ý định bán lúa mạch cho nhà máy rượu huyện và phê duyệt năm mươi tấn xi măng theo chỉ tiêu kể cho cậu nghe, cậu bỗng trừng mắt nhìn tôi đầy cảnh giác, dùng giọng điệu nghiêm khắc như thẩm vấn mà mắng tôi: "Đứa nào bày cho con cái chủ ý tồi tệ này? Ai cho con cái gan tày đình dám đến tìm ta?"
Dưới sức ép từ ánh mắt sắc bén của cậu, tôi đành phải bán đứng Cảnh Vĩ Cường. Cậu lại đập bàn: "Cái đồ khốn Cảnh Thiên Long này mà về hưu muộn thêm hai năm nữa, ta sẽ bắt nửa đời sau của hắn năm nào cũng ngồi trong tù xem Gala mừng xuân. Hàng năm xe đạp, ti vi màu nằm trong chỉ tiêu của Cục Thương mại đều bị con trai hắn hốt sạch, cái đồ gì không biết!" Cậu tức giận mắng rủa.
Tôi biết cậu là một người chính phái, đàng hoàng, tôi chưa từng nghĩ muốn dựa dẫm hào quang của cậu, nhưng lần này là cứu mạng mẹ tôi, tôi đành phải cắn răng liều mạng giãy giụa lần cuối. Nhìn thấy cậu lấy thuốc lá ra, tôi lập tức tiến lên quẹt diêm châm lửa cho cậu: "Cậu ơi, thật sự không vay được tiền nữa rồi, chỉ có cậu mới cứu được mạng mẹ con thôi, cậu mở một lần cửa sau đi!"
Cậu thô bạo đẩy tay châm lửa của tôi ra: "Không được, một lần cũng không!"
Ngọn lửa trên que diêm và hy vọng trong lòng tôi đồng thời tắt lịm trên đôi bàn tay lạnh ngắt của tôi.
Mợ là một người thô lỗ bộc trực, mợ giật lấy điếu thuốc trong tay cậu ném mạnh xuống đất: "Anh không sắp xếp công việc cho tôi thì thôi, đến chị ruột mà anh cũng thấy chết không cứu, anh còn tính là con người nữa không?"
Cậu bị lời nói và hành động quá khích của mợ trấn trụ, cậu ngồi thừ trên chiếc ghế sofa da thật hàng nhái lúc lâu không biết phải làm sao, mắt dán chặt vào chiếc vô tuyến đen trắng, trên đó một người đàn ông ngoại quốc đang vui vẻ cạo râu, là một quảng cáo dao cạo râu "Gillette".
Mợ nhân cơ hội trút hết ngọn lửa giận trong lòng ra: "Anh là Đảng viên ưu tú thì ghê gớm lắm chắc, trên vô tuyến Nhiếp Vinh Trên còn cứu cả con gái giặc Nhật kìa, người ta quan chức nhỏ hơn anh, người ta Nhiếp Vinh Trên không phải Đảng viên ưu tú chắc?"
Cậu cuối cùng cũng ngắt lời mợ: "Em đang nói cái kiểu gì thế này, sao lại có thể so sánh lung tung thế?"
Mợ không chịu buông tha nói: "Chị anh đi ăn mày nuôi anh ăn học đọc sách, gánh gạo đi mấy chục dặm mang đến trường, bản thân kiệt sức ngã gục ngay cổng trường, năm sáu mươi nếu không có chị anh, anh có sống được đến ngày hôm nay không? Làm đến chức phó huyện trưởng rồi là quên cả trời đất luôn phải không, nếu anh mà làm hoàng đế, chẳng phải sẽ đem tất cả họ hàng nghèo khó giết sạch không còn một mống sao."
Giọng cậu dịu xuống, nhìn tôi ngẩn ngơ như gà gỗ, rồi lại nhìn mợ mặt đầy tức giận, cậu bảo: "Các người nên hiểu cho tôi, trên đời này không có bức tường nào là gió không lọt qua được, mắt của nhân dân là sáng như tuyết, mở một cửa sau hay mở một vạn cửa sau, bản chất đều giống nhau cả."
Một lúc sau, cậu bỗng lại bảo mợ: "Em cũng đừng có ra vẻ ta đây có tình có nghĩa nữa, cứ làm như người khác đều là loài máu lạnh vô tình lục thân bất nhận vậy. Tiền trong nhà không được giữ lại một xu, còn cả hai nghìn ba trăm đồng chuẩn bị mua ti vi màu nữa, mang hết ra đây cho tôi. Tôi thấy xem ti vi đen trắng rất tốt."
Mợ tức thì chết trân, mợ như ăn phải một gậy trời giáng, thẫn thờ bước vào gian trong.
Lúc này, cô em gái đang làm bài tập ở gian trong chạy ra, nó đưa cho tôi một quả táo: "Anh họ, anh đừng giận dỗi với bố em, bố vốn là một người không nói lý lẽ mà."
Cậu xua tay với em gái: "Vào nhà làm bài tập đi!"
Em gái bĩu môi đi vào nhà, đóng sầm cửa phòng lại. Mợ đưa hai nghìn sáu trăm đồng cho cậu: "Gom góp mười mấy năm nay, toàn bộ gia đương đều ở đây cả rồi."
Cậu đếm tiền xong thì nhét vào tay tôi, tôi lại dồn đống tiền lên bàn trà của cậu, rồi dùng giọng điệu tuyệt tình nói với cậu: "Chút tiền này, không cứu được mạng mẹ con. Con vẫn còn máu để bán, con sẽ không bao giờ cầu xin cậu nữa." Nói xong tôi xoay người lao thẳng vào màn đêm mịt mùng ngoài cửa, tôi nghe thấy tiếng cậu gọi tên cúng cơm của mình ở phía sau "Đại Bảo".
Cảnh Vĩ Cường nghe nói cậu tôi kiên quyết từ chối chuyện này, bấy giờ mới an ủi tôi: "Chuyện này không thành, người đáng thương nhất không phải cậu, mà là cậu của cậu. Tôi dám cá, chẳng mấy năm nữa đâu, cậu của cậu sẽ bị thời đại này đào thải thôi. Nói thật nhé, mấy năm nay làm ăn, tôi gặp nhiều người làm quan to hơn cậu của cậu lắm. Làm quan mà ai cũng thành Triệu Dục Lục cả, thì học theo ai đây?"
Cảnh Vĩ Cường lại cho tôi một trăm đồng tiền lộ phí, bảo tôi mau chóng đến Nam Kinh chăm sóc mẹ, đợi dạo nữa nguồn vốn xoay vòng, anh ấy sẽ mang tiền qua cho tôi. Lời nói của Cảnh Vĩ Cường khiến trong lòng lạnh ngắt của tôi dâng lên từng luồng hơi ấm.
Tôi ôm theo hơn năm nghìn đồng vay mượn khắp nơi vội vã đến Nam Kinh, tôi hỏi bác sĩ xem có thể phẫu thuật trước cho mẹ tôi được không, số tiền còn lại tôi sẽ tiếp tục đi vay, máu của tôi là nhóm O, ở Nam Kinh có thể bán được giá tốt, nhất định sẽ trả được tiền. Vị bác sĩ đeo kính tỏ vẻ vô cùng đồng cảm với hoàn cảnh của tôi, nhưng ông ấy nói, bệnh viện từ trước đến nay không bao giờ cho thiếu nợ, chuyện này khó giải quyết.
Hơn một tháng không gặp mẹ, mẹ đã biết sự thật về bệnh tình, sắc mặt bà héo mòn, thần sắc tuyệt vọng, nhưng vừa nhìn thấy tôi liền gượng nở nụ cười, lần này đến lượt bà lừa tôi: "Khối u trong dạ dày của mẹ tiêu hết rồi, bây giờ không đau nữa, chúng ta về nhà thôi!" Tôi bảo: "Mẹ ơi, cậu nói ít hôm nữa sẽ đến thăm mẹ, cậu sẽ mang tiền đến, chúng ta đợi mẹ phẫu thuật xong rồi cùng về nhà."
Tôi vừa đi van xin bệnh viện, vừa đi bán máu. Một tuần sau vào một buổi sáng, mẹ tôi cuối cùng cũng nhẹ nhàng ra đi, bà trút hơi thở cuối cùng vào ban đêm, không để lại lấy một câu. Bố ở bệnh viện canh chừng, tôi ngủ ở căn hầm trú ẩn gần đó, lúc tôi chạy đến bệnh viện, mẹ đã được đưa vào nhà tang lễ. Tôi nhìn thấy trên bầu trời bệnh viện ngày hôm đó có một đàn chim bồ câu bay qua, tôi tưởng tượng mẹ cùng bay đi với chúng, khi tiếng còi bồ câu ngày một xa dần cho đến khi biến mất tăm mất tích, tôi mới chợt cảm thấy mẹ thật sự không còn nữa, tôi không kìm được nước mắt tuôn trào, khóc nghẹn ngào. Buổi chiều ngày mẹ mất, cậu nhờ người đi công tác ở Nam Kinh mang hai nghìn sáu trăm đồng đến bệnh viện. Tôi lau khô nước mắt, ném tiền xuống đất: "Xin hãy trả lại tiền cho Phó huyện trưởng Trịnh, bảo ngài ấy mua một chiếc ti vi màu, mà ngắm cho kỹ cái thói đời tuyệt tình vô nghĩa này."
Tôi ôm hũ tro cốt của mẹ, đỡ người bố liêu xiêu trở về quê nhà. Căn nhà trống hoác, những món đồ gỗ cũ nát tả tơi phủ đầy bụi bặm, mạng nhện chăng kín trên khung cửa. Một con chuột đang ngồi xổm trong cối lúa chăm chú ăn hạt, nó cả gan dám trừng trừng nhìn hũ tro cốt của mẹ tôi, cứ như thể chúng tôi đã xâm phạm lãnh thổ của nó vậy. Tôi xua đuổi con chuột, quét dọn sạch sẽ nhà cửa rồi mới ôm hũ tro cốt của mẹ vào gian giữa, sau đó tôi đặt mẹ lên chiếc tủ thờ ở chính giữa gian giữa, mẹ không có di ảnh, bà sống trong lòng tôi.
Mẹ được chôn cất bên cạnh mộ bà ngoại. Ngày an táng, cậu đã đến, cậu ôm hũ tro cốt của mẹ vào lòng, nước mắt đầm đìa. Tôi không thèm đếm xỉa gì đến cậu, tôi cảm thấy nước mắt của cậu vô cùng giả tạo, chẳng có lấy một chút tình cảm bi thương chân thật, cũng chẳng có sự hối hận thật lòng. Tôi cảm thấy cậu không thuộc về người thân của chúng ta, cậu là một con rối chính trị.
Cậu cùng chúng tôi ra đến bãi tha ma, tất cả mọi người đều quỳ sụp xuống bên nấm mồ. Tục lệ ở chỗ chúng tôi là "người chết là lớn", bất kể là bề trên, vai vế ngang hàng hay bề dưới đều phải lạy ba lạy chín cúi trước mộ người đã khuất, thế nhưng chỉ duy nhất một mình cậu là ngoại lệ. Trong đám đông đen nghịt đang quỳ rạp xuống một khoảng lớn, cậu lại đứng thẳng, cậu chỉ vái ba vái trước nấm mồ của mẹ tôi. Tôi hiểu cậu như một dạng vật chất.
Hôm đó gió rất lớn, những đám mây đen trên bầu trời cuồn cuộn như những bông vải rách, tro tàn của giấy tiền đốt cháy bay lả tả ngập trời trong gió. An táng mẹ xong, trời liền bắt đầu đổ tuyết. Trận tuyết lớn vào mùa đông năm 1988 kéo dài hơn một tháng trời, mẹ tôi dưới suối vàng vô cùng lạnh lẽo, mà tôi thì chẳng có cách nào cả.
Vào ngày an táng mẹ, cậu lén nhét vào tay bố một nghìn đồng. Tôi định mang tiền trả lại, bố bảo tôi: "Cậu của con cũng có nỗi khó xử riêng của nó. Một đứa trẻ nghèo ở quê mà làm đến chức phó huyện trưởng, thứ dựa vào chính là làm người cẩn trọng, làm việc dè dặt. Bệnh của mẹ con là bệnh nan y, chúng ta đã thẹn với mẹ con rồi."
Rất nhiều năm nay, tôi vẫn luôn nghi ngờ đêm hôm đó mẹ tôi chết do tự tử, bà đã cảm nhận được cậu tôi vốn không hề thật lòng giúp đỡ, cho nên cũng không góp đủ tiền phẫu thuật, bà đã uống thuốc ngủ tự tử trong sự tuyệt vọng cùng cực. Điểm này sau này tôi từng đến thỉnh giáo chi tiết một danh y ở thành phố tỉnh lỵ, ông ấy bảo hoàn toàn có khả năng đó. Thế nên, bao năm nay, tôi cho rằng cái chết của mẹ chính là do sự thấy chết không cứu của cậu, nhận định này vô cùng ngoan cố trở thành một thứ ý chí của tôi, cho nên tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho cậu, bất kể ban đầu cậu xuất phát từ động cơ cao cả hay lý tưởng vĩ đại nào đi chăng nữa, tôi chỉ có thể hiểu sự việc này từ bản chất của sinh mệnh và tình thân, điều này khiến tôi chìm đắm trong sự huyễn diệt tinh thần, mất ngủ liên miên suốt mười mấy năm trời.
Sau Tết năm đó, bố giấu tôi đến huyện lỵ tìm cậu một chuyến, bố mang theo năm cân đậu phộng rang và ba cân bánh nếp, trước tiên là xin lỗi cậu vì sự thất lễ của tôi, sau đó cầu xin cậu đổi cho tôi một công việc có thể nhận lương. Bố bảo nhà vì mẹ chữa bệnh và lo tang ma mà nợ ngập đầu, nhà máy thuốc trừ sâu thì không lấy được một xu nào, thật sự là đường cùng rồi. Cậu ngồi trên chiếc ghế sofa da thật hàng nhái ấy nói với bố tôi rằng: "Không phải là con không muốn giúp đỡ cái ơn này, mà là con không thể giúp, trong toàn huyện có bao nhiêu gia đình khó khăn, công nghiệp hiệu quả kém, nếu có quyền có hậu thuẫn mà đều được giải quyết hết thì nhân dân sẽ nhìn chúng ta thế nào. Một cán bộ lãnh đạo mà mất đi lòng dân, thì quyền lực chẳng còn chút ý nghĩa nào nữa." Một tràng đạo lý lớn của cậu khiến bố nông dân của tôi á khẩu không trả lời được.
Sau khi tôi biết chuyện này, đã cãi nhau một trận tơi bời với bố.
Cãi nhau xong, tôi bèn xách một bọc hành lý đến thành phố tỉnh lỵ mưu sinh, thoắt cái đã mười hai năm trôi qua.
Từ đó về sau tôi chưa từng gặp lại cậu, cũng không muốn gặp lại ông ấy nữa.
Cảnh Vĩ Cường đúng là một nhà tiên tri, cậu tôi là Trịnh Thiên Lương ngồi lì ở vị trí phó huyện trưởng suốt mười hai năm, dậm chân tại chỗ, giữa chừng còn đến khu thí điểm kinh tế Vương Kiều Tập nơi giáp ranh ba tỉnh làm chủ nhiệm ủy ban quản lý cấp phó huyện hai năm, điều này đủ để chứng minh ông ta quả thật đã bị thời đại đào thải rồi. Nhưng điều khiến tôi không ngờ tới là cậu tôi lại ngay cả tính mạng cũng bị đào thải, điều này khiến tôi vô cùng khó hiểu, sao ông ta lại có thể dính líu đến tham nhũng được chứ, số tiền nhận hối lộ, vòi tiền hối lộ còn nhiều hơn cả Hồ Trường Thanh hơn một triệu, lại còn có bảy, tám cô nhân tình.
Tôi không tin.
Thế là, tôi quyết định trở về quê nhà huyện Hợp An để điều tra tìm hiểu sự thật của sự việc. Xem có thể lấy cậu tôi làm chất liệu để viết một cuốn văn học ký sự dài, kiếm chút tiền mua cơm qua ngày không.
Lúc xe buýt đường dài chạy vào huyện lỵ Hợp An, đã là tầm trưa.
Huyện lỵ đã trở nên rộng rãi hơn, các tòa nhà mọc san sát dưới ánh nắng mùa thu, mặt tường nhà dán đầy gạch men và mấy bức tranh tuyên truyền quảng cáo, hai bên con đường rộng rãi trồng những loài hoa quý hiếm như hoa nhài tây và hoa tulip một cách thiếu thực tế. Mấy con gà, con chó mang đặc trưng huyện lỵ cùng mấy con lừa kéo xe vào thành phố tung tăng chạy loạn trong đám hoa cỏ quý hiếm một cách rất thản nhiên. Cảm giác này khá giống một kẻ thò lò mặc bộ đồ thời trang trên sàn diễn T-pose với vẻ tự phụ đầy hất hàm đi bước "một". Tiếng nói và hình bóng của cậu tôi đã hoàn toàn biến khỏi huyện lỵ phồn hoa mà khoa trương này, nhà máy thuốc trừ sâu cũng sớm bị mọi người lãng quên, có lẽ vẫn còn chút mùi thuốc trừ sâu vương vวt được lưu giữ ở một trang nào đó trong huyện chí để hậu thế hoài niệm, giống như việc mọi người cần tưởng nhớ một người tổ tiên đã khuất. Tám năm trước tôi trở về trả khoản nợ chữa bệnh cho mẹ, lão Tạ chết vì tai nạn xe, bác Dương lao công trông cổng về quê đã bặt vô âm tín, công ty của Cảnh Vĩ Cường cũng đã chuyển dời lên thành phố, chẳng thấy được mấy gương mặt quen thuộc. Kể từ đó, mỗi lần về quê thăm bố, tôi đều ngồi xe đến huyện lỵ thì lập tức chuyển xe về quê. Giữa tôi và huyện lỵ này giống như hai kẻ thù ghét lẫn nhau, ngoại trừ tình cảm quê hương ra thì trên thực tế đã chẳng còn bất kỳ mối liên hệ nào nữa.
Bao năm nay, tôi chẳng làm nên trò trống gì, cho nên cũng chưa từng có trải nghiệm vinh quy bái tổ. Mỗi lần về quê, tôi đều có cảm giác bứt rứt giống như kẻ trộm lúc đêm hôm khuya khoắt lẻn về nhà lấy một hai chiếc áo bông giữ ấm vậy.
Cảm giác này hôm nay lại càng trầm trọng hơn. Sự tự tin của tôi trong việc tìm hiểu toàn bộ chân tướng chuyện Trịnh Thiên Lương bị bắn bỏ xử bắn tụt dốc nghiêm trọng. Thế là, tôi quyết định quay về quê nhà thăm bố già trước, tìm hiểu một vài trải nghiệm của cậu ở quê.
Bản tin dự báo thời tiết nói một đợt không khí lạnh từ phương Bắc tràn xuống Giang Hoài sớm hơn dự kiến, tiếng gió thổi mỗi lúc một gấp gáp, những chiếc lá dương lá to hai bên đường liên huyện rào rạt rơi rụng trong gió, lúa nước trên đồng ruộng đã gặt hái sạch sẽ, thế nên sắc màu khô héo tràn ngập tầm mắt kéo dài đến tận chân trời.
Một kẻ nếm đủ mùi thất bại trong cuộc sống thì không thể nào nhảy múa hoan ca trên những tờ báo hay ti vi ca vũ thái bình thịnh thế được, khi bản thân còn chẳng biết bữa tối ở đâu, anh ta chắc chắn sẽ cự tuyệt tất cả phấn son và son môi. Mùa thu trong mắt tôi thảm bại hoàn toàn.
Tấm lưng của bố đã còng hẳn đi, ông còng lưng ngồi một mình ngoài sân sưởi nắng, ánh nắng mùa thu rọi xuống gương mặt héo mòn của bố, phản chiếu ra một vẻ tiêu điều sống sót sau tai kiếp. Sau khi mẹ mất, tinh thần và thể xác của bố đều suy sụp, hằng năm trông cậy vào chút tiền tôi gửi về mua dầu muối và thuốc lá điếu kém chất lượng. Tôi nhìn người bố thoi thóp ngồi bất động trên chiếc ghế gỗ què chân, nheo mắt với vẻ mặt tê dại, trong lòng như bị một nhát dao đâm phập vào, tôi nghe thấy tiếng máu tươi chảy róc rách trong tim mình. Tôi mua cho bố một chiếc áo bông mặc mùa đông và một cây thuốc lá "Thiên Đường", bố chậm chạp chìa bàn tay nổi gân xanh ngắt ra đón lấy, không có lấy một chút phấn khích, dường như ông đã mất hết hứng thú với mọi thứ trên thế giới này rồi. Tôi kể cho ông nghe chuyện cậu bị xử bắn, ông dường như dửng dưng hệt như nghe thấy chuyện một con kiến bị bắn chết từ hơn một trăm năm trước vậy. Tôi hỏi ông về hoàn cảnh của cậu ở quê ngày trước, bố giơ bàn tay thô ráp quẹt một bãi nước mũi, sau đó dùng giọng khàn đặc vô lực nói: "Cậu con hai mươi sáu năm trước là một bác sĩ thú y trong thôn."
Lâm Phúc Hải nhà bên thấy tôi về liền sang chơi nhà. Đây là một người đàn ông hơn năm mươi tuổi tóc hoa râm, ăn nói bạt mạng. Hắn ta biết tôi muốn tìm hiểu về Trịnh Thiên Lương, liền cao hứng khoa chân múa tay kể suốt một buổi chiều và một buổi tối. Hắn hút hết điếu này đến điếu khác điếu thuốc do tôi đưa, trong suốt quá trình kể chuyện đã nhắc lại rất nhiều lần: "Cậu của cháu mà làm bác sĩ thú y ở quê, chắc chắn từ lâu đã cất được nhà lầu rồi." Hắn ta vô cùng tự hào nói, "Ấy chà, cái tay nghề bác sĩ thú y của Trịnh Thiên Lương đó đỉnh lắm đấy, lợn dịch gà dịch gì mà vào tay hắn tiêm hai mũi là nhảy nhót tưng bừng ngay, hoạn dái bò lại càng là tuyệt kỹ số một. Hắn ta cứ lặng lẽ đứng ra phía mông con bò, bất thung bất thình thò tay vào háng con bò, hai hòn dái bò liền rơi tọt vào lòng bàn tay, siêu thật chứ lỵ. Hòn dái bò cứ nhảy tưng tưng, nóng hổi, xào lên nhắm rượu thì tuyệt cú mèo!"
Lâm Phúc Hải bảo năm xưa hắn ta và cậu tôi từng kết nghĩa huynh đệ, quan hệ hai người tốt lắm, chẳng qua là sau khi cậu làm quan rồi, thì mới thưa dần sự qua lại. Lâm Phúc Hải nói: "Nhưng mà, mỗi lần tôi ra huyện lỵ, hễ gặp hắn, nhất định hắn sẽ mời tôi đến nhà uống rượu đấy. Trịnh Thiên Lương dẫu sao cũng là một người có quy củ, từ nhỏ đã rất đàng hoàng, tôi tuyệt đối không tin hắn là tham quan đâu. Chắc chắn là có kẻ hãm hại hắn. Nói thật nhé, năm xưa Lưu Thiếu Chi làm Chủ tịch nước mà còn có kẻ hãm hại, hãm hại một tên phó huyện trưởng thì có khó khăn gì đâu. Hơn hai mươi năm trước tôi đã khuyên hắn, bảo hắn đừng làm quan, hoạn dái bò là một tay nghề giỏi cơ mà, hắn không nghe, thế chẳng phải là mất luôn cả tính mạng rồi sao." Lâm Phúc Hải thở dài thườn thượt, làn khói thuốc vỡ tan trên gương mặt hắn.
Logic kể chuyện dài dòng của Lâm Phúc Hải tương đối hỗn loạn, hơn nữa còn xen lẫn rất nhiều tình cảm cá nhân, để câu chuyện được trôi chảy, tôi quyết định dùng cách kể chuyện của chính mình để tái hiện một cách khách quan trải nghiệm cuộc sống của cậu ở quê.
Đầu tiên hãy nói về ngôi chùa Huyền Huệ ở Phục Ngưu Ngõa Cương phía tây thôn.
Chùa Huyền Huệ được khởi xây vào năm Thiên Bảo thứ chín đời Đường, theo ghi chép trong 《Hợp An huyện chí》, người tu bổ ngôi chùa này là một vị huyện lệnh Hợp An đời Đường Thiên Bảo tên là Chu Thuần Pháp. Huyện lệnh họ Chu vì lợi dụng chức quyền buôn lậu muối ăn bị bại lộ nên bị triều đình bãi chức dân thường. Huyện lệnh Chu sau khi làm thứ dân đã lợi dụng quan hệ công khai làm ăn buôn bán muối, còn kinh doanh cả hiệu cầm đồ, trà, đồ tre ở huyện lỵ, thu vén gia tài vạn quan, cưới bốn bà vợ lẽ, năm năm sau lại bỏ tiền mua một chức châu quan, quay trở lại chính đàn tất nhiên là đắc ý xuân phong. Huyện chí ghi rằng: "Bỗng một hôm, Thuần Pháp say mèm, say giấc nồng trong lầu Tàng Xuân, mơ màng rèm u, thấy giai nhân như mây, nhưng không có thân xác da thịt, hình bóng mờ ảo tựa ánh sáng phù du. Tức thì rèm đỏ thưa vén, thấy một vị lão giả áo rách quần manh, dắt tay bay lượn mây mù, giang sơn muôn dặm, chỉ điểm đường mê, rằng, 'Trời dài đất lâu lâu làm nam thanh nữ lịch, vật đổi sao dời dời nghe chuông sớm mõ chiều'. Thuần Pháp giật mình tỉnh giấc, chợt ngộ ra, bèn dâng hiến toàn bộ gia sản cho người nghèo, giữ lại một ít chọn nơi cách thành phía đông ba mươi dặm Phục Ngưu Ngõa Cương, xây chùa Huyền Huệ lập đàn tụng kinh bái Phật, hơn bốn mươi năm không bước ra cửa chùa, viên tịch không bệnh mà qua, hỏa táng thu được xá lợi hơn trăm hai mươi hạt, hiếm thấy trên đời."
Chùa Huyền Huệ từng hai lần bị thiêu rụi bởi chiến loạn và hỏa tai vào đời Minh Cảnh Thái và đời Thanh Đạo Quang. Khi Hồng Tú Tràn Thiên quân đi ngang qua Hợp An, Thiên vương đã đóng quân ở chùa Huyền Huệ hơn một tháng. Năm xưa từng có chín mươi chín gian rưỡi miếu vũ sừng sững trên gò Phục Ngưu cây cối xanh tươi, đến khi đại quân giải phóng làm sở chỉ huy vượt sông, chùa Huyền Huệ chỉ còn lại hai mươi bốn gian. Thời kỳ Cách mạng văn hóa, đội sản xuất đã dỡ gạch ngói xà gỗ của chùa để xây chuồng lợn, dưới sự bảo vệ liều chết của mấy vị di lão di thiếu thời cũ như tộc công Trịnh Cửu gia, chùa Huyền Huệ cũng chỉ còn lại bốn gian chánh điện rách nát, dột trước dột sau, sắp sửa sụp đổ. Cặp câu đối thiên cổ "Trời dài đất lâu lâu làm nam thanh nữ lịch, vật đổi sao dời dời nghe chuông sớm mõ chiều" cũng bặt vô âm tín.
Sở dĩ tôi phải tốn nhiều bút mực để kể về chùa Huyền Huệ như vậy, là bởi vì chùa Huyền Huệ từ ngàn đời nay là đàn tế để người trong thôn cầu phúc tránh họa, là biểu tượng cho sự kéo dài của sinh mệnh, là ý chí thần thánh không thể xâm phạm ngầm chi phối lịch sử và quyết định vận mệnh. Cậu tôi chính là được sinh ra ở chùa Huyền Huệ, sau khi cậu bị xử bắn, rất nhiều người cao tuổi trong thôn cho rằng việc này có liên quan đến việc nhiều năm qua cậu không ủng hộ không cấp kinh phí trùng tu chùa. Lâm Phúc Hải cũng cơ bản đồng ý quan điểm này: "Quả thật, chết tôi cũng không tin cậu của cháu là tội phạm, có lẽ đây chính là báo ứng vậy!"
Cậu tôi sinh vào tháng 3 năm 1949, tối hôm đó thời tiết vô cùng lạnh, ngoại vì khó sinh mà đau quằn quại ở nhà suốt hai ngày hai đêm, sáu bà mụ ở mười tám thôn bốn tổng đều nói lớn nhỏ đều không giữ được nữa rồi, đây là cái thai nghiệt chướng, mau chuẩn bị hậu sự đi. Ngoại công lúc đó ba mươi tám tuổi khóc lóc suốt đêm mời người đến xẻ gỗ đóng quan tài. Bố của Lâm Phúc Hải bảo trên gò Phục Ngưu ở chùa Huyền Huệ vừa có một người phụ nữ tránh nạn ở nơi khác đến hình như biết đỡ đẻ, lại còn có cả gạc và thuốc đỏ nữa. Người trong thôn hợp sức khiêng ngoại tôi đến chùa Huyền Huệ trong đêm tối trời tối đất. Người phụ nữ trẻ tuổi trốn nạn da thịt mịn màng, bi thương mà kiều diễm, cô ta nhìn ngoại tôi, hỏi ngoại công: "Giữ người lớn, hay giữ trẻ con?" Ngoại công quỳ sụp xuống trước mặt người phụ nữ ngoại xứ, khóc lóc nói: "Tôi muốn cả hai!" Người phụ nữ ngoại xứ trẻ tuổi khó xử nói: "Đại ca, nếu giữ cả hai, có lẽ một người cũng không giữ được đâu." Ngoại công giống như kiến bò miệng chảo, lo lắng đến mức ngất xỉu tại chỗ. Người tộc họ họ Trịnh họp suốt đêm, sau khi toàn thể hội viên gia tộc nghiên cứu quyết định, "Giữ đứa trẻ!" Bởi vì ngoại công chỉ có mỗi một người mẹ tôi là con gái, "Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại", nếu sinh được con trai thì hương khói nhà ngoại công coi như được nối dõi. Người phụ nữ ngoại xứ liền bảo người khiêng ngoại tôi vào thiền phòng, người tộc họ họ Trịnh đều quỳ rạp trong chánh điện hướng về tượng Quan Thế B âm đốt hương niệm kinh. Lúc gà gáy canh ba, trong thiền phòng truyền đến tiếng khóc ré chói tai của trẻ sơ sinh, mặt trời mọc theo tiếng khóc của cậu tôi, ngoại tôi năm mươi chín tuổi trút giọt máu cuối cùng theo tiếng khóc của cậu, bà mệt mỏi nhợt nhạt khép hờ đôi mắt, sắc mặt trắng bệch như tờ giấy.
Vào ngày đó của tháng 3 năm 1949, tiếng pháo ngoài ngôi chùa vang dội tận mây xanh, khói hương chùa Huyền Huệ nghi ngút, nhà ngoại công bày tiệc lớn, tiệc liên hoan kéo dài suốt ba ngày, người trong tộc đều nói Bồ Tát hiển linh rồi. Thế nhưng ngoại tôi lại được chôn cất lén lút vào một đêm không dám gặp ai ngay trong ngày hôm đó, trên khung cửa còn cắm thêm ngải cứu khô, sợ con ma chết trắc ngoại tôi lại quay về nhà, khắc chết số mệnh của cậu. Tộc công Trịnh Cửu gia cùng với người đi theo mang theo hương khói gánh đầu lợn và bánh nếp đến chùa Huyền Huệ trả nguyện, đồng thời mời người phụ nữ ngoại xứ đến nhà ngoại công uống rượu mừng. Trên gương mặt thanh tú của người phụ nữ ngoại xứ trẻ tuổi vặn vẹo sự phẫn nộ tột cùng, cô ta đứng trước mặt tượng Quan Thế B âm mắng nhiếc Trịnh Cửu gia: "Mẹ của đứa trẻ đã chết rồi mà các người còn có tâm trạng bày tiệc linh đình thế này, còn chút tính người nào không?" Trịnh Cửu gia tất nhiên chẳng biết tính người là thứ quái gì, bèn vứt lễ vật lại rồi quay về tiếp tục uống rượu.
Người phụ nữ ngoại xứ trẻ tuổi đứng trong cơn gió tháng Ba tuôn rơi nước mắt, Bồ Tát Quan Thế B âm chắp tay từ bi hỉ xả trên mặt lan tỏa nụ cười dịu dàng.
Người phụ nữ trẻ tuổi ấy lúc đại quân vượt sông đã ở lại chùa Huyền Huệ giúp quân giải phóng cứu chữa thương binh. Sau khi vượt sông thành công, một vị thủ trưởng của đại quân giải phóng muốn người phụ nữ ngoại xứ đó đi cùng bộ đội, người phụ nữ ngoại xứ bảo, cô ta phải về Thượng Hải tìm người anh trai mắc bệnh phổi. Cô ta là người Thượng Hải.
Năm 1950 trấn phản, người phụ nữ ngoại xứ trẻ tuổi và xinh đẹp ấy bị mấy người thuộc ban quản lý quân sự đội mũ quân nhân đeo súng dài từ huyện đến trói thừng lại, Trịnh Cửu gia phát động người trong thôn đến chùa Huyền Huệ liều mạng với người của ban quân quản, quyết liệt không cho họ đưa người phụ nữ ngoại xứ đi. Một tên nam nhân tráng kiện của ban quân quản xách khẩu súng Rô-bốt chĩa lên trời bắn hai phát, sau đó lại dùng nòng súng còn đang bốc khói hất chiếc mũ lên, lớn tiếng nói: "Người phụ nữ này là quân y của Quốc Dân Đảng, là đặc vụ nằm vùng, là kẻ thù không đội trời chung phá hoại chính quyền cách mạng non trẻ."
Bà con dân làng bị khẩu súng Rô-bốt trấn áp, không còn ai dám xông lên nữa. Cậu tôi mới tròn một tuổi được bọc trong ngực ngoại công trông giống như một con vịt, cậu bị tiếng súng dọa cho khóc thét lên.
Người phụ nữ ngoại xứ bị trói giò trói cánh lôi đi. Theo lời khai, cô ta được Quốc Dân Đảng trưng dụng tòng quân từ trường y tá Tĩnh An Thượng Hải. Bởi vì cô ta sợ chiến tranh, nên đã làm kẻ đào ngũ của Quốc Dân Đảng, trốn vào chùa Huyền Huệ, cô ta muốn đợi thời thái bình hơn một chút sẽ về Thượng Hải tìm anh trai. Cha mẹ đều đã qua đời, anh trai mắc bệnh lao phổi, không có ai chăm sóc anh trai. Những lời khai này chẳng có tác dụng gì cả, ban quân quản nhanh chóng xử bắn cô ta ở bên hồ Hồng Thảo huyện lỵ. Phát súng đầu tiên trúng ngực, cô ta ngã gục bên bãi sông co giật một hồi lâu, sau đó tay súng lại bước đến gần nhắm vào đầu bồi thêm một phát, mới làm vỡ nát hộp sọ, rỉ ra một vũng óc nhão nhoét. Người phụ nữ ấy tên là Giang Khả Hinh, năm đó hai mươi mốt tuổi.
Đoạn lịch sử này đối với cuộc đời của cậu rõ ràng là vô cùng quan trọng. Trước tiên, sinh mạng của cậu được đổi lấy bằng cái chết của ngoại, sinh mạng của cậu đồng thời lại gắn kết chặt chẽ với chùa Huyền Huệ và một người phụ nữ khác trong chùa. Mối liên hệ này sẽ mang lại ý nghĩa quan trọng trong nửa sau của cuốn tiểu thuyết này.
Năm 1960, cậu tôi Trịnh Thiên Lương mười một tuổi vào học cấp hai ở trấn, trong thôn chết đói rất nhiều người, ngoại tôi cũng ngã nhào bên lò bếp nhà ăn của thôn vào một buổi chiều mùa hè, từ đó không bao giờ gượng dậy được nữa. Trong thôn ngày nào cũng có người chết, những ngôi mộ mới mọc lên san sát trên mảnh đất hoang tàn trước thôn. Vỏ cây bị gặm sạch, chuột và chim sẻ cũng bị ăn sạch, mẹ tôi từng kể với tôi rằng, chim sẻ và chuột từng cứu mạng nhà chúng ta, sau đó bà mãi không chịu hưởng ứng lời hiệu triệu trừ "tứ hại" của chính phủ, mặc cho chim sẻ và chuột ăn lương thực và đậu nัก của nhà mình. Lúc đó mẹ đã gả cho bố tôi, sau khi ngoại mất, mẹ thường giăng bẫy bắt chuột và chim sẻ nhốt vào lồng, rồi dùng muối ướp mặn, sau đó nướng chín mang đến trường cấp hai trấn cách đó hai mươi dặm cho cậu ăn. Mùa đông thực sự không bắt được chuột và chim sẻ nữa, mẹ liền sang Giang Tô đi ăn mày, giữa tháng Chạp gió rét căm căm chảy nước mũi ăn xin dọc các cửa nhà, qua mười ngày nửa tháng, lại mang số gạo bột xin được đến trường. Một buổi chiều tuyết rơi trắng trời, mẹ đi bộ suốt một ngày mới đến được trường, lúc bà nhìn thấy cậu ở cổng trường, liền ngã gục xuống nền tuyết. Cậu tôi ôm lấy mẹ khóc nức nở. Những chuyện này, lúc còn rất nhỏ tôi đã nghe mẹ kể rồi, mỗi lần nhắc đến những chuyện này, tôi đều không kìm được nước mắt tuôn rơi, tôi thề sẽ để nửa đời sau của mẹ có cuộc sống tốt đẹp, thế nhưng mẹ tôi mới bốn mươi sáu tuổi đã chết rồi. Cho đến nay tôi vẫn không thể tha thứ cho sự vong ân bội nghĩa thấy chết không cứu của cậu năm đó, phần lớn là dựa trên trải nghiệm không thể phai mờ này. Nếu lúc bấy giờ cậu thực sự đại diện cho nguyên tắc và lý tưởng mà lục thân bất nhận, thì tại sao ông ta lại trở thành một tên tham nhũng thập ác bất xá như thế này, đã đành hôm nay ngươi phải trả giá bằng đầu vì tội tham nhũng, tại sao lúc ban đầu lại ra vẻ đứng đắn mà không phê cho một tờ giấy chỉ rộng nửa tấc cơ chứ.
Cậu Trịnh Thiên Lương rốt cuộc là diễn kịch ngay từ đầu, hay là sau đó mới trượt dài vào con đường đồi trụy? Đây là một lần chất vấn và giải mã của tôi đối với tâm hồn có sự chênh lệch to lớn như vậy. Tôi đã bước vào một câu đố nhìn không rõ vế đố, tìm không ra lời giải.
Lúc cậu Trịnh Thiên Lương tốt nghiệp cấp ba, kỳ thi đại học đã bị bãi bỏ, cậu trở về thôn. Bí thư chi bộ thôn bảo: "Cậu có văn hóa cao, cứ làm bác sĩ thú y trong thôn đi!"
Cậu bảo được. Cậu nhanh chóng trở thành bác sĩ thú y nổi tiếng nhất toàn thôn toàn công xã. Bác sĩ chân đất chữa bệnh cho người trong thôn là Ân Tiểu Hồng, em vợ tốt nghiệp tiểu học của bí thư chi bộ thôn, thường xuyên biến người bệnh nhẹ thành bệnh nặng, biến người bệnh nặng thành đường cùng. Thế nên, khi đêm khuya vắng lặng, thường có dân làng lén lút tìm cậu Trịnh Thiên Lương để chữa bệnh. Cậu tôi trên thực tế đã trở thành một vị bác sĩ kép vừa chữa bệnh cho gia súc lại vừa chữa bệnh cho người, giống như một điệp viên kép xuất sắc, đi lại trong hai lĩnh vực người và thú. Tôi không muốn coi trải nghiệm này là ẩn dụ cho cuộc đời sau này của ông ta, nhưng tôi không thể kiểm soát được liên tưởng vô lý này. Hết cách.
Cậu tôi vốn dĩ là một nông dân, một bác sĩ thú y tay nghề cao. Hồi đó mỗi đội sản xuất hằng năm đều phải thực hiện phẫu thuật kế hoạch hóa gia đình cho hơn chục con lợn đực vừa mới trưởng thành. Cậu hoạn bò lấy điểm công không lấy tiền, các đội trưởng sản xuất vì tôn trọng người thợ giỏi thường tặng dái bò cho cậu. Cậu tôi kháng cự sự ăn mòn, không bao giờ tơ hào một sợi tóc, chưa từng lấy dái bò làm hoa hồng. Dái bò ngâm rượu, tráng dương bổ thận, có thể khiến nàng dâu mới ban đêm chỉ còn nửa cái mạng, đàn ông ai cũng tranh nhau đòi. Rất nhiều đội sản xuất coi dái bò như phần thưởng, thưởng cho những phần tử tích cực học tập vận dụng tư tưởng Mao Trạch Đông và phê Lâm phê Khổng. Cậu tôi hồi đó cao lớn phổng phao, mặc bộ Trung Sơn phục bằng vải xanh, ngực áo cài một cây bút máy "Nông thôn mới", ngữ khí cũng rất ôn hòa, mang phong thái của một trí thức nho nhã. Hàng ngày cậu kẹp một chiếc hộp gỗ nhỏ không sơn dầu nách đi khắp các thôn dặn dò, trong hộp đựng ống tiêm thú y và dược phẩm, còn có mấy con dao lớn nhỏ khác nhau quy cách đầy đủ được mài sáng loáng, dùng để hoạn bò và hoạn lợn, thỉnh thoảng cũng hoạn một hai con chó đực tính tình nóng nảy tác phong không tốt. Tuy nhiên chó đực sau khi hoạn tuy ở nhà không chạy rông cũng không giở trò lưu manh với chó cái, nhưng lại càng vô trách nhiệm hơn, lúc cần sủa thì không sủa, lúc không cần sủa thì sủa càn. Gà nhà chủ bị trộm sạch, chó lại nhắm mắt làm ngơ, chủ nhân ngủ đến nửa đêm, chó lại không vì lý do gì sủa ầm ĩ hướng lên vầng trăng lạnh lẽo trên trời, chủ nhân đành dùng thừng siết cổ chết con chó, muối chín thịt chó để ăn vào dịp Tết.
Tiếng tăm tốt đẹp của cậu tôi bắt đầu từ việc không bao giờ nhận dái bò. Người trong thôn đều nói Trịnh Thiên Lương nghiêm khắc yêu cầu bản thân, đấu tranh ác liệt với ý nghĩ tư lợi thoáng qua, nhiệt tình giúp đỡ người khác, tác phong chính pahỉ, là tấm gương tốt của thanh niên trí thức được tư tưởng Mao Trạch Đông bồi dưỡng.
Cậu tôi bước vào con đường quan trường hoàn toàn là chuyện ngẫu nhiên, lý tưởng ban đầu của cậu chính là trở thành bác sĩ thú y xuất sắc nhất toàn công xã, trở thành đệ nhất hoạn dái bò toàn công xã. Thế nhưng lý tưởng cách mạng mộc mạc này đã bị sửa đổi vào mùa hè năm 1973.
Mùa hè năm 1973 nóng đến mức tất cả loài chó trong thôn đều lè lưỡi từ sáng sớm, mặt trời còn chưa mọc, lá cây đã cuộn tròn lại, bụi trên mặt đất nứt nẻ đậm đặc như bột mì, chùa Huyền Huệ bị tháo dỡ đến mức chỉ còn lại lớp da xương. Các xã viên lao động tập thể dưới cái nắng gay gắt, đổ mồ hôi tập thể, kể những câu chuyện cười mang màu sắc vàng vụm tập thể, trải qua những ngày tháng tìm thấy niềm vui trong đau khổ.
Từ chùa Huyền Huệ trên gò Phục Ngưu dọc theo con đường đất quanh co đi xuống, đi qua một khu rừng liễu rậm rạp, bên dưới hõm gò là hố phân của đội sản xuất. Hố phân vốn là một cái ao nước do pháp sư Tĩnh Không đời Minh dẫn dắt ba mươi sáu tăng chúng đào lên. Từ thời Dân Quốc trở đi, chùa Huyền Huệ ngày càng suy tàn, sau khi giải phóng trong chùa đã chẳng còn vị tăng nhân nào, không có tiểu hòa thượng xuống núi gánh nước nữa, ao nước liền biến thành hố phân hữu cơ của đội sản xuất, bên trong ủ cỏ tranh, rạ đậu, lá cây, phân lợn phân trâu phân gà và phân tươi, nước giải do mỗi nhà gánh đến mỗi ngày. Lúc gieo mạ mùa xuân gặt hái mùa thu, các xã viên đào phân hữu cơ ra xúc vào thùng phân gánh ra đồng, hoa màu liền mọc xanh rì. "Hoa màu một cành hoa, toàn dựa phân làm chủ", hố phân có ý nghĩa giống hệt kho lúa trong đội. Mỗi khi đến mùa hè phân chuồng lên men trong hố phân sủi lên từng bọt khí màu đen, bốc lên từng mùi hôi thối, các xã viên luôn hân hoan vui mừng loan tin cho nhau, những bọt khí đó chính là hình ảnh của lương thực, mùi hôi thối chính là hương gạo trong nồi niêu của họ vào mùa thu. Cậu tôi bước vào con đường quan trường vậy mà lại cấu thành một mối quan hệ nhân quả với cái hố phân hôi thối này.