Venice, thành bang từng kiêu hãnh, bất khả chiến bại và lộng lẫy suốt gần mười bốn thế kỷ; nơi có những đội quân khiến cả thế giới phải nghiêng mình thán phục mỗi khi xuất trận; nơi có những hạm đội hải quân gần như làm chủ các đại dương, những đoàn thương thuyền căng buồm trắng xóa cả những vùng biển xa xôi nhất, chở đầy sản vật từ khắp mọi phương trời về chất đầy trên các cầu cảng; nay đã trở thành con mồi của sự nghèo nàn, lãng quên và suy tàn ảm đạm. Sáu trăm năm trước, Venice từng là Bá chủ Thương mại; khu chợ của thành bang là trung tâm giao thương vĩ đại, là đầu mối phân phối từ đó hàng hóa khổng lồ của phương Đông được tỏa đi khắp thế giới phương Tây. Ngày nay, những cầu cảng ấy đã hoang vắng, những nhà kho trống rỗng, những đoàn thương thuyền đã tan biến, quân đội và hải quân chỉ còn là ký ức. Hào quang của Venice đã vụt tắt, và giữa những cung điện, cầu cảng đang đổ nát bao quanh, nàng ngồi đó, giữa những đầm lầy tù đọng, cô độc và túng quẫn, bị cả thế giới lãng quên.
Kẻ từng thống trị thương mại cả một bán cầu trong thời hoàng kim, kẻ từng định đoạt vận mệnh hưng vong của các quốc gia chỉ bằng một cái phẩy tay quyền uy, giờ đây đã trở thành kẻ hèn mọn nhất trong số các dân tộc trên thế giới - chỉ là một gã bán dạo những hạt cườm thủy tinh cho các bà, những món đồ chơi vặt vãnh cho đám nữ sinh và trẻ nhỏ.
Vị Mẫu quốc đáng kính của các nước Cộng hòa dường như chẳng phải là chủ đề phù hợp cho những lời bông đùa suồng sã hay chuyện phiếm tầm phào của đám khách du lịch. Dường như sẽ là một sự phạm thượng nếu ta phá tan vẻ quyến rũ của những chuyện tình xưa cũ, thứ vẫn vẽ nên hình ảnh nàng một cách dịu dàng từ xa xăm như qua một lớp sương mù màu nhiệm, và che đi sự hoang tàn, đổ nát khỏi tầm mắt chúng ta. Thật vậy, người ta nên quay lưng lại với những mảnh rách rưới, sự nghèo khó và tủi nhục của nàng, mà chỉ nên nghĩ về nàng khi nàng còn đang đánh chìm hạm đội của Charlemagne; khi nàng khuất phục Frederick Barbarossa hoặc phất cao lá cờ chiến thắng trên những thành lũy của Constantinople.
Chúng tôi đến Venice vào lúc tám giờ tối, và bước lên một chiếc xe tang thuộc sở hữu của khách sạn Grand Hotel d’Europe. Dù sao thì, nó giống một chiếc xe tang hơn bất cứ thứ gì khác, mặc dù nói cho chính xác, đó là một chiếc gondola. Và đây chính là chiếc gondola trong truyền thuyết của Venice! – chiếc thuyền thần tiên mà những hiệp sĩ hoàng gia thời xưa thường dùng để lướt trên mặt nước của những con kênh dưới ánh trăng, nhìn vào đôi mắt dịu dàng của những mỹ nhân quý tộc và thốt lên những lời yêu đương nồng cháy, trong khi gã người chèo thuyền vui tính vận áo lụa gảy đàn guitar và hát những khúc ca mà chỉ người chèo gondola mới có thể hát! Đây là chiếc gondola nổi tiếng và đây là gã người chèo gondola lộng lẫy! – một chiếc thuyền độc mộc rỉ sét, đen sì với cái buồng như xe tang gắn ngay giữa, còn gã chèo thuyền là một tên nhóc đường phố ghẻ lở, chân trần, phô ra một phần cơ thể đáng lẽ nên được che đậy cẩn thận khỏi cái nhìn của bàn dân thiên hạ. Ngay khi gã quẹo ở một góc phố và lái chiếc "xe tang" của mình vào một con mương ảm đạm giữa hai dãy tòa nhà cao chót vót, bỏ hoang, gã bắt đầu hát, đúng theo truyền thống của tổ tiên mình. Tôi chịu đựng được một lát. Rồi tôi bảo:
“Này, Roderigo Gonzales Michael Angelo, tôi là khách hành hương, là người lạ mặt, nhưng tôi sẽ không để cảm xúc của mình bị dày vò bởi thứ âm thanh gào rú đó đâu. Nếu còn tiếp tục, một trong hai chúng ta sẽ phải xuống nước đấy. Đã đủ tệ hại khi những giấc mơ ấp ủ của tôi về Venice về một chiếc gondola lãng mạn và người chèo thuyền hào hoa đã bị hủy hoại vĩnh viễn; hệ thống phá hoại này sẽ không được đi xa hơn nữa; tôi sẽ chấp nhận chiếc xe tang này, dù miễn cưỡng, và anh có thể giương cờ đình chiến trong hòa bình, nhưng ở đây tôi thề một lời thề đen tối và đẫm máu rằng anh không được hát. Chỉ cần thêm một tiếng hú nữa thôi, là anh xuống nước đấy.”
Tôi bắt đầu cảm thấy rằng Venice cổ kính của những khúc ca và câu chuyện đã mất đi mãi mãi. Nhưng tôi đã quá vội vàng. Chỉ vài phút sau, chúng tôi lướt đi duyên dáng ra kênh đào lớn (Grand Canal), và dưới ánh trăng dịu dàng, Venice của thi ca và lãng mạn đã hiện ra. Ngay từ mép nước, những dãy cung điện cẩm thạch uy nghi vươn lên; những chiếc gondola lướt nhanh qua lại rồi biến mất đột ngột qua những cánh cổng và ngõ hẻm bất ngờ; những cây cầu đá nặng nề đổ bóng xuống những con sóng lấp lánh. Sự sống và chuyển động hiện diện khắp nơi, nhưng ở đâu cũng bao trùm một sự tĩnh lặng, một kiểu tĩnh lặng lén lút, gợi lên những cuộc phiêu lưu bí mật của những tay đâm thuê chém mướn và những đôi tình nhân; và khoác trên mình một nửa là ánh trăng, một nửa là bóng tối huyền bí, những dinh thự cổ kính, nghiêm trang của nước Cộng hòa dường như có một vẻ biểu cảm như thể đang để mắt đến chính những cuộc phiêu lưu như thế vào ngay khoảnh khắc ấy. Tiếng nhạc trôi bồng bềnh trên mặt nước – Venice đã trọn vẹn.
Đó là một bức tranh tuyệt đẹp – rất mềm mại, mơ màng và đẹp đẽ. Nhưng Venice này thì thấm tháp gì so với Venice lúc nửa đêm? Chẳng là gì cả. Có một lễ hội – một lễ hội lớn để tôn vinh một vị thánh nào đó đã góp công ngăn chặn bệnh dịch tả ba trăm năm trước, và cả Venice đổ ra mặt nước. Đây không phải là một sự kiện tầm thường, vì người Venice chẳng biết khi nào họ sẽ cần đến sự giúp đỡ của vị thánh này một lần nữa, bây giờ khi dịch tả đang lan rộng khắp nơi. Thế là trên một không gian rộng lớn – cứ cho là rộng một phần ba dặm và dài hai dặm – đã tụ tập hai nghìn chiếc gondola, và chiếc nào cũng treo từ hai đến mười, hai mươi, thậm chí ba mươi chiếc đèn lồng màu, với số người ngồi trên thuyền từ bốn đến mười hai người. Chỉ cần tầm mắt có thể vươn tới, những ánh sáng rực rỡ này được xếp dày đặc – giống như một khu vườn khổng lồ đầy hoa muôn màu, chỉ khác là những bông hoa này không bao giờ đứng yên; chúng không ngừng lướt qua lướt lại, hòa lẫn vào nhau, lôi cuốn bạn vào những nỗ lực bối rối để dõi theo sự vận động mê hồn của chúng. Ở đây và ở đó, ánh sáng đỏ, xanh lá hoặc xanh dương rực rỡ từ một quả pháo hoa đang vật lộn để thoát ra, chiếu sáng rực rỡ tất cả các con thuyền xung quanh nó. Mỗi chiếc gondola lướt qua chúng tôi, với những vầng trăng khuyết, hình chóp và vòng tròn đèn màu treo cao, soi sáng khuôn mặt của những người trẻ tuổi, xinh đẹp và thơm tho bên dưới, quả là một bức tranh; và sự phản chiếu của những ánh sáng đó, dài, mảnh, vô số, đa sắc và bị méo mó, nhăn nhúm bởi sóng nước, cũng là một bức tranh như vậy, và là một bức tranh đẹp đến mê hồn. Rất nhiều nhóm các quý cô, quý ông đã trang trí chiếc gondola sang trọng của họ thật lộng lẫy, và ăn tối trên thuyền, mang theo những gã người hầu mặc áo đuôi tôm, đeo cà vạt trắng để phục vụ, và bàn tiệc của họ được bày biện như thể cho một bữa tiệc cưới. Tôi đoán họ đã mang theo những chiếc đèn cầu đắt tiền từ phòng khách của họ, cùng những tấm rèm ren và lụa từ chính những nơi đó. Và họ cũng mang theo đàn piano và guitar, rồi chơi và hát opera, trong khi những chiếc gondola bình dân với đèn lồng giấy từ các vùng ngoại ô và các ngõ hẻm phía sau vây quanh để nhìn ngó và lắng nghe.

Tiếng nhạc ở khắp mọi nơi – các dàn đồng ca, ban nhạc dây, ban nhạc kèn đồng, sáo, mọi thứ. Tôi bị bao vây, bị vây hãm bởi âm nhạc, sự tráng lệ và vẻ đáng yêu, đến nỗi tôi đã được truyền cảm hứng từ bầu không khí của khung cảnh ấy và tự mình hát một giai điệu. Tuy nhiên, khi tôi nhận thấy những chiếc gondola khác đã chèo đi xa, và người chèo thuyền của tôi đang chuẩn bị nhảy xuống nước, tôi dừng lại.
Lễ hội thật tráng lệ. Họ duy trì nó suốt đêm dài, và tôi chưa bao giờ tận hưởng điều gì hơn thế trong suốt thời gian lễ hội diễn ra.
Thành phố cổ kính này, Nữ hoàng vùng Adriatic, thật hài hước làm sao! Những con phố hẹp, những cung điện cẩm thạch rộng lớn, u ám, đen kịt vì ẩm mốc ăn mòn qua hàng thế kỷ, và tất cả đều chìm một phần dưới nước; không thấy đất khô ở bất cứ đâu, và không có vỉa hè nào đáng kể; nếu bạn muốn đi nhà thờ, đi nhà hát, hay đi nhà hàng, bạn phải gọi một chiếc gondola. Chắc hẳn đây là thiên đường cho những người tàn tật, vì quả thực con người ở đây chẳng cần đến đôi chân làm gì.
Trong một hoặc hai ngày đầu, nơi này trông giống một thị trấn Arkansas bị ngập lụt, bởi vì dòng nước không chảy bao lấy tận ngưỡng cửa của mọi ngôi nhà, và những cụm thuyền buộc chặt dưới cửa sổ, hoặc lướt vào ra các con hẻm và đường tắt, khiến tôi không thể thoát khỏi ấn tượng rằng ở đây chẳng có chuyện gì xảy ra ngoài một trận lụt mùa xuân, và nước sông sẽ rút trong vài tuần tới, để lại một vết nước bẩn trên các ngôi nhà, còn đường phố thì đầy bùn đất và rác rưởi.
Dưới ánh sáng chói chang của ban ngày, Venice chẳng có chút thi vị nào, nhưng dưới vầng trăng nhân hậu, những cung điện nhuốm màu của nàng lại trắng trẻo trở lại, những bức điêu khắc bị tàn phá của nàng được giấu trong bóng tối, và thành phố cổ kính dường như lại được đội lên chiếc vương miện của sự vĩ đại mà nó từng sở hữu năm trăm năm trước. Khi đó, thật dễ dàng để tưởng tượng những con kênh im lặng này đầy ắp những chàng hiệp sĩ cắm lông vũ trên mũ và những quý bà xinh đẹp – với những Shylock mặc áo thụng và đi dép xăng đan, đánh cược những khoản vay trên những con tàu buôn giàu có của Venice – với những Othello và Desdemona, với Iago và Roderigo – với những hạm đội cao quý và những quân đoàn chiến thắng trở về từ các cuộc chiến. Dưới ánh nắng mặt trời đầy phản trắc, chúng ta thấy một Venice suy tàn, hoang vắng, nghèo nàn và không còn thương mại – bị lãng quên và hoàn toàn tầm thường. Nhưng dưới ánh trăng, mười bốn thế kỷ vĩ đại của nàng tỏa ánh hào quang, và một lần nữa, nàng lại là nơi vương giả nhất trong số các quốc gia trên mặt đất.
“Có một thành phố huy hoàng trên biển cả;
Biển cả tràn vào những con phố rộng, những ngõ nhỏ,
Thủy triều lên xuống; và rong biển mặn mòi
Bám chặt vào những bức tường cẩm thạch của những cung điện.
Chẳng có dấu chân người, chẳng có bước chân qua lại,
Dẫn đến những cánh cổng thành! Con đường nằm trên mặt biển,
Vô hình: và chúng ta đi từ đất liền,
Như đến một thành phố nổi – lái thuyền vào,
Và lướt dọc những con phố, như trong một giấc mơ,
Thật êm đềm, tĩnh lặng – ngang qua biết bao mái vòm,
Tựa những ngôi đền, và biết bao hàng hiên uy nghi,
Những bức tượng xếp hàng dọc theo bầu trời xanh biếc;
Ngang qua biết bao dinh thự, với niềm kiêu hãnh hơn cả phương Đông,
Ngày xưa là nơi ở của những vị vua thương gia;
Mặt tiền của một vài tòa nhà, dù thời gian đã tàn phá,
Vẫn rực rỡ với những sắc màu phong phú nhất của nghệ thuật,
Như thể sự giàu sang bên trong chúng đã trào ra ngoài.”
Người ta tự nhiên sẽ muốn xem gì đầu tiên ở Venice? Tất nhiên là Cầu Than Thở – và tiếp theo là Nhà thờ, Quảng trường lớn St. Mark, những chú ngựa đồng và Sư tử St. Mark nổi tiếng.
Chúng tôi dự định đến Cầu Than Thở, nhưng tình cờ vào Cung điện Công tước trước – một tòa nhà chắc chắn chiếm vị trí quan trọng trong thi ca và truyền thuyết Venice. Trong Phòng Thượng viện của nước Cộng hòa cổ đại, chúng tôi mỏi mắt nhìn chằm chằm vào hàng mẫu Anh các bức tranh lịch sử của Tintoretto và Paul Veronese, nhưng không có gì tác động mạnh đến chúng tôi ngoại trừ một điều mà tất cả những người lạ đều bị tác động mạnh – một ô vuông đen ở giữa một phòng trưng bày chân dung. Trong một hàng dài, xung quanh đại sảnh, là chân dung của các Doge (Công tước) của Venice được vẽ lại (những người đáng kính với bộ râu trắng dài, vì trong số ba trăm Thượng nghị sĩ đủ điều kiện nhậm chức, người già nhất thường được chọn làm Doge), và mỗi bức chân dung đều có dòng chữ tán tụng đi kèm – cho đến khi bạn đến đúng vị trí đáng lẽ phải có bức tranh của Marino Faliero, thì ở đó lại trống rỗng và đen ngòm – trống rỗng, ngoại trừ việc nó mang một dòng chữ ngắn gọn, nói rằng kẻ phản nghịch đó đã chết vì tội ác của mình. Thật tàn nhẫn khi vẫn để dòng chữ tàn nhẫn đó chễm chệ trên tường sau khi kẻ bất hạnh ấy đã nằm dưới mộ suốt năm trăm năm.
Ở đầu Cầu thang Người khổng lồ, nơi Marino Faliero bị chặt đầu và nơi các Doge được trao vương miện thời xưa, hai khe hở nhỏ trên tường đá được chỉ ra – hai cái lỗ nhỏ, vô hại, chẳng bao giờ thu hút sự chú ý của người lạ – nhưng đây chính là những Miệng Sư tử đáng sợ! Những cái đầu đã mất (bị quân Pháp đập phá trong thời gian họ chiếm đóng Venice), nhưng đây là những cái họng, nơi những lời cáo buộc nặc danh được nhét vào bí mật vào lúc nửa đêm bởi kẻ thù, đã kết án biết bao người vô tội phải bước qua Cầu Than Thở và đi xuống ngục tối nơi chẳng ai vào mà còn hy vọng nhìn thấy ánh mặt trời lần nữa. Đó là những ngày xưa cũ khi chỉ có giới quý tộc mới cai trị Venice – những người bình dân không có quyền bầu cử và không có tiếng nói. Có một nghìn năm trăm quý tộc; từ đó, ba trăm Thượng nghị sĩ được chọn; từ các Thượng nghị sĩ, một Doge và Hội đồng Mười người được chọn ra, và bằng phiếu kín, Hội đồng Mười chọn từ chính số của mình một Hội đồng Ba người. Tất cả bọn họ đều là gián điệp của Chính phủ, và bản thân mỗi gián điệp cũng bị giám sát – người ta nói thì thầm ở Venice, và không ai tin tưởng người hàng xóm của mình – đôi khi thậm chí không tin cả anh em ruột thịt. Không ai biết Hội đồng Ba người là ai – ngay cả Thượng viện cũng không, ngay cả Doge cũng không; các thành viên của tòa án đáng sợ đó gặp nhau vào ban đêm trong một căn phòng riêng, đeo mặt nạ, khoác áo choàng đỏ từ đầu đến chân, và thậm chí không biết mặt nhau, trừ khi nhận ra qua giọng nói. Nhiệm vụ của họ là xét xử những tội ác chính trị ghê gớm, và bản án của họ là chung thẩm, không có kháng cáo. Chỉ cần một cái gật đầu với đao phủ là đủ. Kẻ bị kết án bị dẫn đi dọc hành lang và ra một lối cửa dẫn vào Cầu Than Thở có mái che, đi qua đó để vào ngục tối và đón nhận cái chết. Trong suốt quá trình di chuyển, hắn không bao giờ lọt vào tầm mắt của bất kỳ ai ngoại trừ người áp giải. Nếu một người có kẻ thù vào thời đó, điều khôn ngoan nhất hắn có thể làm là nhét một tờ giấy gửi Hội đồng Ba người vào miệng Sư tử, ghi rằng “Người này đang âm mưu chống lại Chính phủ.” Nếu ba kẻ đáng sợ kia không tìm thấy bằng chứng, mười phần thì chín phần họ vẫn sẽ dìm chết hắn, vì hắn là một kẻ ác ôn thâm độc, vì âm mưu của hắn là không thể giải mã. Những thẩm phán đeo mặt nạ và đao phủ đeo mặt nạ, với quyền lực vô hạn, không có kháng cáo đối với các phán quyết của họ, trong cái thời kỳ khắc nghiệt, tàn nhẫn đó, khó lòng mà khoan dung với những kẻ mà họ nghi ngờ nhưng không thể kết tội.
Chúng tôi đi bộ qua sảnh của Hội đồng Mười, và chẳng bao lâu sau đã bước vào hang ổ địa ngục của Hội đồng Ba người.
Chiếc bàn mà họ từng ngồi vẫn còn đó, và cả những vị trí nơi các quan tòa điều tra và đao phủ đeo mặt nạ từng đứng, bất động, thẳng tắp và lặng lẽ, cho đến khi họ nhận được một mệnh lệnh đẫm máu, rồi không một lời, rời đi như những cỗ máy không lay chuyển được để thực thi mệnh lệnh đó. Những bức tranh tường trên vách thật đáng kinh ngạc và phù hợp với nơi này. Trong tất cả các sảnh khác, các phòng lớn, các phòng đại triều của cung điện, các bức tường và trần nhà rực rỡ với vàng son, chạm khắc tinh xảo và huy hoàng với những bức tranh về những chiến thắng của Venice trong chiến tranh, sự phô trương của Venice tại các triều đình nước ngoài, và được tôn nghiêm với chân dung của Đức Mẹ, Đấng Cứu Thế và các vị thánh đã rao giảng Phúc Âm Hòa bình trên trái đất – nhưng ở đây, trong sự tương phản ảm đạm, chỉ có những bức tranh về cái chết và sự đau khổ khủng khiếp! Không một hình ảnh sống nào mà không quằn quại trong tra tấn, không một hình ảnh chết nào mà không dính đầy máu, những vết thương toác hoác và bị biến dạng bởi những nỗi đau đớn đã cướp đi sự sống của họ!
Từ cung điện đến nhà tù u ám chỉ cách một bước chân – người ta gần như có thể nhảy qua con kênh hẹp chắn giữa. Cây cầu đá nặng nề Than Thở bắc qua nó ở tầng hai – một cây cầu là một đường hầm có mái che – bạn không thể bị nhìn thấy khi đi trong đó. Nó được chia làm đôi theo chiều dọc, và qua một ngăn, những kẻ mang án nhẹ thời xưa bước đi, còn qua ngăn kia, những kẻ khốn khổ bị Hội đồng Ba người kết án phải chịu đựng nỗi đau khổ kéo dài và sự lãng quên hoàn toàn trong ngục tối, hoặc cái chết bất ngờ và bí ẩn, lầm lũi bước đi. Bên dưới mực nước, dưới ánh đuốc khói mù mịt, chúng tôi được cho xem những phòng giam ẩm thấp, tường dày, nơi cuộc đời của biết bao quý tộc kiêu hãnh đã bị ăn mòn bởi nỗi đau khổ kéo dài của sự giam cầm biệt lập – không ánh sáng, không khí, không sách vở; trần truồng, không cạo râu, không chải chuốt, đầy rận rệp; cái lưỡi vô dụng quên mất chức năng của nó, không có ai để trò chuyện; những ngày và đêm trong cuộc đời hắn không còn được đánh dấu, mà hòa lẫn vào một đêm bất tận không sự kiện; xa cách mọi âm thanh vui vẻ, bị chôn vùi trong sự im lặng của nấm mồ; bị những người bạn bất lực lãng quên, và số phận của hắn mãi mãi là một bí ẩn đen tối đối với họ; cuối cùng mất cả trí nhớ, không còn biết mình là ai hay làm thế nào mà mình đến đó; nhai ổ bánh mì và uống nước được những bàn tay vô hình nhét vào phòng giam, và không còn làm phiền tâm hồn mòn mỏi của mình với những hy vọng, nỗi sợ hãi, nghi ngờ và khao khát được tự do; ngừng cào những lời cầu nguyện và than vãn vô ích lên những bức tường mà không ai, thậm chí chính hắn, có thể nhìn thấy, và phó mặc bản thân cho sự thờ ơ vô vọng, sự lẩm cẩm trẻ con, sự điên loạn! Những bức tường đá này có thể kể lại biết bao câu chuyện đau buồn như thế này nếu chúng có thể cất tiếng nói.
Trong một hành lang hẹp gần đó, họ chỉ cho chúng tôi nơi nhiều tù nhân, sau khi nằm trong ngục tối cho đến khi bị mọi người quên lãng ngoại trừ những kẻ hành hạ mình, được đao phủ đeo mặt nạ đưa đến và siết cổ, hoặc khâu vào trong một chiếc bao tải, đưa qua một cửa sổ nhỏ ra thuyền, vào lúc nửa đêm, rồi chở đến một nơi xa xôi và dìm chết.
Họ thường cho du khách xem những dụng cụ tra tấn mà Hội đồng Ba người từng dùng để moi bí mật từ kẻ bị cáo buộc – những cỗ máy đê tiện để nghiền nát ngón cái; gông cùm nơi tù nhân ngồi bất động trong khi nước rơi từng giọt trên đầu cho đến khi sự tra tấn vượt quá sức chịu đựng của con người; và một thiết bị thép quỷ quyệt, bao bọc đầu tù nhân như một cái vỏ, và nghiền nát nó từ từ bằng một chiếc ốc vít. Nó vẫn mang những vết máu rỉ qua các khớp nối từ lâu, và ở một bên nó có một phần nhô ra nơi tên tra tấn đặt khuỷu tay thoải mái và cúi tai xuống để nghe những tiếng rên rỉ của nạn nhân đang chết dần bên trong.
Tất nhiên, chúng tôi đã đến xem di tích đáng kính của vinh quang cổ xưa của Venice, với những nền đá mòn và nứt nẻ bởi bước chân của cả ngàn năm người bình dân và quý tộc – Nhà thờ St. Mark. Nó được xây dựng hoàn toàn bằng đá cẩm thạch quý giá, được mang từ phương Đông về – không có gì trong thành phần cấu tạo của nó là đồ nội địa. Những truyền thuyết lâu đời của nó biến nó thành một đối tượng hấp dẫn ngay cả đối với những du khách bất cẩn nhất, và cho đến lúc này, nó có sự hấp dẫn đối với tôi; nhưng không hơn thế. Tôi không thể thốt lên những lời trầm trồ trước những bức tranh khảm thô kệch, kiến trúc Byzantine không lấy gì làm đẹp mắt, hay năm trăm cột đá nội thất kỳ lạ từ hàng trăm mỏ đá xa xôi. Mọi thứ đều đã mòn vẹt – mỗi khối đá đều nhẵn thín và gần như không còn hình thù gì do bàn tay và vai của những kẻ nhàn rỗi đánh bóng, những kẻ đã sùng kính lảng vảng ở đây trong những thế kỷ đã qua và đã chết và đi xuống địa... không, ý tôi chỉ là đã chết thôi.
Dưới bàn thờ là nơi an nghỉ của tro cốt St. Mark – và cả Matthew, Luke và John nữa, tôi cũng không rõ. Venice tôn kính những di tích đó trên tất cả mọi thứ trên đời. Trong mười bốn thế kỷ, St. Mark đã là vị thánh bảo hộ của thành phố. Mọi thứ trong thành phố dường như đều được đặt tên theo ông hoặc đặt tên theo cách liên quan đến ông theo một cách nào đó – được đặt tên như vậy, hoặc một số vật phẩm được sắp đặt theo cách nào đó để tạo ra một kiểu kết giao huênh hoang với ông. Đó dường như là ý tưởng chính. Có mối quan hệ tốt với St. Mark dường như là đỉnh cao của tham vọng người Venice. Họ nói rằng St. Mark có một con sư tử thuần hóa, và thường đi du lịch cùng nó – và bất cứ nơi nào St. Mark đi, con sư tử chắc chắn sẽ đi theo. Nó là người bảo vệ, là bạn, là thủ thư của ông. Và vì vậy, Sư tử có cánh của St. Mark, với cuốn Kinh thánh mở dưới chân, là biểu tượng yêu thích ở thành phố cổ kính vĩ đại này. Nó đổ bóng từ cột đá cổ nhất ở Venice, tại Quảng trường lớn St. Mark, lên đám đông những công dân tự do bên dưới, và đã làm như vậy suốt nhiều thế kỷ dài. Sư tử có cánh được tìm thấy ở khắp mọi nơi – và chắc chắn ở đây, nơi có sư tử có cánh, sẽ không có tai họa nào có thể ập đến.

St. Mark qua đời tại Alexandria, Ai Cập. Tôi nghĩ ông đã tử vì đạo. Tuy nhiên, điều đó chẳng liên quan gì đến truyền thuyết của tôi. Về việc thành lập thành phố Venice – cứ cho là khoảng bốn trăm năm mươi năm sau Công nguyên – (vì Venice trẻ hơn nhiều so với bất kỳ thành phố Ý nào khác,) một linh mục đã mơ thấy một thiên thần bảo ông rằng chừng nào hài cốt của St. Mark chưa được đưa đến Venice, thành phố sẽ không bao giờ có thể vươn lên vị thế cao quý giữa các quốc gia; rằng thi thể phải được chiếm lấy, đưa về thành phố, và một nhà thờ tráng lệ phải được xây dựng trên đó; và rằng nếu người Venice bao giờ cho phép vị Thánh bị di dời khỏi nơi an nghỉ mới của ông, thì vào ngày đó Venice sẽ diệt vong khỏi mặt đất. Vị linh mục công bố giấc mơ của mình, và ngay lập tức Venice bắt tay vào việc chiếm lấy thi thể của St. Mark. Đoàn thám hiểm này nối tiếp đoàn thám hiểm khác đã cố gắng và thất bại, nhưng dự án không bao giờ bị từ bỏ trong suốt bốn trăm năm. Cuối cùng, nó đã giành được bằng mưu mẹo, vào năm tám trăm lẻ mấy. Chỉ huy của một đoàn thám hiểm Venice đã cải trang, đánh cắp những bộ xương, tách chúng ra, và đóng gói chúng vào những chiếc bình chứa đầy mỡ lợn. Tôn giáo của Mahomet khiến các tín đồ của nó ghê tởm bất cứ thứ gì có bản chất là thịt lợn, và vì vậy khi người Cơ đốc giáo bị các quan chức chặn lại tại cổng thành, họ chỉ liếc nhìn vào những chiếc giỏ quý giá của ông một lần, rồi nhăn mũi trước đống mỡ lợn ô uế, và để ông đi. Những bộ xương được chôn cất trong hầm của nhà thờ lớn, nơi đã chờ đợi bao năm dài để đón nhận chúng, và nhờ đó sự an toàn và sự vĩ đại của Venice đã được đảm bảo. Và cho đến ngày nay vẫn có những người ở Venice tin rằng nếu đống tro cốt thánh thiện đó bị đánh cắp, thành phố cổ kính sẽ tan biến như một giấc mơ, và nền móng của nó sẽ bị chôn vùi mãi mãi dưới biển khơi không bao giờ nhớ đến.