Những kẻ ngây thơ viễn du

Lượt đọc: 10 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Truyền thuyết về bảy kẻ ngủ ngày.

❊ ❊ ❊

[TIÊU ĐỀ GỐC]: THE LEGEND OF THE SEVEN SLEEPERS.

Trên núi Pion đằng kia có Hang Động của Bảy Người Ngủ Ngày. Thuở xửa thuở xưa, khoảng ngàn rưỡi năm về trước, có bảy chàng trai sống gần nhà nhau ở Ephesus, vốn thuộc đạo Thiên Chúa đang bị hắt hủi. Chuyện kể rằng đức vua nhân từ Maximilianus (tôi đang kể câu chuyện này cho mấy đứa trẻ ngoan nghe đấy nhé), chuyện kể rằng, ý tôi là, ngài Maximilianus bỗng đùng đùng nổi giận đi đàn áp đạo Thiên Chúa, và qua thời gian, ngài làm cho đám tín đồ được một phen nóng cả đít. Thế là bảy chàng trai bảo nhau: "Thôi, chúng mình khăn gói lượn đi chỗ khác chơi thôi". Và thế là họ khăn gói lượn thật. Họ chẳng thèm chào bố mẹ hay bất kỳ bạn bè thân thích nào. Họ chỉ tiện tay gom chút tiền của phụ huynh, dăm bộ cánh của chiến hữu để làm kỷ niệm khi đi xa; rồi họ dắt theo cả chú chó Ketmehr hàng xóm của anh chàng Malchus, đơn giản vì xui xẻo thế nào mà cái mõm con chó lại chui tọt vào cáiòng lọng mà một trong mấy cậu thanh niên đang cầm hớ hênh, thế là họ chẳng có thời gian tháo ra nữa; họ cũng nhân tiện vơ luôn mấy con gà đang bơ vơ trong chuồng nhà hàng xóm, cùng vài chai rượu quái lạ trưng bày bên cửa sổ tiệm tạp hóa; rồi họ hiên ngang rời khỏi thành phố.

Chẳng mấy chốc, họ đến một hang động kỳ lạ trên đồi Pion, bước vào trong, mở tiệc ăn uống linh đình rồi vội vã lên đường. Nhưng ngặt một nỗi là họ quên béng mất mấy chai rượu lạ, đành để lại đằng sau. Họ bôn ba qua nhiều xứ sở và trải qua không biết bao nhiêu kỳ quan dị thú. Họ đều là những thanh niên gương mẫu, không bao giờ bỏ lỡ bất kỳ cơ hội kiếm sống nào vồ được dọc đường. Phương châm sống của họ là: "Trì hoãn là kẻ cắp thời gian". Thế nên, cứ hễ tóm được một tên nào đi lẻ loi là họ bảo: "Này, gã này trông có vẻ có lắm của chìm của nổi đấy — múc nó đi anh em". Và thế là họ múc thật. Hết năm năm rày đây mai đó, họ đâm chán ngấy cảnh phiêu lưu mạo hiểm, lại thèm được về thăm chốn cũ quê xưa, nghe lại giọng nói và ngắm nhìn những gương mặt thân thương một thời tuổi trẻ. Thế là họ lại tiện tay múc dăm ba nhóm người họ gặp trên đường tá túc lúc bấy giờ, rồi dắt díu nhau quay về Ephesus. Số là lúc ấy, đức vua nhân từ Maximilianus đã quy y Tam Bảo à nhầm, theo đạo mới, nên đám chrétien mừng quýnh vì chẳng còn ai bị truy sát nữa. Một bữa nọ, khi mặt trời vừa khuất núi, họ về tới hang động trên núi Pion và bàn với nhau: "Thôi, tối nay ta cứ ngủ ở đây, sáng ra hãy vào thành hội ngộ ăn mừng với chiến hữu". Nghe vậy, cả bảy anh đồng thanh hô lớn: "Chuẩn không cần chỉnh!" Thế là họ dắt díu nhau bước vào, và ôi chao, ngay chỗ họ từng cất giấu thuở nào, mấy chai rượu quái lạ vẫn nằm chỏng chơ ở đó, và họ đánh giá là thời gian chẳng làm suy suyển chút phẩm chất cao cấp nào của tụi nó. Quả nhiên mấy anh lãng tử đoán không trật đi đâu được, đầu óc tụi này lúc nào cũng tỉnh táo như sáo. Thế là mỗi anh mần liền sáu chai, và bỗng nhiên họ thấy mệt rã rời, bèn lăn ra ngủ say như chết.

Lúc tỉnh dậy, một người trong bọn tên là Johannes — mang họ phụ là Smithianus — liền kêu lên: "Chúng mình đang truồng ngồng này các cậu ơi!" Quả đúng là như thế. Quần áo của họ đã biến đi đằng nào sạch, còn số tiền kiếm được từ một vị khách qua đường mà họ vừa "múc" dọc đường lúc tiến vào thành phố thì đang nằm văng vưởng trên mặt đất, mốc meo, rỉ sét và biến dạng hoàn toàn. Cả chú chó Ketmehr cũng bay màu, chẳng còn sót lại gì ngoài cái vòng cổ bằng đồng. Họ vô cùng kinh ngạc trước cơ sự này. Nhưng rồi họ cũng nhặt đống tiền lên, bứt ít lá cây quấn quanh người rồi mò lên đỉnh đồi. Và thế là họ trố mắt ngạc nhiên. Ngôi đền tuyệt mỹ của nữ thần Diana đã biến mất tiêu; thay vào đó là vô số công trình nguy nga tráng lệ chưa từng thấy mọc lên trong thành phố; những con người ăn mặc kỳ lạ đi lại tấp nập ngoài đường, tóm lại là vạt vật đều đổi thay.

Johannes lẩm bẩm: "Trông chẳng giống Ephesus tẹo nào cả. Thế mà kìa, đây là nhà thể thao lớn; đây là nhà hát vĩ đại nơi ta từng chứng kiến bảy mươi ngàn con người tụ họp; kia là quảng trường Agora; chỗ kia là vũng nước nơi thánh Gio-an Tẩy Giả từng làm phép rửa tội cho các tín đồ; đằng kia là ngục tù của vị thánh Paul nhân từ, nơi tụi mình hay lui tới để chạm tay vào bộ xiềng xích cổ đã giam cầm ngài nhằm chữa khỏi bách bệnh; ta còn thấy cả lăng mộ của thánh sử Luke, và xa xa kia là nhà thờ lưu giữ tro cốt của thánh Gio-an, nơi giáo dân Ephesus cứ hai năm lại đến một lần để gom chút bụi từ ngôi mộ, thứ bụi có thể chữa lành những thân xác thối rữa vì bệnh tật và tẩy sạch tội lỗi trong tâm hồn; nhưng mà kìa, xem bọn họ lấn biển làm cảng kìa, tàu thuyền neo đậu đông như hội dưới vịnh; nhìn kìa, thành phố đã bành trướng rộng ra sao, vươn tuốt ra thung lũng sau ngọn Pion, tận những bức tường thành Ayassalook; và ôi chao, tất cả các ngọn đồi đều trắng xoá những cung điện với những hàng cột cẩm thạch san sát. Ephesus nay đã trở nên hùng vĩ biết bao!"

Và vẫn còn đang ngẩn ngơ trước cảnh tượng đập vào mắt, họ lũ lượt kéo nhau xuống phố mua quần áo mặc vào người. Lúc họ định sải bước đi tiếp, người chủ tiệm liền cắn thử mấy đồng tiền họ đưa bằng hàm răng của mình, lật qua lật lại ngắm nghía săm soi, rồi ném cộp lên quầy, vênh tai nghe ngóng tiếnginh keng của nó; đoạn hắn phán một câu xanh rờn: "Tiền giả rồi mấy bố ơi!" Họ bèn quát lên: "Biến xừ xuống âm phủ đi mày!" rồi nghênh ngang bỏ đi. Khi về tới nhà, họ nhận ra ngay dẫu chúng trông đã cũ kỹ và xơ xác; lòng họ khấp khởi mừng thầm. Họ chạy ào đến các cánh cửa, đập cửa rầm rầm, để rồi những kẻ lạ mặt mở cửa ra và nhìn họ với ánh mắt đầy vẻ dò hỏi. Họ liền cuống cuồng lên, tim đập thình thịch, mặt mũi cắt không còn giọt máu, hỏi dồn: "Bố tôi đâu? Mẹ tôi đâu? Dionysius, Serapion, Pericles, và Decius đâu rồi?" Những kẻ lạ mặt mở cửa ngơ ngác đáp: "Chúng tôi chẳng biết ai vào ai cả". Bảy chàng trai trố mắt: "Sao lại không biết? Các người ở đây bao lâu rồi, và những người từng sống ở đây trước các người thì đi đâu hết rồi?" Bấy giờ, đám người lạ mới cười rộ lên bảo: "Mấy chú em đang giỡn mặt tụi anh đấy à; bọn anh và các cụ thân sinh đã trú ngụ dưới những mái nhà này ngót nghét sáu đời rồi; những cái tên mà mấy chú vừa nhắc tới nay đã mục nát dưới nấm mồ từ lâu, còn chủ nhân của chúng thì đã chạy xong chặng đua ngắn ngủi của đời mình, đã cười, đã hát, đã gánh chịu hết những nỗi buồn đau và nhọc nhằn mà số phận an bài để rồi yên nghỉ ngàn thu; tính ra đã chín lần hai mươi năm mùa hè đến rồi đi, lá thu đã rụng biết bao nhiêu bận, kể từ ngày những đóa hồng phai tàn trên má họ và họ chìm vào giấc ngủ ngàn thu cùng người chết."

Bấy giờ, bảy chàng trai mới lủi thủi quay lưng đi khỏi ngôi nhà của mình, mặc cho những kẻ lạ mặt sập cửa cái rầm trước mũi. Đám lãng tử ngẩn ngơ khôn tả, đưa mắt nhìn vào mặt tất cả những ai họ gặp trên đường như thể vớt vát hy vọng nhận ra một người quen cũ; ngặt nỗi ai nấy đều xa lạ, lướt qua họ lạnh lùng chẳng thèm hé nửa lời thân thiện. Lòng họ nặng trĩu những đớn đau và sầu muộn. Chợt họ cất lời hỏi một người dân ngang đường: "Ai đang làm vua ở Ephesus vậy hở bác?" Người dân nọ liền đáp: "Mấy chú ở cái xó xỉnh nào chui lên mà đến vị đại vương vĩ đại Laertius trị vì Ephesus cũng không biết thế hả?" Họ ngơ ngác nhìn nhau, đoạn rụt rè hỏi tiếp: "Thế... đức vua nhân từ Maximilianus đang ở đâu rồi?" Người dân nọc kia vội lảng ra xa như thể gặp phải kẻ tâm thần, lầm bầm: "Đúng là lũ điên dở người, chắc vừa mơ giữa ban ngày nên mới không biết vị vua mà tụi nó nhắc tới đã ngỏm củ tỏi từ hơn hai trăm năm trước rồi chứ lỵ."

Lúc bấy giờ, vảy mắt mới rơi ra khỏi tròng của bảy chàng trai, và một người thốt lên: "Khổ thân chúng mình, tại nốc mấy chai rượu quái lạ kia cả thôi. Chúng làm tụi mình mệt lả, để rồi ngủ một giấc không mộng mị suốt hai thế kỷ đằng đẵng này. Nhà cửa thì tiêu điều, bạn bè thì chết sạch. Thôi xong, ván bài lật ngửa rồi — chết quách đi cho rồi." Và ngay chiều hôm đó, họ kéo nhau ra ngoài thành, nằm vật xuống đất vàmỗi người một ngả đi về cõi vĩnh hằng. Cũng chính vào cái ngày định mệnh ấy, trò đánh bài Bảy-lá (Seven-up) liền chấm dứt tại Ephesus, bởi vì "Bảy ông tướng" (The Seven that were up) nay đã ngã ngựa (were down), bận khăn gói quả mướp đi chầu Diêm Vương cả lũ. Và những cái tên khắc trên bia mộ họ cho đến tận ngày nay vẫn là: Johannes Smithianus, Trumps, Gift, High, và Low, Jack, cùng The Game. Nằm chung với mấy anh chàng ngủ ngày ấy còn có cả những cái chai từng chứa thứ rượu quái lạ thuở nào; trên thân chai khắc dòng chữ cổ đại trông có vẻ như thế này — có lẽ là tên của mấy vị thần ngoại giáo thời xửa thời xưa chăng: Rumpunch, Jinsling, Egnog.

Câu chuyện về Bảy Người Ngủ Ngày là thế đấy (chỉ tam sao thất bản chút đỉnh thôi), và tôi dám cá nó hoàn toàn có thật, bởi vì chính mắt tôi đã mục kích cái hang động ấy rồi cơ mà.

Quả thực, người xưa đặt trọn niềm tin vào truyền thuyết này đến mức tận tám, chín trăm năm trước, những bậc học giả đi mây về gió vẫn còn nhìn nó bằng con mắt sợ sệt đầy mê tín. Có hai vị từng ghi chép lại rằng họ đã liều mạng mò vào trong hang, nhưng rồi phải ba chân bốn cẳng ba cẳng chạy té khói trở ra, chẳng dám nán lại lâu vì sợ nhỡ đâu lại lăn ra ngủ quên rồi sống thọ hơn cả chút chít chắt chiu của mình thêm tầm một thế kỷ thì khổ. Ngay tới tận bây giờ, mấy bác dân nghèo dốt nát ở vùng quê quanh đấy vẫn cứ là xin kiếu, chẳng dám bén mảng vào đó ngủ qua đêm làm gì cho chuốc họa vào thân.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.