Chương 2384 - Đừng Khinh Thường Tuổi Trẻ Nghèo Khó
Trường An.
Tửu lâu Túy Tiên.
Nếu nói nơi nào của Đại Hán hiện tại náo nhiệt nhất, không nghi ngờ gì chính là Trường An.
Mà ở Trường An, nơi nào náo nhiệt nhất, đương nhiên là Tửu lâu Túy Tiên.
Chùa Thanh Long ư?
Chùa Thanh Long chỉ náo nhiệt ban ngày, khi màn đêm buông xuống, cơ bản chẳng còn ai. Nhưng tại Tửu lâu Túy Tiên, không kể ngày hay đêm, đều đông vui nhộn nhịp, người qua lại nườm nượp.
Một nơi kiếm tiền nhiều như nước chảy như vậy đương nhiên thu hút ánh mắt thèm khát của không ít kẻ như sói đói. Tuy nhiên, không ai dám động vào, bởi có tin đồn rằng Tửu lâu Túy Tiên có chỗ dựa rất vững chắc. Có người nói đó là thế lực của họ Phỉ, cũng có người bảo là họ Hoàng, thậm chí có kẻ nói là của họ Vi, nhưng từ trước đến nay chẳng ai có thể xác nhận được sự thật. Không một ai từng thấy chủ nhân thực sự của Tửu lâu Túy Tiên.
Không phải không có người thử động vào, nhưng kể từ khi những kẻ từng có ý định ấy, hoặc cả gia tộc của họ, vì đủ mọi lý do mà rơi vào rắc rối lớn hơn nhiều so với việc đụng vào một tửu lâu, hoặc gặp phải tai họa sau đó, mọi người dần dần không dám mạo phạm nữa.
Ban đầu cũng có người lo lắng và nghi ngờ về Tửu lâu Túy Tiên, nhưng nói gì thì nói, bản năng của con người là yêu thích đồ ăn ngon, điều đó có thể thấy ở khắp mọi thời đại và mọi nơi trên thế giới. Chỉ cần không kìm lòng được một lần bước vào, thì sẽ có những lần tiếp theo, và cuối cùng chỉ còn lại hai chữ 'ngon tuyệt', Túy Tiên trở thành nơi hội tụ của không chỉ ẩm thực mà còn cả dịch vụ lưu trú, giải trí, nghỉ ngơi, tạo nên một quần thể tửu lâu khổng lồ.
Hơn nữa, con người có xu hướng tụ tập. Ngay cả những người ban đầu cố tình xa lánh, khi nhìn thấy những đám đông kéo nhau đến Túy Tiên, không ít người cũng bị cuốn theo. Một khi đã đến thử một lần, rất khó để từ chối những lần sau, dù ý chí có cứng rắn đến đâu.
Điều này đúng với cả con cháu sĩ tộc lẫn thường dân.
Tửu lâu Túy Tiên không giống như một số tửu lâu sau này, nơi mà dịch vụ đắt đỏ và sang trọng là yếu tố chính, như nếu người hầu không nói tiếng Tây Vực thì sẽ bị xem là thiếu đẳng cấp.
Ở Túy Tiên, có những bình rượu Túy Tiên giá lên đến vạn tiền một bình, nhưng cũng có những bát mì nước nóng giá chỉ ba đồng tiền lớn là đã no bụng.
Ừm, tất nhiên, vài năm trước một bát mì nước nóng chỉ có hai đồng tiền lớn.
Thường thì tòa lầu cao nhất của Túy Tiên là dành cho con cháu sĩ tộc, người thường ít khi lui tới. Trong tòa lầu cao đó, có những thiếu nữ nhảy múa, có cả mỹ nữ Hồ, váy áo rực rỡ xoay tròn, bụng trắng như tuyết, rượu ngon nồng đượm. Đương nhiên, giá cả cũng không hề rẻ.
Ở phía bên kia, quanh sân nhỏ của tòa lầu thấp, lại là nơi mà dân thường hay lui tới. Người có chút tiền sẽ vào sân ngồi, hoặc lên lầu hai, gọi hai ba bình rượu, vài món đậu phụng, rồi thong thả nhâm nhi. Không ai đến thúc ép tính thời gian hay hối thúc, khi ra về còn được nghe tiếng gọi với theo đầy thân thiện. Tiếng chào cũng to và vang như bên tòa lầu cao.
Nếu không có nhiều tiền, chỉ muốn ăn để no bụng thì vẫn có chỗ. Dọc hành lang và quanh tường sân nhỏ có sẵn ghế và chiếu. Khi đông người không đủ chỗ ngồi, nhiều người sẽ bưng tô mì to bằng cái mặt, ngồi bệt ở góc, vừa nửa ngồi nửa cúi, xì xụp ăn. Đợi đến khi húp hết tô nước nóng cuối cùng, năm tạng sáu phủ đều thư giãn, phát ra tiếng thở hài lòng.
Nhiều hộ gia đình không nấu nướng ở nhà cũng thích đến Túy Tiên ăn, bởi lẽ Túy Tiên không hề tiết kiệm dầu mỡ. Ngay cả tô mì nước rẻ nhất cũng sẽ có một thìa dầu nóng thêm vào sau cùng.
Những giọt dầu này là phụ phẩm của các món ăn chế biến cho con cháu sĩ tộc. Với họ, những món ăn tươi mới và thơm ngon là điều tuyệt vời nhất, trong khi thịt mỡ và dầu mỡ lại không được yêu thích.
Giống như cách ăn uống, cách giải trí của con cháu sĩ tộc cũng khác hẳn với thường dân. Những trò giải trí phổ biến trong giới sĩ tộc không hợp với dân thường.
Còn dân thường lại thích những trò giải trí đơn giản hơn.
Ví dụ như nghe kể chuyện.
Ở giai đoạn đầu của triều Hán, cũng có người kể chuyện, nhưng lúc đó chưa hình thành một mô hình cố định nào, cũng chưa có những cuốn thoại bản, phần lớn là những câu chuyện tự bịa của người kể chuyện, thường là dưới dạng thần thoại...
Nhưng Phỉ Tiềm cho rằng loại chuyện thần thoại này không phù hợp để kể.
Kể chuyện, nếu chỉ nhìn nhỏ hẹp thì là một cách giải trí đơn giản giữa dân chúng, nhưng nếu nhìn xa hơn, nó chính là cách nhanh chóng và ít tốn kém nhất để khai mở trí tuệ quần chúng và truyền bá văn hóa.
Khai mở trí tuệ và truyền bá văn hóa không giống như bật một công tắc điện, bật bên kia thì bên này có điện ngay. Quá trình này kéo dài và không ngừng biến đổi. Do đó, Phỉ Tiềm quyết định thực hiện đồng thời cả hai phương pháp: Một là thông qua các sách vở để phổ biến những kiến thức khoa học sơ cấp cho con cháu sĩ tộc và học trò bình dân, chủ yếu ở mức độ kiến thức của tiểu học hoặc trung học cơ sở. Hai là qua kể chuyện, truyền bá tri thức văn hóa đến quần chúng, đặc biệt là những người khó tập trung học tập.
Với mục tiêu này, những câu chuyện thần thoại dần dần bị giảm bớt.
Mặc dù công chúng vẫn rất thích những chuyện ma quỷ, bởi nỗi sợ hãi về sinh tử luôn thu hút sự quan tâm của con người, nhưng những câu chuyện ấy không đóng góp nhiều cho sự tiến bộ khoa học hay phát triển nhân văn.
Giống như rất nhiều người ở đời sau say mê 'Liêu trai chí dị', nhưng hầu hết khi biết đến Liêu trai không phải để nghiên cứu những giá trị nhân văn mà câu chuyện ẩn chứa, mà là để xuýt xoa trước những nàng hồ ly ma quỷ xinh đẹp...
Những cuốn sách khoa học phổ thông đã được Phỉ Tiềm cho in và bán dưới nhiều tên khác nhau. Đặc biệt, hai người thầy của Phỉ Tiềm cùng với Bàng Đức Công gần như bao trùm toàn bộ các lĩnh vực khoa học cơ bản.
Trong lĩnh vực thiên văn và toán học, các tác phẩm của Lưu Hoằng và Từ Nhạc là nổi bật nhất. Nhất là những ghi chép và phân tích về các chòm sao, khi kết hợp với lịch mới, đã khiến không ít con cháu sĩ tộc bắt đầu quan tâm đến lĩnh vực thiên văn học 'cao siêu' này. Dù là thực sự quan tâm hay chỉ để lấy cớ phô trương trong các buổi tụ họp, điều này vẫn góp phần truyền bá kiến thức.
Về địa lý và nhân văn thế giới, Phỉ Tiềm dùng tên của Thái Ung, còn Thái Diễm thì phụ trách chú giải, biên soạn các ghi chép về các vùng đất xa lạ. Những cuốn sách này cũng bán rất chạy, thậm chí đã tái bản đến lần thứ ba hoặc thứ tư.
Trong lĩnh vực vật lý và hóa học, Bàng Đức Công đứng ra lãnh đạo. Tuy rằng tư tưởng của ông có nhiều ảnh hưởng của đạo Lão, nhưng những nội dung cơ bản về vật lý và hóa học như thuật luyện kim đan, khi được cải tiến đôi chút, đã trở thành những cuốn sách khoa học sơ cấp.
Những kiến thức và kỹ thuật này, khi lan tỏa trong điều kiện hiện tại, không đe dọa đến vị thế của Phỉ Tiềm.
Bởi vì sự tiến bộ của khoa học luôn đòi hỏi những tiền đề cơ bản, mà trong xã hội Đại Hán hiện tại, nhiều kiến thức và kỹ thuật không có đủ điều kiện để hiện thực hóa. Không giống những cuốn sách phổ thông về khoa học này, việc xuất khẩu văn hóa lại có sức ảnh hưởng lớn hơn. Việc lan tỏa kiến thức sẽ dẫn đến việc nhiều người tài giỏi, có chí hướng sẽ tìm đến một nơi mà họ có thể thực hiện hoài bão của mình, và nơi đó không đâu khác chính là Trường An.
Nói một cách đơn giản, đây là việc hạn chế xuất khẩu công nghệ, nhưng xuất khẩu văn hóa lại rất nhiều.
Chỉ dựa vào con cháu sĩ tộc và học trò nghèo để cung cấp lực lượng kỹ thuật thì sẽ không đủ, cần phải có thêm nguồn lực từ quần chúng, tức là người dân thường.
Xã hội nông nghiệp có một đặc điểm là thông tin chủ yếu được lan truyền qua lời nói, mà càng là tin giật gân, càng lan nhanh. Ngay cả quan phủ hay tầng lớp sĩ tộc, khi tin đồn lan nhanh như thủy triều, cũng không thể ngăn chặn ngay lập tức mà thường phải chờ tin đồn tự lắng xuống.
Việc lan truyền thông qua kể chuyện cũng như vậy.
Sau một thời gian thử nghiệm, những loại chuyện được dân chúng ưa thích đã dần hiện rõ. Chúng có hai loại chính...
Một loại là những câu chuyện về sự phú quý: 'Sách có nhà vàng'. Loại kia đương nhiên là về tình yêu: 'Sách có mỹ nhân'.
Khi những nội dung này đến tay Phỉ Tiềm, ông cũng chỉ biết cười dở khóc dở. Vì thật ra, từ đầu Phỉ Tiềm đã biết trước rồi, nhưng vẫn phải đi một vòng lớn để xác nhận rằng dân chúng Đại Hán và người đời sau chẳng khác nhau mấy trong chuyện tìm kiếm giải trí và tám chuyện.
Và thế là, nhiệm vụ biên soạn thoại bản mới được giao cho một người đang sống trong khu nhà phía sau Tửu lâu Túy Tiên, chẳng hạn như Trương Sinh.
Người viết sách đều biết rằng có những lúc cả nửa ngày không viết được một câu, nhưng có lúc lại viết một mạch không ngừng, thậm chí quên cả ăn. Để Trương Sinh và những người viết khác có thể viết nhanh nhất, hình thức làm việc theo kiểu tập trung, giống như nhà máy hay ký túc xá, có vẻ là cách tốt nhất để họ không bị chi phối bởi những chuyện vặt vãnh trong cuộc sống.
Tửu lâu Túy Tiên Tyện lợi về ăn ở, mà điểm nổi bật nhất là suốt mười hai canh giờ nhà bếp luôn sẵn sàng phục vụ. Chế độ này ít nhất cũng ngang hàng với các gia tộc lớn hay phú hộ địa phương. Hễ đói thì có đồ ăn ngay, thực đơn linh hoạt, nếu vượt quá tiêu chuẩn cũng sẽ không được duyệt, thậm chí hợp đồng có thể bị hủy ngay nếu không tự biết giữ mình. Vì vậy, hầu như không có tác giả nào viện cớ 'thiếu cảm hứng' hay 'bí ý tưởng' để tranh thủ hưởng thụ và trì hoãn công việc.
Xét cho cùng, mô hình trước đây chỉ là nhận đề bài rồi về nhà tự lo lấy, đâu có chế độ ưu đãi như bây giờ.
Mặc dù mô hình trước đây có thể tiết kiệm chi phí, nhưng hiệu quả lại thấp. Hiện tại, khi dân chúng khu vực Quan Trung ba Phụ đã bắt đầu có điều kiện dư dả hơn, nhu cầu về mặt tinh thần cũng tăng cao. Nếu không kịp thời đáp ứng, những nhu cầu này rất có thể sẽ chuyển hướng vào những thứ lệch lạc...
Hơn nữa, ngoài Quan Trung ba Phụ, các vùng khác cũng rất cần các người kể chuyện và thoại bản mới.
Lúc này, Trương Sinh ngồi nhìn đống bản thảo dày đặc trước mặt, thở dài nhẹ nhõm, vươn tay hoạt động một chút để làm dịu cơn đau ở cổ tay. Những tờ giấy mà anh ta dùng là giấy đặc biệt được cấp, và phải ghi số theo thứ tự, nhận bao nhiêu, dùng bao nhiêu đều phải ghi lại đầy đủ, ngay cả giấy hỏng cũng phải nộp về, không thể vứt bừa bãi.
Bút lông và mực cũng là do kho cấp. Bút cũ mòn phải nộp lại, mới được nhận bút mới.
Ngay cả cái bàn trước mặt hay chiếu dưới mông ngồi cũng là đồ thủ công tinh xảo hạng cao, tất cả đều được cấp.
Trương Sinh cầm lấy xấp bản thảo, xếp chúng lại theo số thứ tự, lướt qua một lượt, rồi chỉnh sửa vài từ ngữ, để ngôn ngữ trở nên gần gũi với đời thường hơn, sao cho dân chúng có thể dễ dàng hiểu và tiếp thu.
Đây không phải là công việc dễ dàng. Những con cháu sĩ tộc vốn quen với lối văn chương kiểu 'chi hồ giả dã' sẽ không thèm viết những câu văn thô thiển như vậy, thậm chí còn coi đây là sự sỉ nhục...
Câu chuyện trong bản thảo không dài, chỉ khoảng mười ngày, kể về một cậu bé nông dân trẻ tuổi trong lúc cày ruộng đã tình cờ tìm thấy một cuốn sách thuốc. Cậu nhận ra rằng cuốn sách này giúp cậu nhận biết thảo dược, và nhờ đó, cậu đã cứu được cha mình khỏi bệnh. Sau đó, cậu càng say mê, đi khắp nơi để tìm hiểu các loại thảo dược và chữa lành cho nhiều người. Cuối cùng, cậu phát hiện ra rằng cuốn sách thực ra chính là do cậu viết ra, bởi sau khi cha cậu qua đời, cậu đã thề sẽ chữa khỏi mọi bệnh tật trên đời, và đã dành cả đời mình để viết ra cuốn sách đó, rồi gửi nó lại cho chính bản thân mình lúc còn trẻ, khi chưa biết gì.
Một câu chuyện mà ở thời hiện đại có thể bị xem là quá cũ kỹ, nhưng ở Đại Hán lại có sức hút kỳ lạ. Ngay cả Trương Sinh khi nhận được ý tưởng này cũng tấm tắc khen ngợi, thậm chí còn đến Y viện để hỏi thăm các thầy thuốc về nhiều chi tiết y thuật, nhằm đảm bảo rằng những phương pháp chữa bệnh trong câu chuyện đều chính xác.
Trương Sinh từng theo học ở Sơn Học Cung, nhưng gia cảnh nghèo khó khiến anh ta bỏ lỡ quãng thời gian vàng để rèn luyện trí nhớ. Đến khi lớn hơn mới có cơ hội học tập, nhưng khi ấy anh nhận ra mình không thể nào so sánh nổi với những đứa trẻ nhỏ tuổi hơn về khả năng ghi nhớ. Anh thường bị chế giễu, thậm chí có lúc còn muốn bỏ cuộc, trở nên chán nản, chỉ biết ăn uống vô độ, không thiết học hành.
Cho đến khi gặp được Thái Ung, anh bị ông mắng chửi một trận, từ đó hối hận và tỉnh ngộ, khóc nức nở...
Khi viết câu chuyện này, Trương Sinh thậm chí đã nảy ra một suy nghĩ liệu mình có gặp phiên bản già dặn của chính mình, đến tặng cho mình một cuốn sách...
Trong cơn mơ màng và cảm thán một lúc, Trương Sinh xếp lại bản thảo, thu dọn bàn làm việc, nhét bút mực vào túi nhỏ, rồi kiểm tra một lượt xem có bỏ sót thứ gì không trước khi rời khỏi phòng.
Anh bước ra khỏi phòng, đi dọc hành lang và đến phòng đầu tiên. Trước cửa phòng đứng một tên lính gác, Trương Sinh đưa ra chiếc thẻ gỗ.
Lính gác liếc nhìn một chút rồi lùi sang bên nhường đường.
Trương Sinh nhẹ gật đầu chào, bước vào phòng.
Trong phòng, một người đàn ông trung niên đang ngồi.
'Tam ca...' Trương Sinh đưa xấp bản thảo trong tay lên cho người đàn ông trung niên, 'Em đã viết xong rồi...'
Người đàn ông trung niên mỉm cười, 'Vẫn là chú thông minh, viết nhanh thật...'
Khu sân nhỏ phía sau Tửu lâu Túy Tiên đã được bao trọn. Những căn phòng dọc hành lang có lúc trống, có lúc đầy người, nhưng đa phần lúc nào cũng có người. Những người như Trương Sinh cũng không ít, họ chuyên viết lại những câu chuyện ngắn thành thoại bản.
Người nào nộp bài sớm, viết hay, ngoài tiền thù lao cơ bản, còn được thưởng thêm. Còn nếu chậm trễ quá thời hạn mà chưa viết xong, tiền công sẽ bị giảm một nửa. Nếu quá hạn mà vẫn chưa hoàn thành, thì không chỉ mất toàn bộ tiền công, mà còn mất luôn cả cơ hội hợp tác sau này.
Người như Trương Sinh, dĩ nhiên rất được chào đón, và dễ dàng có được những hợp đồng sau đó.
Trương Sinh phụ trách viết, còn người đàn ông trung niên phụ trách sơ duyệt.
Công việc của người đàn ông này chủ yếu là hai việc: Một là tìm người viết phù hợp cho từng cốt truyện, và hai là sơ duyệt trước khi gửi lên cấp trên. Nếu mọi thứ ổn thỏa, thì khoảng ba ngày sau, câu chuyện sẽ bắt đầu được lan truyền.
Mục tiêu của việc duyệt này là để tránh những nội dung quá mức chỉ trích hay công kích, tránh những chuyện nhắm đến cá nhân, sự việc nào đó, hoặc nhằm vào triều đình hay hoàng đế.
Dù sao thì thoại bản chủ yếu là dành cho những người dân thường không biết chữ, họ dễ dàng bị ảnh hưởng và kích động bởi những thông tin tiêu cực hơn cả con cháu sĩ tộc. Nếu không cẩn thận, những sự thay đổi tiêu cực có thể dễ dàng xảy ra.
Chất lượng của thoại bản phụ thuộc vào cách câu chuyện từng bước được xây dựng, và quan trọng nhất là làm sao để mỗi đoạn kết đều giữ lại sự tò mò cho người nghe, khiến họ phải chờ đến ngày mai để biết tiếp theo...
Người đàn ông trung niên lướt nhanh qua bản thảo và gật đầu.
Trương Sinh là một cây viết có kinh nghiệm, anh ta biết rõ những vấn đề nhạy cảm nên tránh, chẳng hạn như sự chênh lệch giữa tầng lớp sĩ tộc và dân thường, hay sự bất công trong việc tiếp cận y tế. Câu chuyện của anh chỉ đơn giản là nói về việc cố gắng thay đổi bản thân, thậm chí khéo léo lồng vào việc thay đổi vận mệnh của cả đời con cháu. Nỗ lực có thể không thay đổi được gì, nhưng nếu không cố gắng, thì chắc chắn chẳng có gì thay đổi cả. Đó cũng chính là trải nghiệm của Trương Sinh, và trong câu chuyện, người mang đến cơ hội cho nhân vật không phải là yêu ma quỷ quái, mà chính là bản thân anh ta.
Tu thân! Đây cũng là thông điệp phù hợp với giáo lý Ngũ Phương Thượng Đế, và tương hỗ lẫn nhau.
Người đàn ông trung niên mỉm cười nhận lấy bản thảo của Trương Sinh, đồng nghĩa với việc Trương Sinh đã hoàn thành một đơn hàng. Sau đó, anh nhận được tiền công.
Một tay cầm túi tiền cứng cáp trong ngực, tay kia cầm những vật dụng còn lại, Trương Sinh rời khỏi tòa lầu nhỏ, đi qua những con ngõ và phố xá. Tại một khoảng đất trống trong một phường, anh thấy một người kể chuyện, 'bốp' một tiếng vang dội, đánh mạnh xuống thanh tre, rồi 'cùm cụp' gõ hai lần lên trống, đọc một đoạn mở đầu ngắn, khiến người qua đường tự nhiên tụ lại thành đám đông...
Trương Sinh khẽ dừng bước, mỉm cười.
Người kể chuyện nhận ra anh, cũng gật đầu chào.
Trương Sinh đáp lại, họ là những người thường xuyên qua lại trong khu nhà phía sau, nên có quen biết sơ.
Anh tiếp tục bước đi, và từ xa, tiếng nói vang lên khi người kể chuyện tiếp tục đánh trống và hô to: 'Hôm nay ta sẽ kể cho các vị nghe về chuyện Liệt Hầu Trường Bình quát mắng lũ ác nhân: 'Đừng khinh thường tuổi trẻ nghèo khó...''