Đôi khi, trong tháng tiếp theo, tôi tạt qua số 117 Phố Wall để hỏi thăm tình hình sửa chữa và trang hoàng con tàu, xem danh sách hành khách tăng thêm bao nhiêu, hay mỗi ngày ủy ban loại bỏ bao nhiêu người vì không "đủ tiêu chuẩn" rồi tiễn họ ra về trong buồn bã và sầu não. Tôi vui mừng khi biết trên tàu sẽ có một chiếc máy in nhỏ để tự xuất bản tờ báo hàng ngày. Tôi cũng mừng khi biết cây đàn piano, đàn organ và cả đàn melodeon của chúng tôi đều là những loại tốt nhất có thể mua được trên thị trường. Tôi thấy tự hào khi nhận thấy trong số những người tham gia chuyến đi có ba vị mục sư, tám bác sĩ, mười sáu hay mười tám quý cô, vài vị chỉ huy quân đội và hải quân với những danh hiệu kêu như chuông, một cơ số các "Giáo sư" đủ loại, và một quý ông với cái danh hiệu dài lê thê: "ỦY VIÊN CỦA HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ TẠI CHÂU ÂU, CHÂU Á VÀ CHÂU PHI" - nghe như tiếng sấm nổ vang trời! Tôi đã chuẩn bị tâm lý để ngồi ở hàng ghế sau trên con tàu đó vì biết rằng chỉ những nhân vật "đặc tuyển" mới lọt qua được "lỗ kim" của ủy ban tuyển chọn; tôi đã tự rèn luyện để chờ đợi một hàng ngũ đầy những anh hùng quân đội và hải quân, và có lẽ phải lùi hàng ghế của mình xuống xa hơn nữa; nhưng tôi xin thú thực rằng, mình hoàn toàn chưa sẵn sàng cho cái cú sốc này.
Tôi đổ gục dưới trận tuyết lở danh hiệu ấy, trở thành một kẻ rách nát và tàn tạ. Tôi thầm nghĩ, nếu vị chúa tể đó bắt buộc phải đi trên tàu của chúng tôi thì đành chịu thôi – nhưng theo ý tôi, khi Hoa Kỳ thấy cần phải cử một vị quan chức có trọng lượng đến thế đi xuyên đại dương, thì sẽ tinh tế và an toàn hơn nếu tháo rời ông ta ra rồi đóng gói từng phần lên vài con tàu khác nhau.
À, phải chi lúc đó tôi biết ông ta chỉ là một người trần mắt thịt, và nhiệm vụ của ông ta chẳng có gì ghê gớm ngoài việc thu thập hạt giống, vài loại khoai từ lạ, bắp cải lạ lùng và lũ ếch ương kỳ dị cho cái Viện Smithsonian – một thứ hóa thạch cũ kỹ, vô dụng, ngây thơ và mốc meo tội nghiệp kia, thì tôi đã cảm thấy nhẹ nhõm biết bao.
Trong suốt tháng đáng nhớ ấy, tôi đắm mình trong niềm hạnh phúc vì lần đầu tiên trong đời được trôi theo dòng chảy của một phong trào quần chúng lớn. Ai ai cũng đi châu Âu – và tôi cũng đi châu Âu. Ai ai cũng tới Hội chợ Paris nổi tiếng – tôi cũng tới Hội chợ Paris. Các hãng tàu hơi nước chở người Mỹ rời các cảng khắp cả nước với tốc độ bốn hoặc năm nghìn người một tuần. Nếu có ai đó gặp tôi trong tháng ấy mà không định đi châu Âu thì chắc tôi chẳng còn nhớ nổi nữa. Tôi thường dạo quanh thành phố với một thanh niên tên Blucher, người cũng đã đăng ký chuyến đi này. Cậu ta là người cả tin, tính tình dễ chịu, ngây thơ và hòa đồng; nhưng chẳng phải kiểu người có thể làm nên trò trống gì lớn lao. Cậu ta có những ý nghĩ cực kỳ kỳ quặc về cuộc "di cư" sang châu Âu này và cuối cùng đi đến kết luận rằng cả đất nước đang khăn gói để di cư sang Pháp. Một hôm, chúng tôi ghé vào một cửa hàng trên đường Broadway, nơi cậu ta mua một chiếc khăn tay, và khi người bán hàng không có tiền lẻ trả lại, cậu Blucher nói:

"Không sao đâu, tôi sẽ trả anh ở Paris."
"Nhưng tôi đâu có đi Paris."
"Sao cơ – anh vừa nói gì vậy?"
"Tôi bảo là tôi không đi Paris."
"Không đi Paris! Không đi... chà, vậy thì anh định đi đâu cơ chứ?"
"Chẳng đi đâu cả."
"Không đi bất cứ đâu sao? – không đi đâu trên trái đất này ngoài chỗ này à?"
"Chẳng đi đâu cả, chỉ ở đây thôi – ở lại đây suốt cả mùa hè."
Bạn đồng hành của tôi cầm món hàng rồi bước ra khỏi cửa hàng mà không nói một lời – bước đi với vẻ mặt đầy tổn thương. Đi được một đoạn trên phố, cậu ta mới phá vỡ sự im lặng và nói đầy vẻ ấn tượng: "Hắn ta nói dối – đó là ý kiến của tôi!"
Cuối cùng, thời điểm tàu sẵn sàng đón khách cũng đến. Tôi được giới thiệu với chàng trai trẻ sẽ là bạn cùng phòng với mình, và thấy anh ta là người thông minh, vui vẻ, vô tư, đầy hào hiệp, kiên nhẫn, chu đáo và cực kỳ dễ tính. Không một hành khách nào trên con tàu Quaker City có thể phủ nhận những gì tôi vừa nói. Chúng tôi chọn một căn phòng ở phía trước bánh lái, bên mạn phải, "dưới boong tàu". Phòng có hai cái giường tầng, một cái cửa sổ nhỏ mờ mịt, một bồn rửa mặt và một cái tủ dài đệm êm, thứ dùng làm ghế sô pha – một phần – và phần còn lại là nơi giấu đồ đạc của chúng tôi. Dù có chừng đó đồ đạc, phòng vẫn còn chỗ để xoay người, nhưng không đủ để "vung một con mèo", ít nhất là không đảm bảo an toàn cho con mèo đó. Tuy nhiên, căn phòng khá rộng so với tiêu chuẩn phòng trên tàu, và xét mọi mặt thì hoàn toàn thỏa đáng.
Con tàu dự kiến khởi hành vào một ngày thứ Bảy đầu tháng Sáu.
Trưa ngày thứ Bảy đặc biệt đó, tôi ra tàu và bước lên boong. Mọi thứ thật ồn ào và lộn xộn. [Tôi đã từng thấy câu nhận xét này ở đâu đó rồi]. Cầu tàu chật kín xe cộ và người qua lại; hành khách đến nơi và vội vã lên tàu; boong tàu ngổn ngang những rương hòm và túi xách; những nhóm khách du lịch, diện những bộ trang phục du lịch kém bắt mắt, đang lảng vảng trong cơn mưa phùn và trông rũ rượi, thảm hại chẳng khác nào lũ gà đang thay lông. Lá cờ dũng mãnh đã được kéo lên, nhưng cũng bị trúng "lời nguyền" như mọi thứ khác, nó rũ xuống ủ rũ bên cột buồm. Nói chung, đó là một quang cảnh buồn thảm nhất! Đây là một chuyến du ngoạn vui vẻ – không thể phủ nhận điều đó, vì chương trình đã ghi rõ ràng như vậy – mọi thứ đã được cam kết trong hợp đồng – nhưng thực sự thì nó chẳng có vẻ gì là một chuyến đi vui vẻ cả.

Cuối cùng, vượt lên trên tiếng đập phá, tiếng ầm ầm, tiếng la hét và tiếng hơi nước rít lên, lệnh "nhổ neo!" vang dội – một cuộc chạy ùa về phía cầu tàu – du khách vội vã chạy lên bờ – bánh lái bắt đầu xoay chuyển, và chúng tôi lên đường – chuyến dã ngoại đã bắt đầu! Hai tiếng reo hò rất khẽ vang lên từ đám đông ướt át trên cầu tàu; chúng tôi đáp lại họ nhẹ nhàng từ boong tàu trơn trượt; lá cờ cố gắng bay lên nhưng thất bại; "dàn đại bác" chẳng hề lên tiếng – vì hết đạn rồi.
Chúng tôi chạy dọc theo bến cảng rồi thả neo. Trời vẫn mưa. Không chỉ mưa, mà còn bão. "Ở bên ngoài" đó, chính chúng tôi cũng thấy biển động dữ dội. Chúng tôi phải nằm im trong bến cảng yên tĩnh chờ bão tan. Hành khách của chúng tôi đến từ mười lăm bang; chỉ một vài người trong số họ từng đi biển trước đó; rõ ràng là không nên để họ đối mặt với một cơn bão lớn khi chưa kịp "làm quen với sóng". Đến chiều tối, hai chiếc tàu kéo từng hộ tống chúng tôi cùng với một bữa tiệc sâm panh tưng bừng của những thanh niên New York – những người muốn chia tay một thành viên trong đoàn theo đúng nghi thức xưa cũ – đã rời đi, và chúng tôi chỉ còn lại một mình giữa biển khơi. Giữa độ sâu năm sải nước, và neo chặt dưới đáy. Lại còn ở ngoài trời mưa buồn thảm kia nữa chứ. Đây quả là một kiểu tận hưởng "thứ thiệt".
Thật là một sự giải thoát đúng lúc khi tiếng cồng báo giờ họp cầu nguyện vang lên. Đêm thứ Bảy đầu tiên của bất kỳ chuyến du ngoạn vui vẻ nào khác có lẽ đã dành cho những ván bài hay những điệu nhảy; nhưng tôi xin hỏi những tâm hồn không định kiến xem, liệu có tế nhị không nếu chúng tôi tham gia vào những trò phù phiếm đó, khi xét đến những gì chúng tôi vừa trải qua và tâm trạng hiện tại của cả đoàn. Chúng tôi chỉ hợp để làm đám tang thì được, chứ chẳng hợp với bất cứ thứ gì vui vẻ hơn.
Tuy nhiên, biển cả luôn có một sức mạnh an ủi; và trong giường nằm của mình đêm đó, được đưa nôi bởi những đợt sóng nhịp nhàng và ru ngủ bởi tiếng rì rào của những con sóng xa xăm, tôi nhanh chóng chìm vào giấc ngủ yên bình, quên hết những trải nghiệm buồn thảm trong ngày và cả những linh cảm đáng lo ngại về tương lai.