Noli Me Tangere: Ung Thư Xã Hội

Lượt đọc: 730 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 19
Những Khó Khăn Của Một Nhà Giáo

❊ ❊ ❊

El vulgo es necio y pues lo paga, es justo

Hablarle en necio para darle el gusto.1

LOPE DE VEGA.

Ngọn hồ bao bọc bởi núi non ngủ yên trong sự giả tạo của tự nhiên, không một chút gợn sóng hay gợi nhắc về cơn thịnh nộ của giông bão đêm hôm trước. Khi những tia sáng đầu tiên đánh thức những đốm lân tinh trên mặt nước, từ đằng xa, gần như sát chân trời, thấp thoáng bóng hình xám xịt của những chiếc xuồng đánh cá đang thu lưới và những con thuyền lớn đang giương buồng. Hai người đàn ông mặc tang phục sẫm màu đứng ngắm nhìn làn nước từ một gò đất nhỏ: một người là Ibarra, người kia là một thanh niên có vẻ ngoài khiêm nhường và nét mặt u sầu.

– Đây chính là nơi ấy, – người thanh niên đang nói. – Từ chỗ này, thi hài cha anh đã bị ném xuống nước. Đây là nơi người đào huyệt đã đưa Trung úy Guevara và tôi đến.

Ibarra ân cần nắm lấy tay người thanh niên, và anh tiếp lời: – Anh chẳng có lý do gì phải cảm ơn tôi cả. Tôi đã mang ơn cha anh rất nhiều, và điều duy nhất tôi có thể làm cho ông là tiễn đưa thi hài ông về nơi an nghỉ cuối cùng. Tôi đến đây khi chẳng quen biết ai, không có lấy một bức thư giới thiệu, tay trắng về cả tên tuổi lẫn gia tài, hệt như lúc này đây. Người tiền nhiệm của tôi đã bỏ trường học để chuyển sang buôn bán thuốc lá. Cha anh đã bảo bọc tôi, lo cho tôi một chỗ ở, và cung cấp mọi thứ cần thiết để duy trì lớp học. Ông thường xuyên đến thăm các lớp, phát tranh ảnh cho những đứa trẻ nghèo nhưng hiếu học, đồng thời trang bị cho chúng cả sách vở và giấy bút. Nhưng điều này, cũng như mọi thứ tốt đẹp trên đời, chỉ kéo dài được một thời gian ngắn.

Ibarra cởi mũ và đứng cầu nguyện trong chốc lát. Sau đó, anh quay sang người đồng hành: – Anh vừa nói cha tôi đã giúp đỡ những đứa trẻ nghèo ư? Thế còn bây giờ thì sao?

– Bây giờ thì chúng tự xoay xở lấy bất cứ khi nào có thể và tập viết khi có dịp, – người thanh niên đáp.

– Lý do là gì chứ?

– Lý do nằm ở những chiếc áo sơ mi rách rưới và ánh mắt cúi gằm của chúng.

– Hiện giờ anh có bao nhiêu học sinh? – Ibarra hỏi với vẻ quan tâm sau một thoáng ngập ngừng.

– Sĩ số trong danh sách thì hơn hai trăm, nhưng thực tế đi học chỉ khoảng hai mươi lăm em.

– Sao lại có chuyện đó xảy ra được?

Thầy giáo mỉm cười buồn bã đáp: – Kể cho anh nghe những nguyên nhân ấy sẽ là một câu chuyện dài và đầy ngao ngán đấy.

– Đừng gán câu hỏi của tôi cho sự tò mò vô bổ nhé, – Ibarra nghiêm túc đáp lời, mắt hướng về chân trời xa xăm. – Tôi đã suy nghĩ thấu đáo hơn và nhận ra rằng việc tiếp nối những hoài bão của cha tôi còn thiết thực hơn là ngồi khóc thương ông, và tốt hơn rất nhiều so với việc báo thù. Thiên nhiên thiêng liêng đã trở thành nấm mồ của ông, còn kẻ thù của ông là giáo dân và một vị linh mục. Những người trước, tôi tha thứ vì sự u muội của họ; còn người sau, tôi tha thứ bởi tôi muốn Tôn giáo, thứ đã nâng cao vị thế xã hội, phải được tôn trọng. Tôi muốn được truyền cảm hứng bởi tinh thần của người đã sinh thành ra mình, và vì thế tôi muốn thấu hiểu những trở ngại mà công tác giáo dục đang phải đối mặt ở chốn này.

– Xứ sở này sẽ khắc ghi và biết ơn anh, thưa ngài, – thầy giáo nói, – nếu anh thực hiện được những dự định tốt đẹp của người cha quá cố! Anh muốn biết những trở ngại mà tiến trình giáo dục đang vấp phải ư? Vậy thì, trong hoàn cảnh hiện tại, nếu không có sự hỗ trợ thiết thực, giáo dục sẽ chẳng bao giờ đạt được thành tựu đáng kể nào; trước hết là vì, ngay cả khi chúng ta có học sinh, sự thiếu thốn về cơ sở vật chất cùng những thứ khác hấp dẫn hơn sẽ bóp nghẹt sự quan tâm của lũ trẻ. Người ta bảo rằng ở Đức, con cái của một người nông dân thường theo học tám năm ở trường làng, nhưng ở đây liệu có ai chịu bỏ ra nửa khoảng thời gian ấy khi mà kết quả thu về quá đỗi nghèo nàn? Chúng đọc, viết và học thuộc lòng những đoạn trích, đôi khi là cả một cuốn sách bằng tiếng Tây Ban Nha, mà chẳng hiểu lấy một chữ. Đứa trẻ ở thôn quê nước ta nhận được lợi ích gì từ nhà trường cơ chứ?

– Và tại sao anh, người nhìn thấy rõ tai họa ấy, lại chưa từng nghĩ đến việc cứu vãn nó?

Thầy giáo buồn rầu lắc đầu. – Một người thầy giáo nghèo không chỉ phải vật lộn với những định kiến mà còn chống chọi lại cả những thế lực nhất định. Trước tiên, chúng tôi cần một địa điểm thích hợp thay vì phải cảnh ngộ như tôi hiện giờ — tổ chức lớp học ngay dưới phần nhà xứ, sát cạnh cỗ xe ngựa của cha xứ. Ở đó, lũ trẻ vốn thích đọc thành tiếng, hiển nhiên sẽ làm phiền đến cha xứ, và ngài thường hay xuống quạt tháo, nhất là những lúc ngài lên cơn đau, la mắng chúng, thậm chí đôi khi còn lăng mạ cả tôi nữa. Anh thừa biết rằng chẳng ai có thể dạy hay học nổi trong hoàn cảnh như thế, bởi lũ trẻ sẽ chẳng đời nào tôn trọng thầy giáo khi thấy thầy mình bị nhục mạ mà không dám đứng lên bảo vệ lẽ phải. Để được lắng nghe và duy trì uy quyền của mình, người giáo viên cần có uy tín, danh dự, sức mạnh đạo đức và một chút tự do trong hành động.

– Giờ đây hãy để tôi kể cho anh nghe những chi tiết thậm chí còn đau lòng hơn thế. Tôi từng muốn tiến hành cải cách nhưng rồi chỉ nhận lại những tiếng cười chê. Để khắc phục cái tệ nạn mà tôi vừa nhắc đến với anh, tôi đã cố gắng dạy tiếng Tây Ban Nha cho bọn trẻ, bởi ngoài việc đó là lệnh của chính phủ, tôi cũng nghĩ rằng nó sẽ mang lại lợi ích cho tất cả mọi người. Tôi áp dụng phương pháp đơn giản nhất là dạy từ và cụm từ mà không bận tâm đến những quy tắc ngữ pháp dài dòng, với hy vọng sẽ dạy ngữ pháp cho chúng sau khi chúng đã hiểu được ngôn ngữ. Chỉ sau vài tuần, một số em thông minh nhất đã gần như có thể hiểu tôi và dùng được vài câu đơn giản.

Thầy giáo khựng lại và có vẻ ngập ngừng, rồi như thể đã hạ quyết tâm, anh tiếp lời: – Tôi không việc gì phải hổ thẹn về câu chuyện cay đắng của đời mình, bởi bất kỳ ai đặt vào vị trí của tôi cũng sẽ hành xử y hệt như vậy thôi. Như tôi đã nói, đó là một khởi đầu tốt đẹp, nhưng chỉ ít ngày sau, cha Dámaso, lúc bấy giờ là cha sở, đã sai người trùm trượng đến gọi tôi lên. Hiểu rõ tính khí của ngài và sợ để ngài phải đợi lâu, tôi lập tức lên lầu, chào hỏi và chúc ngài buổi sáng tốt lành bằng tiếng Tây Ban Nha. Lời chào duy nhất tôi nhận được là bàn tay ngài chìa ra để tôi hôn, nhưng ngay khoảnh khắc ấy, ngài rụt tay lại và không thưa không rằng, bắt đầu cất tiếng cười to đầy chế giễu. Tôi vô cùng lúng túng khi có mặt vị trùm trượng ở đó. Lúc ấy tôi chẳng biết phải nói gì, bởi cha xứ vẫn tiếp tục cười cợt còn tôi thì đứng ngây ra nhìn ngài. Rồi tôi bắt đầu thấy bực bội và nhận ra mình sắp sửa làm một điều thiếu thận trọng, bởi làm một người Kitô hữu chân chính và việc giữ gìn phẩm giá bản thân vốn chẳng có gì xung khắc. Tôi đang định đặt câu hỏi cho ngài thì bất ngờ, chuyển từ chế giễu sang lăng mạ, ngài mỉa mai nói: "Thế ra là buenos dias cơ à? Buenos dias! Hay ho thật nhỉ, chú mày biết nói cả tiếng Tây Ban Nha cơ đấy!" Rồi ngài lại phá lên cười.

Ibarra không sao kìm được nụ cười.

– Anh cười đấy, – thầy giáo tiếp lời theo gương Ibarra, – nhưng tôi phải thú nhận rằng vào thời điểm đó tôi chẳng có chút hứng thú nào để mà cười nổi. Tôi vẫn đang đứng — tôi cảm thấy máu dồn lên não và luồng chớp như xé toạc tâm trí mình. Vị cha xứ lúc ấy hiện lên thật xa xôi, xa xôi lắm. Tôi bước tới định đáp lời ngài mà chẳng màng xem mình sắp thốt ra điều gì, nhưng vị trùm trượng đã lao ra đứng chắn giữa chúng tôi. Cha Dámaso đứng phắt dậy và bảo tôi bằng tiếng Tagalog: – Đừng có bày đặt chưng diện bằng thứ áo quần mượn vá. Hãy bằng lòng với thứ ngôn ngữ của xứ sở mình và đừng có làm vấy bẩn tiếng Tây Ban Nha, thứ tiếng vốn chẳng dành cho loại người như mày. Mày có biết ông thầy Ciruela3 không? À, thầy Ciruela là một kẻ chẳng biết đọc lấy một chữ, thế mà cũng mở trường dạy học đấy thôi! Tôi muốn giữ ngài lại, nhưng ngài đã quay lưng bước vào phòng ngủ và sập cửa rầm một tiếng.

– Tôi phải làm gì với đồng lương còm cõi ấy đây, thứ tiền mà để lãnh được tôi phải xin chữ ký chuẩn thuận của cha xứ và lặn lội một chuyến lên tận tỉnh lỵ? Tôi phải làm gì để chống lại ngài, một thế lực tôn giáo và chính trị lớn nhất trong thị trấn, kẻ được dòng tu của mình hậu thuẫn, khiến chính phủ phải nể sợ, giàu có, quyền lực, được săn đón và lắng nghe, luôn được mọi kẻ tin tưởng và tuân lệnh? Dù bị lăng mạ, tôi vẫn buộc phải ngậm đắng nuốt cay giữ im lặng, bởi nếu tôi cãi lại, ngài sẽ tước bỏ chức vụ của tôi, khiến tôi mất đi mọi hy vọng trong sự nghiệp mà mình đã chọn. Và sự nghiệp giáo dục cũng chẳng thu về được ích lợi gì, mà trái lại, mọi người sẽ đứng về phía cha xứ, họ sẽ nguyền rủa tôi và gọi tôi là kẻ kiêu ngạo, hợm hĩnh, hư vinh, là một tín đồ Kitô hư hỏng, vô văn hóa, hoặc nếu không phải những thứ đó, thì cũng là kẻ chống lại Tây Ban Nha và là phần tử nổi loạn. Ở một người thầy giáo, người ta chẳng mong đợi học thức hay sự nhiệt thành; thứ duy nhất được đòi hỏi chỉ là sự nhẫn nhục, khiêm nhường và bất động. Xin Chúa hãy dung thứ nếu tôi đã đi ngược lại lương tâm và phán xét của chính mình, nhưng tôi sinh ra ở xứ sở này, tôi cần phải sống, tôi còn có người mẹ già, thế nên tôi đã phó mặc bản thân cho số phận giống như một cỗ thây ma bị sóng gió dập vùi.

– Chẳng lẽ khó khăn đó đã khiến anh nhụt chí vĩnh viễn ư? Anh đã sống như thế suốt quãng đời từ đó đến nay sao?

– Phải chi đó là một lời cảnh tỉnh cho tôi thì tốt biết mấy! Giá như những khốn khổ của tôi chỉ dừng lại ở chừng đó! Quả thật là kể từ dạo ấy, tôi bắt đầuâm thầm chán ghét nghề nghiệp của mình và nung nấu ý định tìm kiếm một công việc khác, y như người tiền nhiệm đã làm, bởi bất kỳ công việc nào làm trong sự ghê tởm và hổ thẹn cũng chẳng khác nào một cực hình, và bởi mỗi ngày đến trường đều gợi nhắc tôi nhớ về nỗi nhục nhã ấy, mang lại cho tôi không biết bao nhiêu cay đắng. Nhưng tôi biết làm sao đây? Tôi không thể vỡ mộng của mẹ tôi được, tôi buộc phải nói dối rằng ba năm hy sinh của bà để đổi lấy cái nghề này nay chính là niềm hạnh phúc của tôi. Tôi phải khiến bà tin rằng nghề nghiệp này là cao quý nhất, công việc thì vô cùng thú vị, con đường trải đầy hoa hồng, rằng việc thực hiện bổn phận chỉ mang lại cho tôi tình bạn bè, rằng mọi người đều tôn trọng và dành cho tôi sự quan tâm chu đáo. Nếu làm khác đi, mà bản thân vẫn chẳng hết khổ đau, tôi chỉ chuốc thêm nỗi buồn cho gia đình, điều đó ngoài việc vô tích sự ra thì còn là một tội lỗi. Thế nên tôi vẫn ở lại, và ráng gồng mình không để bản thân chùng bước. Tôi cố gắng vật lộn để tiếp tục tiến lên.

Đến đây anh dừng lại một lát, đoạn tiếp lời: – Kể từ ngày bị lăng mạ nhục nhã ấy, tôi bắt đầu tự soi rọi lại bản thân và nhận ra rằng quả thực mình vô cùng dốt nát. Tôi cắm cổ ngày đêm dùi mài kinh sử tiếng Tây Ban Nha và bất cứ thứ gì liên quan đến nghề nghiệp của mình. Cụ Hiền giả già đã cho tôi mượn một số sách vở, và tôi đọc ngấu nghiến, suy ngẫm về mọi thứ có thể chạm tay vào. Với những tư tưởng mới mẻ thu nhận được từ nơi này nơi khác, góc nhìn của tôi đã thay đổi và tôi bắt đầu nhìn nhận nhiều thứ dưới một lăng kính hoàn toàn khác trước. Tôi nhận ra sai lầm ở những nơi mà trước đây tôi chỉ thấy chân lý, và thấy được chân lý trong vô số điều mà thuở trước tôi chỉ coi là lầm lạc. Chẳng hạn như nhục hình, thứ từ ngàn đời nay đã trở thành nét đặc trưng của các trường học và từng được xem là phương pháp duy nhất có hiệu quả để bắt học sinh phải học — điều mà chúng ta vẫn quen tin tưởng — chẳng mấy chốc đã hiện lên trong mắt tôi như một vật cản lớn lao hơn là thứ giúp ích cho sự tiến bộ của trẻ nhỏ. Tôi đã tự thuyết phục bản thân rằng thật bất khả thi để giữ cho tâm trí hoạt động đúng đắn khi những trận đòn roi hay hình phạt tương tự cứ chực chờ trước mắt. Sự sợếp và kinh hoàng làm xáo trộn cả những tâm hồn bình thản nhất, và trí tưởng tượng của trẻ thơ, ngoài sự sinh động vốn có, còn cực kỳ dễ bị tổn thương. Vì tư tưởng được khắc ghi lên bộ não, nên điều cốt yếu là phải có được sự tĩnh lặng cả trong lẫn ngoài, cần có sự bình thản trong tâm hồn, sự thư thái về thể xác lẫn tinh thần, cùng với sự tự nguyện; thế nên tôi nghĩ rằng trước hết mình phải vun bồi cho lũ trẻ sự tự tin, lòng quả quyết và một chút lòng tự trọng cá nhân. Hơn nữa, tôi nhận ra rằng việc chứng kiến những trận đòn roi mỗi ngày sẽ bóp chết lòng nhân hậu trong tim chúng và làm thui chột mọi ý thức về phẩm giá, thứ vốn là một đòn bẩy vô cùng mạnh mẽ trên thế gian này. Đồng thời, nó khiến chúng đánh mất cả sự xấu hổ, thứ một khi đã mất đi thì rất khó lòng khôi phục lại. Tôi cũng quan sát thấy rằng khi một đứa trẻ bị đánh đòn, nó tìm thấy sự an ủi nhỏ nhoi từ việc những đứa khác cũng chịu chung cảnh ngộ, và nó mỉm cười thỏa mãn khi nghe tiếng khóc than của bạn bè. Còn về kẻ ra roi, dẫu ban đầu có thể hành sự với sự miễn cưỡng, thì chẳng mấy chốc hắn cũng trở nên chai sạn và thậm chí còn tìm thấy niềm vui trong công việc u ám ấy. Quá khứ lấp đầy tôi bằng sự kinh hoàng, thế nên tôi muốn cứu rỗi hiện tại bằng cách cải biến hệ thống cũ. Tôi nỗ lực biến việc học thành một niềm vui và tình yêu thương, tôi muốn cuốn sách vỡ lòng không phải là một tập sách đen đẫm nước mắt tuổi thơ mà là một người bạn hé lộ những bí mật kỳ diệu, và lớp học không phải chốn đoạn trường mà là khung cảnh nuôi dưỡng tâm hồn trí tuệ. Cứ thế, từng chút một, tôi bãi bỏ nhục hình, dẹp bỏ hoàn toàn các công cụ trừng phạt ra khỏi lớp học và thay thế chúng bằng sự ganh đua lành mạnh cùng lòng tự trọng cá nhân. Nếu có em nào lơ là bài vở, tôi quy trách nhiệm cho sự thiếu chí tiến thủ chứ chưa bao giờổ là do kém cỏi. Tôi khiến chúng tin rằng chúng tài năng hơn thực tế, điều đó thúc đẩy chúng học tập hệt như cách niềm tin dẫn lối cho những thành tựu lẫy lừng. Ban đầu, sự thay đổi phương pháp này có vẻ bất khả thi; nhiều đứa bỏ học, nhưng tôi vẫn kiên trì và nhận ra rằng từng chút một, tâm trí chúng đang được nâng tầm, rằng ngày càng có nhiều trẻ em đến lớp hơn, chúng đến đều đặn hơn, và đứa nào được tuyên dương trước tập thể sẽ chăm chỉ gấp đôi vào ngày hôm sau.

– Chẳng mấy chốc, chuyện tôi không đánh đòn học sinh đã lan truyền khắp thị trấn. Cha xứ sai người gọi tôi lên, và vì sợ lại phải đối mặt với một màn kịch cũ, tôi cộc lỏng chào ngài bằng tiếng Tagalog. Lần này, ngài tỏ ra vô cùng nghiêm nghị. Ngài bảo rằng tôi đang đẩy lũ trẻ đến bờ vực hủy diệt, rằng tôi đang hoài phí thời gian, rằng tôi không hoàn thành bổn phận của mình, rằng kẻ nào tiếc roi vọt là hại con trẻ — theo lời Sách Thánh — rằng học thức phải đi đôi với đòn roi, vân vân và vân vân. Ngài trích dẫn cho tôi nghe những châm ngôn thời hồng hoang cứ như thể chỉ cần một điều gì đó được nói bởi người xưa là đủ biến nó thành chân lý không thể chối cãi; theo lý đó thì chúng ta hẳn phải tin rằng thực sự tồn tại những con quái vật từng được chạm trổ và điêu khắc trong các cung điện và đền đài thời cổ đại. Cuối cùng, ngài quở trách tôi phải cẩn trọng hơn và quay trở lại với hệ thống cũ, nếu không ngài sẽ làm báo cáo bất lợi về tôi lên quan huyện tỉnh lỵ. Và đó vẫn chưa phải là chấm hết cho những khốn khổ của tôi. Chỉ ít ngày sau, một vài phụ huynh học sinh kéo đến tụ tập dưới nhà xứ và tôi lại phải huy động tất cả sự kiên nhẫn cùng lòng nhẫn nhục của mình. Họ bắt đầu bằng cách gợi nhắc tôi về những thời kỳ trước đây, khi các thầy giáo có khí phách và dạy học theo đúng cách của ông cha họ. "Đó mới thực sự là thời của những bậc hiền triết," họ tuyên bố, "họ đánh đòn, và họ uốn nắn những cái cây cong queo. Họ không phải là những cậu nhóc mà là những bậc lão thành từng trải, tóc bạc phơ và nghiêm khắc. Don Catalino, vua của các bậc thầy và là người sáng lập ra ngôi trường này, từng quất không dưới hai mươi lăm roi và kết quả là học sinh của ông đều thành danh trí thức và linh mục. À, người xưa đáng giá hơn chúng ta nhiều, vâng, thưa ngài, đáng giá hơn chúng ta nhiều chứ!" Một số người không thỏa mãn với những lời châm chọc bóng gió đó, mà thẳng thừng tuyên bố với tôi rằng nếu tôi cứ giữ cái hệ thống này thì con cái họ chẳng học được gì sất và họ buộc phải rút tên chúng khỏi danh sách học trường. Thật vô ích khi tranh cãi với họ, bởi dưới lăng kính của một kẻ trẻ tuổi, họ coi tôi là kẻ thiếu phán đoán chín chắn. Tôi sẵn sàng đánh đổi mọi thứ để có được dăm ba sợi tóc bạc! Họ viện dẫn uy quyền của cha xứ, của người này người kia, thậm chí còn tự lôi bản thân ra làm ví dụ, khẳng định rằng nếu không nhờ những trận đòn roi mà họ từng nhận từ thầy cô thì đời nào họ học khôn lên được. Chỉ có lác đác vài người tỏ ra đồng cảm để vớt vát lại phần nào sự cay đắng của một sự vỡ mộng ê chề đến thế.

– Đứng trước tình cảnh ấy, tôi buộc phải từ bỏ phương pháp của mình, thứ sau bao nhiêu công sức đổ ra vừa mới chớm đơm hoa kết trái. Trong cơn tuyệt vọng, tôi mang roi vọt trở lại lớp học vào ngày hôm sau và tái hiện lại tập tục man rợ ấy. Sự bình thản biến mất và nỗi buồn trùm lên nét mặt của những đứa trẻ, những đứa vừa mới bắt đầu quý mến tôi và là những người thân cận cũng như bạn bè duy nhất của tôi. Dù đã cố gắng nương tay và hạn chế tối đa những trận đòn, lũ trẻ vẫn cảm nhận sâu sắc sự đổi thay ấy, chúng đâm ra nản chí và khóc nức nở. Cảnh tượng ấy cứa nát tim tôi, và dẫu trong thâm tâm có bực bội trước sự u muội của các bậc phụ huynh, tôi vẫn không sao trút giận lên những nạn nhân vô tội của định kiến ấy được. Nước mắt của chúng đốt cháy tâm can, lồng ngực tôi như muốn tức tưởi vỡ tung, và ngày hôm đó, tôi đã rời trường học trước giờ bế giảng để lủi thủi đi về nhà một mình và khóc nghẹn ngào. Có lẽ sự nhạy cảm của tôi có vẻ kỳ quặc đối với anh, nhưng nếu anh đặt mình vào vị trí của tôi, anh sẽ thấu hiểu. Cụ già Don Anastasio từng bảo tôi thế này: "Thế phụ huynh muốn ăn đòn cơ à? Sao không tự quất lên lưng họ ấy chứ?" Hậu quả của tất cả những chuyện đó là tôiổ bệnh nặng. – Ibarra trầm ngâm lắng nghe.

– Vừa mới bình phục, tôi đã quay trở lại trường học chỉ để nhận ra sỉ số học sinh đã tụt giảm chỉ còn một phần năm. Những đứa khá giả đã cao chạy xa bay ngay khi hệ thống cũ quay trở lại, và trong số những đứa ở lại — phần lớn là những kẻ đến lớp để trốn tránh công việc đồng án ở nhà — chẳng còn lấy một đứa nở nụ cười, chẳng đứa nào chúc mừng tôi đã khỏe lại. Đối với chúng, việc tôi sống hay chết cũng chẳng khác gì nhau, hoặc có khi chúng còn mong tôi cứ ốm liệt giường tiếp thì hơn, bởi dẫu vị giáo viên dạy thế có quất roi chúng nhiều hơn đi nữa, thì ông ta cũng hiếm khi mò đến trường. Những học sinh khác của tôi, những đứa bị phụ huynh ép buộc đến lớp, đã chuyển đi nơi khác. Cha mẹ chúng đổ lỗi cho tôi vì đã làm hư hỏng chúng và trút lên đầu tôi đủ điều sỉ vả. Tuy nhiên, có một trường hợp, con trai của một người phụ nữ nhà quê từng đến thăm tôi trong trận ốm, đã không quay lại học vì được cử làm người giúp lễ, và vị trùm trượng bảo rằng những kẻ giúp lễ thì không được phép đi học: chúng sẽ bị sa thải.

– Anh có buông xuôi khi phải chăm bẵm những học sinh mới của mình không? – Ibarra hỏi.

– Tôi còn biết làm gì khác hơn nữa? – câu hỏi được đáp lại bằng giọng điệu ngậm ngùi. – Dẫu vậy, trong thời gian tôi ngã bệnh, rất nhiều chuyện đã xảy ra, trong đó có việc thay đổi cha xứ, thế nên tôi lại nhen nhóm hy vọng và thực hiện một nỗ lực nữa để lũ trẻ không uổng phí thời gian và, trong chừng mực có thể, gặt hái được chút ít lợi ích từ những trận đòn roi, để ít nhất những cực hình đó cũng mang lại kết quả tốt đẹp nào đó cho chúng. Tôi đã trăn trở rất nhiều, vì tôi muốn rằng dẫu chúng không thể yêu quý tôi, thì việc thu lượm được những kiến thức hữu ích từ tôi cũng sẽ giúp chúng nhớ về tôi với ít sự cay đắng hơn. Anh thừa biết rằng ở hầu hết các trường học, sách vở đều bằng tiếng Tây Ban Nha, ngoại trừ cuốn sách giáo lý bằng tiếng Tagalog tùy thuộc vào dòng tu của vị cha xứ. Những cuốn sách này nhìn chung là các bài kinh cầu novena, thánh thi và Sách giáo lý của Cha Astete4, thứ mà qua đó chúng học về lòng đạo đức chẳng khác gì học từ sách của dị giáo. Nhận thấy sự bất khả thi trong việc dạy học sinh bằng tiếng Tây Ban Nha hay dịch quá nhiều sách như thế, tôi đã thử thay thế bằng những đoạn trích ngắn từ các tác phẩm hữu ích bằng tiếng Tagalog, chẳng hạn như cuốn *Luận về Phép tắc Xử thế* của Hortensio y Feliza, một số cẩm nang về Nông nghiệp, vân vân. Thỉnh thoảng tôi tự mình dịch các tác phẩm giản đơn, ví dụ như cuốn *Lịch sử Philippines* của Cha Barranera, rồi đọc cho lũ trẻ chép lại, đôi khi kèm theo vài nhận xét của riêng tôi để chúng ghi chép vào vở. Do không có bản đồ để dạy địa lý, tôi đã sao chép lại bản đồ tỉnh lỵ mà tôi thấy ở thủ phủ, và dùng nó kết hợp với những viên gạch lát sàn để truyền đạt cho chúng đôi chút khái niệm về đất nước. Lần này thì đến lượt phụ nữ nổi sóng. Đàn ông thì chỉ phớt lờ mỉm cười, bởi họ coi đó chỉ là một trong những trò điên rồ kỳ quặc của tôi. Vị cha xứ mới cho gọi tôi lên, và dẫu không quở trách, ngài cũng bảo tôi rằng trước tiên phải lo việc đạo đức, rằng trước khi học những thứ đó, học sinh phải vượt qua kỳ thi để chứng minh chúng đã thuộc lòng các bí tích, các bài thánh thi và sách giáo lý của Giáo lý Kitô giáo.

– Thế nên, giờ đây tôi đang cặm cụi làm việc với mục đích biến lũ trẻ thành những con vẹt biết nhại lời và học thuộc lòng vô số thứ mà chúng chẳng hiểu nổi lấy một chữ. Giờ đây nhiều đứa đã thuộc làu các bí tích và thánh thi, nhưng tôi e rằng nỗ lực của tôi sẽ đổ sông đổ biển với cuốn Sách giáo lý của Cha Astete, bởi phần lớn học sinh chẳng phân biệt nổi đâu là câu hỏi đâu là câu trả lời, và cũng chẳng hiểu ý nghĩa của chúng là gì. Cứ thế này thì chúng ta sẽ chết, và thế hệ mai sau rồi cũng sẽ dẫm lên vết xe đổ ấy, trong khi ở châu Âu, người ta đang bàn chuyện tiến bộ.

– Đừng bi quan đến thế chứ, – Ibarra nói. – Viên phó lý vừa gửi lời mời tôi đến tham dự một cuộc họp tại tòa thị chính. Ai mà biết được, biết đâu ở đó anh sẽ tìm thấy lời giải đáp cho những thắc mắc của mình thì sao?

Thầy giáo nghi ngờ lắc đầu đáp: – Rồi anh sẽ thấy cái kế hoạch mà họ bàn tán với anh cũng sẽ chung số phận bi thảm hệt như tôi mà thôi. Dẫu vậy, cứ chờ xem sao!

1 Đám đông phàm phu vốn u muội và vì chúng chịu trả tiền, nên thật phải lẽ

khi nói chuyện bằng thứ ngôn ngữ u muội để chiều lòng chúng.

2 “Các trường học nằm dưới sự thanh tra của các linh mục giáo xứ. Việc đọc và viết tiếng Tây Ban Nha được giảng dạy, hoặc ít ra là theo sắc lệnh là vậy; thế nhưng bản thân thầy giáo thường lại không biết tiếng Tây Ban Nha, và mặt khác, các viên chức chính quyền người Tây Ban Nha lại không hiểu thổ ngữ. Bên cạnh đó, các cha xứ, nhằm duy trì trọn vẹn ảnh hưởng của mình, không hề nhìn nhận thiện cảm đối với sự lan rộng của tiếng Castilia. Những người duy nhất biết tiếng Tây Ban Nha có lẽ là những người bản xứ từng phục vụ trong các gia đình người châu Âu. Bài tập đọc đầu tiên là một cuốn sách sùng đạo, tiếp theo là sách giáo lý; cuốn sách đọc ấy được gọi là Casaysayan. Nhìn chung, khoảng một nửa số trẻ em từ bảy đến mười tuổi đến trường; chúng học đọc tương đối khá và một số biết viết đôi chút, nhưng rồi chúng cũng sớm quên sạch.”—Jagor, Viajes por Filipinas (Bản tiếng Tây Ban Nha của Vidal). Jagor đang nói cụ thể về các vùng định cư ở khu vực Bicol. Nếu quy chiếu cho các hòn đảo nói chung, con số “một nửa số trẻ em” của ông sẽ là một sự phóng đại lớn.—ND.

3 Một nét mỉm quan tinh tế đã bị mất đi trong bản dịch này. Lời nhắc đến Thầy giáo Ciruela trong tiếng Tây Ban Nha có phần tương tự như việc nhắc đến ông Squeers trong tiếng Anh, nhân vật nổi tiếng trong tác phẩm của trường Dotheboys Hall.—ND.

4 Theo một trong các điều khoản của sắc lệnh hoàng gia ngày 20 tháng 12 năm 1863, cuốn *Catecismo de la Doctrina Cristina* của Gaspar Astete được quy định làm sách giáo khoa cho các trường tiểu học tại Philippines. Xem thêm Blair và Robertson, *The Philippine Islands*, Tập XLVI, tr. 98; *Census of the Philippine Islands* (Washington, 1905), tr. 584.—ND.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của José Rizal

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.