Những Thanh Niên Alaska

Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Cuộc Hành Trình Và Trận Bão

❊ ❊ ❊

“Tớ chợt nghĩ thế này,” Rob nói vào một buổi sáng cách thời điểm họ hoàn thành căn nhà barabbara mới không lâu, “rằng nếu có ai hỏi về hòn đảo rộng lớn mà chúng ta đang sống, chắc chúng ta chẳng thể kể lại được bao nhiêu. Chúng ta mới chỉ đi qua một dải đất nhỏ quanh đây. Tớ cho rằng chúng ta chưa từng đặt chân đi cách trại quá năm hoặc sáu dặm, ngay cả khi leo lên những ngọn núi cao nhất phía bên kia con lạch. Thế mà từ đây chúng ta có thể phóng tầm mắt ngắm nhìn cả một vùng đất rộng tới hơn ba mươi dặm. Tớ rất muốn làm một chuyến thám hiểm ngược lên một trong những thung lũng kia.” Cậu đưa tay chỉ về phía bờ bên kia của vũng biển đang trải rộng trước mắt họ, phẳng lặng và yên ả như một tấm gương.

“Tớ cũng nghĩ thế không chỉ một lần,” Jesse hưởng ứng. “Sao chúng ta không làm một chuyến thám hiểm sang đó nhỉ?”

“Chúng ta không thể đi như thế mà vẫn kịp về ăn tối được đâu,” John phản đối.

“Không,” Rob mỉm cười, “nhưng chúng ta có thể ăn tối vài bận ở bên ấy cơ mà. Sao không qua đó cắm trại một hoặc hai đêm, chịu khó khổ sở một chút nhỉ? Các cậu có thể thấy trên những ngọn núi bên đó có rừng thông, và cứ ở đâu có thông thì cắm trại thế nào cũng thoải mái. Tất nhiên chúng ta sẽ mang theo chút lương khô và súng trường.”

“Chúng ta sẽ ngủ thế nào?” Jesse hỏi. “Xứ sở này có cái thói quen đổ mưa cứ cách một chốc lại đổ mưa đấy.”

“Thì,” Rob đáp, “nếu buộc lòng thì chúng ta có thể ngồi dưới gốc cây. Tớ nghĩ chúng ta không làm nổi một cái chòi vỏ cây, và chúng ta cũng chẳng có thứ gì dùng được làm lều; nhưng chúng ta có áo mưa kamelinka, cùng với tấm chăn làm từ ngực chim hải âu. Kiểu gì chúng ta cũng xoay sở được thôi. Cậu thấy sao, Skookie?”

Skookie nhe răng cười, hiểu được họ đang bàn chuyện gì. “Được chứ—được chứ!” cậu nói.

“Vậy thì chốt thế nhé, các bạn,” Rob tuyên bố. “Và chúng ta sẽ lên đường ngay sáng nay, bởi vì vũng biển hoàn toàn phẳng lặng và có vẻ chẳng có nguy cơ gì về thời tiết xấu. Trên núi trời sẽ lạnh, nên cứ hai người chúng ta sẽ mang theo một tấm chăn, còn ai không mang chăn thì sẽ mang lương khô. Hai chúng ta sẽ mang súng trường, John ạ, còn Skookie mang rìu. Tớ chắc chắn chúng ta sẽ thuận buồm xuôi gió thôi.”

Bọn trẻ bắt đầu bày các món đồ khác nhau xuống mặt đất để chuẩn bị gói ghém. “Bây giờ chúng ta không muốn các gói đồ của mình quá nặng đâu,” Rob nói. “Cách tốt nhất để bó đồ là dùng một chiếc quần yếm.”

“Ý cậu thế nào cơ?” John hỏi.

“À, cậu đặt tất cả đồ đạc lên một miếng bạt hoặc thứ gì đó tương tự, rồi buộc chặt lại bằng một sợi dây thừng, tạo thành một bó dài gấp đôi bề ngang để nó có thể nằm dọc trên lưng cậu. Cậu vòng dây qua hai đầu, rồi vòng quanh toàn bộ theo chiều dọc. Giờ thì cậu lấy chiếc quần yếm, dạng hai ống quần kẹp qua sợi dây dọc cho đến chỗ sợi dây ngang ở đầu dưới. Sau đó, cậu kéo hai ống quần dang rộng ra ở sợi dây ngang kia, đủ rộng để luồn vai vào, sao cho phần ống quần còn lại vừa làm dây đeo vai. Tiếp theo, cậu dùng những sợi dây thừng nhỏ buộc chặt các đầu ống quần vào những sợi dây ngang. Thế là cậu đã có loại dây đeo ba lô tuyệt nhất, chẳng tốn chút trọng lượng nào mà lại không bị hằn vai. Các bạn thấy đấy, ống quần yếm rất mềm. Hồi ở nhà, Big Mike từng chỉ cho tớ cách này. Ông ấy thường dùng nó để vác hai bao bột mì leo qua đèo Chilkoot trên nền tuyết.”

“Ừ,” Jesse nói, “tớ từng nghe về cách đó, và cũng từng thấy người ta mang đồ theo kiểu ấy rồi. Chỉ có một điều duy nhất khiến tớ thấy không ổn lúc này thôi.”

“Điều gì thế?” Rob ngây thơ hỏi.

“Chúng ta làm gì có quần yếm!”

Khuôn mặt Rob xầm lại khi cậu đưa tay xoa cằm. “Đúng thế nhỉ,” cậu thừa nhận, “chúng ta không có! Mà quần của chúng ta thì đang rách rưới tả tơi lắm rồi, chẳng dùng làm quai ba lô được đâu. Chắc chúng ta đành phải cắt những dải da hải cẩu hoặc lấy một miếng da gấu của mình vậy. Thôi kệ, đằng nào chúng ta cũng không làm ba lô nặng nề làm gì, và cứ thong thả mà đi thôi.”

Chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ, họ đã chất đồ đạc lên chiếc xuồng dory rồi đẩy mũi ra khơi, tất cả cùng đồng tâm hiệp lực chèo chống. Họ đinh ninh rằng sẽ nhanh chóng vượt qua vũng biển, nơi có bờ bên kia trông có vẻ rất gần; nhưng họ không khỏi ngạc nhiên khi thấy thực tế phải mất bao lâu mới vượt qua được khoảng cách đó, tính ra chắc phải tầm sáu hoặc tám dặm. Mặc dù vậy, vũng biển vẫn phẳng lặng và tiến độ của họ rất đều đặn, dẫu rằng ai nấy đều vô cùng mệt mỏi khi đặt chân lên bãi cát bờ bên kia, ngay cửa thung lũng mà họ dự định thám hiểm.

“Ở đây có vẻ hoang dã hơn,” John nhận xét. “Cậu nhìn xem những ngọn núi trông gồ ghề làm sao và thảm rừng phía trên kia rậm rạp biết mấy. Mà tớ chẳng thấy bóng dáng căn nhà barabbara nào bên này cả.”

“Có cái trông giống đấy, cách bờ biển một đoạn kìa,” Jesse nói, chỉ về phía trông giống như một gò đất thấp. Họ tiến lại gần và nhận ra đó quả thực là tàn tích của một ngôi nhà barabbara cũ, trông có vẻ như đã bị bỏ hoang từ mấy đời nay. Phần mái đã sụp xuống và các bức tường chi chít những lỗ hổng, hoàn toàn không thể ở được nữa. Họ rời khỏi đó và đi ngược lên bãi biển, nơi họ nhìn thấy dấu tích của vài ngôi nhà khác, chắc hẳn đã từng có thổ dân sinh sống từ rất lâu về trước. Cách đó không xa, gần một lối mòn sâu hoắm do thú hoang giẫm đạp trên vùng lãnh nguyên, họ thấy một số cột gỗ thô kệch dựng ở các góc độ khác nhau, cắm lỏng lẻo xuống đất, có cái đã ngã rạp và mục nát trong thảm cỏ. Vài cây cột có gắn thanh ngang thô sơ ở đỉnh, số khác có tận hai thanh ngang, với thanh bên dưới được đóng chếch đi. Bọn trẻ tò mò ngắm nhìn những cột mốc này, nhưng Skookie tỏ ra sốt sắng muốn đi tiếp.

“Sao thế Skookie? Có chuyện gì vậy?” Rob hỏi. “Những cái cột trông giống cây thánh giá này có ý nghĩa gì thế?”

“Người chết ở đây—nhiều lắm, rất nhiều người chết từ lâu lắm rồi,” Skookie đáp. “Giờ chẳng có ai sống ở đây nữa cả. Tớ không thích chốn này đâu.”

“Ồ,” Rob nói, “đó là những ngôi mộ, và đây là những cây thánh giá—tớ nghĩ cái cột có hai thanh ngang kia hẳn là một trong những cây thánh giá kiểu Nga cũ. Đã từng có ngôi làng nào ở đây hả Skookie?”

Cậu thiếu niên người Aleut gật đầu. “Ngày xửa ngày xưa, người dân tộc tớ từng sống ở đây. Người Nga đến đây, mang theo rất nhiều thuyền lớn; họ bắn giết người của tộc tớ rất nhiều. Bọn người Nga đó dựng nhà thờ ở đây, dạy người của tớ về nhà thờ. Rồi chẳng bao lâu sau bọn người Nga bỏ đi. Rồi người của tớ lâm bệnh, bệnh nặng lắm; tất cả đều quỵ ngã, tất cả đều bỏ mạng ở đây. Dân tộc tớ bỏ đi hết, chẳng bao giờ quay lại nữa. Tớ không thích chốn này chút nào.” Cậu rùng mình khi nhìn những cây cột mộ, và nôn nóng giục giã lên đường.

“Chắc sự việc ấy đã xảy ra từ cách đây bảy mươi lăm năm rồi,” Rob bình luận. “Có lẽ bệnh đậu mùa đã quét sạch những dân làng từng dựng lên thị trấn nhỏ này. Cậu xem kìa, gió và thời tiết đã bào mòn những chiếc cột này đến mức trắng phau như bạc. Thôi được, tớ nghĩ bản thân mình cũng sẵn sàng đi tiếp rồi đây.”

Vác lên vai những chiếc ba lô mà họ vừa hạ xuống lúc dừng chân thám hiểm, họ tiếp tục bước đi trên lối mòn cổ xưa do loài gấu tạo ra và có lẽ xưa kia từng hằn dấu chân người. Có lúc họ bắt gặp dấu chân tươi rói của một con gấu khổng lồ vừa đi qua vào đêm hôm trước, theo lời Skookie, nhưng vì con vật đã rẽ ngoặt sang bên trái và đi lệch hướng với hành trình của họ, nên họ chẳng mảy may có ý định đuổi theo; và thú thật là, lúc này họ đã cảm thấy ở quá xa nhà trong vùng đất mới lạ này, lại thêm phần chán nản trước ý nghĩ về ngôi làng bỏ hoang, nên ngọn lửa nhiệt huyết săn bắn của họ phần nào đã nguội lạnh đi. Việc băng qua dải lãnh nguyên dài một dặm giống như đồng cỏ quả thực rất vất vả, và họ vô cùngmừng rỡ khi ra tới bờ suối gập ghềnh sỏi đá, nơi dòng nước lúc thì rộng và nông, lúc lại hẹp và chảy xiết. Ở đây, đôi khi họ phải lội thẳng xuống nước để tránh những lùm cây tổng quánp rậm rạp đan xen với loài “cây gậy của quỷ” đầy gai góc vốn là đặc sản của riêng vùng Alaska—một loại thực vật quái ác phủ đầy những chiếc gai nhỏ, mọc đủ mọi hình thù kỳ quái, nhưng thế nào cũng quất trúng người ta ở đâu đó dù bước chân vào bất cứ góc nào, và những chiếc gai nhọn hoắt của nó dễ dàng rứt ra để găm lại trong da thịt. Dẫu vậy, những nhà thám hiểm trẻ tuổi của chúng ta đã quen với cảnh hoang vu nơi rừng thiêng nước độc Alaska, nên họ coi tất cả những điều đó là chuyện bình thường, cứ thế kiên định tiến ngược lên thung lũng cho đến khi tới một ngã ba, nơi nhánh bên phải có vẻ dễ đi hơn và những thân cây cũng lớn hơn.

Họ quyết định rẽ theo hẻm núi bên phải, và chỉ dừng lại một lát để ăn miếng lót dạ vào khoảng giữa buổi chiều, khi ấy họ đã đi được khoảng sáu hoặc tám dặm tính từ bờ biển thì quyết định hạ trại qua đêm.

Lúc này họ đang ở chân một khu rừng núi rậm rạp, nơi bóng râm bao trùm dày đặc và lạnh lẽo, và có điều gì đó thật ám ảnh trong sự tĩnh mịch xung quanh. Dù vậy, chẳng mấy chốc họ nhóm được một ngọn lửa trại thật đượm, rồi dùng rìu làm một thứ chòi tựa lưng bằng cành thông. Rob chọn một chỗ gần một khúc gỗ lớn bị đổ, cắm xuống đất hai cọc chạc cây cao hơn đầu một chút rồi gác lên đó một thanh sào dài; sau đó từ khúc gỗ ngả họ gác thêm các cây khác tựa vào thanh sào chính, rồi lợp kín bằng cành thông cho đến khi thành một căn lược đàng hoàng. Trên mặt đất, họ trải một lớp cành thông thật dày làm giường, rồi ngồi thụt vào bên trong chiếc chòi, với ngọn lửa đang bùng cháy rực rỡ và nổ lách tách ngay trước mặt; và tất cả đều đồng tình rằng họ đang có một chỗ cắm trại vô cùng thoải mái. Đã khá mệt lử sau một ngày làm việc vất vả, bởi ba lô và súng trường trên vai đã trở nên nặng trĩu không sao tả nổi, họ ăn tối bằng thịt khô cùng cá hồi xông khói, rồi cuộn mình vào trong chăn, quá mệt mỏi để mà thức tiếp.

Sáng hôm sau, họ thức dậy với tinh thần phấn chấn hơn hẳn sau một giấc ngủ ngon.

“Tớ nghĩ thế này cũng là một ý hay,” Rob nói, “chúng ta sẽ để lại một trong các gói lương khô ở đây; và nếu tối nay chúng ta hạ trại xa hơn nữa, rồi quyết định tiến sâu hơn vào hòn đảo, thì cứ mỗi điểm cắm trại chúng ta lại để lại một ít lương khô, tất nhiên phải treo lên cao để không con vật nào có thể với tới mà ăn mất.”

“Các cậu muốn đi xa đến đâu cơ chứ?” John hỏi, đôi chân vốn khá ngắn của cậu đang cảm thấy hơi cứng đờ sau ngày hành trình đầu tiên.

“Ờ, tớ cũng chẳng biết nữa,” Rob đáp, “nhưng nếu các cậu đồng ý, tớ nghiêng về phương án tiến thêm ít nhất một ngày đường nữa dọc theo thung lũng này. Trời sẽ lạnh hơn, và việc trèo đèo lội suối sẽ nhọc nhằn hơn, nhưng địa hình sẽ quang đãng hơn và chúng ta có thể thong thả đi. Tớ muốn xem liệu ở đây có ngả đèo nào dẫn thông sang phía bên kia nội địa hay không. Tớ vẫn thường nghe nói rằng các nhánh biển đã xém chút nữa là cắt đơ hòn đảo này thành hai mảnh, ngay ở khoảng đoạn giữa. Biết đâu nếu chúng ta cứ ở đây năm hay mười năm, thế nào cũng có lúc phải sang thung lũng bên kia ngó nghiêng một chuyến chứ lị!”

Bọn trẻ tỏ ra trầm ngâm trước lời nói đùa kiểu này, nhưng vẫn can đảm đồng ý đi tiếp ít nhất một ngày nữa. Quả nhiên họ không phải hối hận vì quyết định đó, bởi họ nhận ra mình đang ở một vùng đất mang đậm hơi thở núi non hơn là biển cả. Tuyết nằm ngay sát phía trên họ, nhưng những đỉnh núi thì có vẻ khá quang đãng. Thung lũng nhỏ của họ dốc lên đều đặn, dẫu rằng đến lúc này dòng suối của nó đã thu nhỏ lại thành một lạch nước mà họ có thể bước qua tùy thích. Dọc theo con suối xuất hiện dấu chân quen thuộc của loài gấu khổng lồ Kadiak, những sinh vật suốt hàng trăm năm qua đã tạo ra các lối mòn này qua tất cả các con đèo hướng xuống suối. Bọn trẻ bắt gặp vô số dấu vết gấu tươi mới, nhưng không dừng lại để săn bắn.

Có lần, khi băng qua dòng suối, họ đi ngang qua cửa một khe núi nhỏ, dốc đứng đổ xuống thung lũng. Tại đây, mắt Rob bỗng phát hiện ra một vật gì đó trắng phau. Bước lại gần hướng đó, cậu gọi mấy người kia tới. “Các cậu nhìn này, có một cái hộp sọ gấu to tướng nằm trơ trọi kìa!”

Họ đứngây quanh dị vật quả thực đủ sức làm họ bối rối này. Nó nằm đó, hoàn toàn sạch thịt và trắng tinh, dẫu cho bộ xương vẫn chưa bị thời tiết làm cho bạc phếch là bao. Xung quanh hoàn toàn không có dấu hiệu của bất kỳ cuộc chiến đấu nào, cũng chẳng có lấy mảy may một mẩu xương nào khác. Họ tìm kiếm phần còn lại của bộ xương con vật, nhưng chẳng thu được kết quả gì. Cái hộp sọ nhe răng cười nằm đó, tận sâu trên chốn núi cao này, chẳng có gì để giải thích nó từ đâu tới hoặc vì sao lại xuất hiện ở đây.

“Trời ạ, cứ như đầu cá voi ấy nhỉ!” Jesse kinh ngạc thốt lên. “Cậu xem này, nó dài gần bằng cánh tay tớ. Tớ cá là nó dài tới mười tám hoặc hai mươi inch nếu đo thế này. Nhưng cái gì có thể giết chết nó cơ chứ? Chẳng có gì quật ngã nổi một con gấu ngoại trừ một con gấu khác; nhưng điều đó không giải thích được vì sao cái đầu lại nằm trơ trọi ở đây. Skookie, cậu nghĩ sao về chuyện này?”

“Người của tộc tớ, có lẽ thế,” Skookie đáp.

“Người tộc cậu á? Ồ, tớ tưởng cậu bảo không có ai sống ở bờ bên này cơ mà. Hơn nữa chúng ta cũng chẳng thấy dấu vết săn bắn nào ở đây cả.”

Skookie tiếp tục giải thích. “Chắc là người của tộc tớ đi săn. Giết được con gấu lớn. Có người lấy da, có người lấy thịt, có người lấy đầu. Cái đầu này không ăn được, nhưng nặng lắm. Có người mệt quá, vứt nó lại đây; có lẽ lũ chim đã ăn sạch sành sạnh chỉ còn trơ lại xương.”

“Nhưng chuyện này xảy ra từ bao giờ vậy Skookie?” John hỏi.

“Tớ chịu.”

“Và bọn thợ săn đến từ đâu?” Rob hỏi.

“Tớ chịu. Chắc là từ Eagle Harbor, hoặc có lẽ từ Old Harbor.”

“Old Harbor nằm hướng nào thế Skookie?” Rob đột ngột hỏi.

Cậu thiếu niên chỉ tay ngược về phía núi non, qua bên kia vũng biển, và vượt qua cả khu trại của họ ở bờ bên kia. “Xa lắm,” cậu nói.

“Thế còn Eagle Harbor hướng nào—ý tớ là ngôi làng bản địa ấy.”

“Eagle Harbor hướng này.” Và Skookie chỉ tay về phía đỉnh đèo mà họ đang hướng tới khi ngược lên thung lũng.

“Cách bao xa?” Rob gặng hỏi.

“Tớ không biết,” Skookie đáp; “chắc là nhiều dặm đấy. Người tộc tớ sống ở Old Harbor cơ.”

Rob đăm chiêu suy nghĩ một lát. “Tớ cá là nếu chúng ta cứ đi tiếp,” cậu nói, “cho đến khi lên tới đỉnh sống núi này, chúng ta sẽ tìm thấy thượng nguồn của một dòng sông chảy về phía bên kia. Khéo nó lại đổ ra cái vịnh nào có làng Eagle Harbor ấy chứ. Chà, nhờ thế mà hòn đảo bỗng trông có vẻ không quá lớn nữa nhỉ. Nào, đi thôi, dù sao cũng lên đỉnh đèo này cái đã.”

Thế là họ tiếp tục lầm lũi bước đi, nhưng hôm đó không lên tới đỉnh đèo, cũng chẳng tìm thêm được lời giải nào cho câu đố về chiếc hộp sọ gấu bị bỏ quên mà Rob đã để lại trên lối mòn với ý định sẽ nhặt mang theo khi quay về, dẫu cho Skookie có vẻ không thích hành động này chút nào; chắc chắn là do vướng phải một số tín ngưỡng bản địa của cậu ta. Đêm đó họ hạ trại ở trên cao, nơi không khí vô cùng lạnh giá khiến họ phải run lẩy bẩy trước khi trời sáng, dù ngọn lửa từ những khúc củi nhỏ của họ vẫn chưa tàn hẳn.

Đến trưa ngày hôm sau, cách vùng biển hai điểm cắm trại và ở khoảng cách có lẽ từ hai mươi lăm dặm trở lên, họ đã tới nơi rõ ràng là ranh giới phân thủy giữa thung lũng này với một thung lũng khác dẫn hướng Tây Bắc. Tại đây họ dừng chân. Trước mắt họ trải ra một vùng hoang vu gồm những đỉnh núi dựng đứng, nơi có nhánh hẹp của một thung lũng mới uốn lượn luồn lách vào, mở rộng ra chút ít chừng nào mắt họ còn có thể dõi theo.

“Eagle Harbor hướng đó hả Skookie?” Rob hỏi, tỳ tay lên khẩu súng trường và phóng tầm mắt nhìn ra vùng biển hoang dã trải trước mặt.

“Tớ chịu,” Skookie đáp.

“Cậu nghĩ cách bao xa?”

“Tớ chịu.”

Cậu thiếu niên người Aleut nói thật, bởi vì bản thân cậu ta hay bất cứ ai trong gia đình cậu ta chưa từng vượt qua hòn đảo ở điểm này, và cậu chẳng biết gì về những thứ nằm ở phía trước. Giờ đây rõ ràng đang cảm thấy bồn chồn, Skookie đã chán ngấy việc đi xa khỏi khu trại rồi. “Hay là quay về bây giờ nhỉ?” cậu hỏi Rob với vẻ dò hỏi.

“Chắc là vậy,” người kia đáp, “dẫu tớ rất rất muốn đi sâu thêm chút nữa vào trong này. Tớ có linh cảm chúng ta sẽ ra đến đâu đó gần thị trấn Kadiak hơn; và biết đâu lại chạm trán vài người bản địa tốt bụng thu nhận chúng ta. Nhưng ở đây có vẻ chẳng có thú vật gì ngoại trừ chốc chốc lại thấy một con gà gô trắng—loại gà rừng trên núi cứ hay vệnh vao bước đi và gáy trên nền tuyết ấy, mà chúng lại chẳng đủ lớn để tốn đạn súng trường. Thôi, có lẽ quay về trại rồi đợi thêm tầm một tháng nữa thì an toàn hơn. Các cậu thấy sao?”

Những người còn lại, vốn đã rất mệt mỏi và có phần bất an khi ở quá xa nơi gần nhất có thể coi là nhà, liền bỏ phiếu đồng ý quay về. Thế là, sau một hồi nghỉ ngơi trên đỉnh đèo nơi những cơn gió cắt da cắt thịt nhanh chóng đẩy họ lùi bước, họ vác lên vai những chiếc ba lô đã nhẹ hơn và bắt đầu quay gót xuôi theo thung lũng trở về biển.

Lúc này họ không cần phải dựng lơ lán gì cho ban đêm nữa mà có thể tận dụng những trạm trại cũ. Họ nhận ra sức ăn của mình đã tăng lên nhờ những ngày lao động vất vả, thế nên sau trạm trại cuối cùng, họ chẳng còn mấy thứ phải mang theo ngoài chăn và súng, dẫu cho Rob vẫn cương quyết vác theo chiếc hộp sọ gấu to lớn mà cậu thấy đã đủ nặng nhọc trước khi kết thúc hành trình.

Khi cuối cùng họ cũng rời khỏi vùng núi non để băng qua lãnh nguyên trở về ngôi làng hoang vu gần nơi họ neo đậu chiếc xuồng dory, họ nhận thấy thời tiết đã có sự biến đổi. Phía bắc, một đám mây đen đang dâng lên, và mặt vũng biển, dù bề mặt có vẻ ít bị sóng đánh vỡ là thế, lại mang một vẻ sắc lạnh và đầy điềm gở.

“Chắc chốc nữa trời mưa đấy,” Skookie nói.

Rob đăm đăm quan sát vũng biển và bầu trời một lúc lâu. “Các cậu tính sao?” cậu hỏi. “Chúng ta có nên ráng chèo sang bờ bên kia tối nay không? Tớ không thích quang cảnh ngoài kia chút nào, và các cậu biết đấy là một chặng chèo dài.”

“Ừ,” John nói, “tớ ủng hộ việc xuất phát. Ở đây chẳng có chỗ nào để dừng chân cả, mà tớ cũng chẳng ưa cái nơi này hơn Skookie là bao đâu.”

Jesse đồng tình rằng có lẽ họ nên cố gắng về lại khu trại chính, vì lương thực đã cạn, và nếu bão bùng kéo dài thì có khi họ sẽ phải mắc kẹt không qua nổi vũng biển trong một thời gian dài.

“Được rồi, thế thì đi,” Rob quyết định; “nhưng chúng ta phải khẩn trương lên.”

Skookie cũng rõ ràng đang hoảng hốt. Họ lao đến chỗ neo xuồng đẩy nó xuống nước, rồi tất cả cùng cầm lấy dầm và mái chèo, gắng sức chèo mạnh hết mức có thể. Vào thời điểm đó chưa có những con sóng lớn đáng kể nào, chỉ có một chuyển động trồi sụt chậm chạp như nhịp đập của đại dương tràn vào từ cửa ngoài của vịnh lớn Kaludiak. Gió vẫn chưa nổi lên, dẫu cho trời chập choạng tối mỗi lúc một dày đặc hơn.

Trong ba phần tư giờ đầu, họ tiến lên khá thuận lợi. Sau đó họ nhận thấy chiếc thuyền bắt đầu tròng trành đôi chút, và những con sóng nhỏ lăn tăn lướt qua. Một luồng gió thốc mạnh đang thổi thốc xuống từ một thung lũng khác nằm xa hơn về phía cửa vịnh, nơi họ đi ngang qua khi rời khỏi dải đất dài từng đóng vai trò như bức bình phong che chắn cho phần bên trong vũng biển.

Hiển nhiên là gió đang mạnh dần lên. Một lớp bụi nước li ti phủ kín bờ bên kia của vũng biển, khiến có lúc bờ phía họ hoàn toàn bị che khuất khỏi tầm nhìn trong suốt nhiều khoảnh khắc. Bóng tối cũng đang buông xuống. Không nói một lời, bọn trẻ cắm cổ chèo, thực sự hoảng sợ. Rob và Skookie có lẽ là hai kẻ bình tĩnh nhất trong bốn người, và Rob chủ động làm những gì có thể để động viên các bạn đồng hành.

“Có một điều các cậu cần nhớ,” cậu nói, “đó là một chiếc xuồng dory thế này có khả năng chống chịu sóng gió gần như một con tàu lớn, miễn là các cậu điều khiển đúng cách. Chúng ta sẽ giữ mũi thuyền chéo góc với sóng, và sẽ chèo suốt đêm nếu cần. Đừng bận tâm chúng ta dạt vào bờ bên kia ở chỗ nào—chúng ta sẽ không cố tìm đúng chỗ trại của mình đâu. Tớ chỉ hy vọng chúng ta có thể vượt qua cửa con lạch của mình, bởi vì nếu trôi xuống dưới điểm đó, chúng ta có thể bị cuốn đi tận hai mươi dặm, ra tuốt tận đầu bên kia của vũng biển. Đừng kéo quá sức bây giờ kẻo mất sức, cứ giữ nhịp chèo đều đặn là được. Jesse, cậu ra ngồi ở đuôi thuyền đi, còn John và Skookie mỗi người kéo một mái chèo. Tớ sẽ chèo cặp còn lại. Chuẩn bị sẵn cái xô thiếc đi Jesse, nếu có nước tràn vào thì cố múc ra cho nhanh.”

Những người còn lại đều tỏ ra gan dạ, dẫu ai nấy đều lo lắng. Cả đội thuyền nhỏ kiên cường bám lấy mái chèo, đối mặt với một tình huống ngặt nghèo đủ sức làm chùn bước cả những người đàn ông cường tráng nhất. Những cơn bão ở Alaska này vô cùng nguy hiểm ngay cả với những tàu thuyền hùng mạnh nhất, và chẳng có bờ biển nào trên thế giới lại có bề dày tai nạn đắm tàu cùng những con thuyền mất tích không một dấu vết lớn như nơi đây.

Khi đã thực sự ra đến giữa vũng biển, bọn trẻ mới thấu hiểu được sức mạnh của đại dương—thứ sức mạnh mà trước đó chúng chưa từng biết đến trong đời và tưởng chừng sẽ chẳng bao giờ phải trải qua lần nữa. Mây bây giờ đã che khuất bầu trời. Gió mạnh lên không ngừng, thốc thẳng từ cửa vịnh lớn vào, mang theo toàn bộ sức mạnh của đại dương Thái Bình Dương hùng vĩ. Khi những nhà thám hiểm trẻ tuổi này quay đầu nhìn lại qua vai, cảnh tượng đập vào mắt họ thực sự vô cùng kinh hãi.

Nối tiếp nhau đều đặn cách nhau vài khoảnh khắc, những ngọn đồi nước đen ngòm dường như trải dài từ bờ bên này sang bờ bên kia lao xuống vũng biển, đó là những con sóng lớn cuồn cuộn không vỡ ra mà đổ vào một cách đen đúa và nhớp nháp. Mỗi khi một ngọn sóng vươn cao lừng lững trên chiếc thuyền nhỏ, nó có vẻ chực nuốt chửng lấy chiếc xuồng, nhưng bằng cách nào đó, chiếc xuồng dory tuyệt vời ấy vẫn trườn lên được sườn sóng và vượt qua đỉnh; rồi họ sẽ thấy ngọn đồi nước đen ngòm, lặng lẽ và vĩ đại ấy trượt sâu vào vũng biển rồi khuất dạng, chỉ để nhường chỗ cho một con ngọn sóng khác tiến tới. Gió vẫn chưa đủ mạnh để làm vỡ phần đỉnh sóng, và may mắn là thủy triều đang lên, nhờ thế không có những dòng nước xoáy dữ dội vốn chắc chắn sẽ làm lật úp chiếc vỏ lãi bé nhỏ của họ.

“Cố chèo lên các cậu!” Rob hét lớn. “Chúng ta đang làm rất tốt. Nó vượt qua những con sóng lớn này như một con vịt vậy. Đúng là một chiếc thuyền tuyệt vời!”

Skookie không nói gì, nhưng chốc chốc lại liếc nhìn về phía đầu vũng với ánh mắt đầy âu lo.

“Ổn cả chứ Skookie?” Rob hỏi.

“Tớ chịu,” Skookie đáp rồi lại cúi người kéo mái chèo.

“Chừng nào biển chưa vỡ sóng,” Rob nói, “chúng ta vẫn có thể cưỡi qua những con sóng cuộn này ngon lành. Chỉ khi nào chúng trắng xóa lên mới đáng ngại thôi.”

Có lẽ đây chính là điều mà Skookie hằng sợ hãi. Chỉ trong vòng ba phút sau khi Rob thốt lên những lời đó, điều mà cậu ta lo lắng nhất đã thực sự xảy ra. Họ đang lướt đều đặn lên đỉnh của một con sóng dài đen ngòm có sườn khuất gió hoàn toàn phẳng lặng, thì đúng lúc họ chạm tới đỉnh, gió dường như xé toạc phần chóp sóng thành từng mảnh vụn. Không một lời báo trước, một đợt nước trắng xóa, sôi sục và réo rít ào ạt ập lên xung quanh họ. Tựa như có thứ linh hồn giận dữ nào dưới đáy đại dương trồi lên từ lòng sâu và cố kéo họ chìm xuống.

Làn nước trắng xóa tràn qua mạn thuyền, làm ngập một nửa chiếc xuồng dory. Chiếc thuyền có vẻ như sắp chìm nghỉm trước khi ngọn sóng dài trườn đi, gầm gừ như thể tiếc nuối vì không đạt được mục đích.

Jesse, người vừa rời khỏi ghế ở đuôi thuyền và đang co ro dưới đáy xuồng, thét lên một tiếng hoảng sợ.

“Giữ trật tự nào!” Rob cất tiếng gọi sắc lạnh. “Múc nước đi, múc nhanh vào! Nhanh lên!”

Dù vô cùng hoảng sợ, nhưng khi nghe thấy tiếng vị chỉ huy trẻ tuổi, Jesse liền vâng lời, cuống cuồng múc nước nhanh nhất có thể. Khối nước dềnh dang lúc thì trôi về phía mũi, lúc lại tràn ngập đến đầu gối cậu khi nó dồn ngược về đuôi thuyền lúc mũi trốc lên cao. Chiếc xuồng chao đảo và lệch hướng không ngừng. Nếu lúc đó họ dính thêm một đợt nước trắng nữa thì mọi chuyện coi như chấm hết, bởi chiếc thuyền sẽ hoàn toàn vượt quá tầm kiểm soát của đôi tay mệt mỏi. Dẫu vậy, sự may mắn đã mỉm cười với họ, những nỗ lực của Jesse đã làm chiếc thuyền nhẹ đi trông thấy, trong khi những người khác vẫn giữ cho mũi thuyền hướng thẳng, chéo góc với những con sóng dài.

Chẳng ai trong số họ biết mình đã chèo trong cảnh đau tim như thế đến bao lâu, nhưng có cảm giác như đã mấy tiếng đồng hồ trôi qua. Chắc chắn phải mất hai hoặc ba tiếng trước khi họ bắt đầu vươn tới được vùng nước khuất gió của mỏm đất nhô ra gần nhất ở bờ bên kia vũng biển. Tới lúc này họ đã kiệt sức, cánh tay run rẩy, khuôn mặt tái mét vì gắng sức quá độ, nhưng họ không dám dừng lại và cứ thế gồng mình chèo tiếp. Bỗng nhiên Skookie lên tiếng.

“Karosha!” cậu kêu lên. “Sắp ổn rồi, ổn cả rồi! Tớ nghe tiếng sóng vỡ ở đằng kia kìa.”

Ý cậu ta là giờ đây cậu đã nghe thấy tiếng sóng bạc đầu vỗ ì oạp dọc theo bờ biển phía bên họ. Tiếng gầm rú của sóng mỗi lúc một rõ hơn khi họ chèo tiến vào, và giờ đây những con sóng cuộn đã bớt phần khổng lồ, tốc độ tiến của họ cũng tăng lên khi gió bị chặn lại bởi mỏm đất nhô ra ở đầu bãi biển.

Tiếng sóng vỡ bờ tự thân nó đã mang theo một điềm gở. Giữa vùng biển động dữ dội này, không phải ai cũng có thể đưa thuyền vào bờ an toàn qua làn nước hiểm trở đó. Rob rất khôn ngoan khi quyết định hỏi ý kiến Skookie trong hoàn cảnh này, khi mà cuối cùng họ đã có thể nhìn thấy dải viền nước trắng xóa đang cuồn cuộn vỡ tung tóe dọc theo bãi cuội.

Cậu thiếu niên người Aleut không tỏ ra quá lo lắng. Cậu bảo họ ngừng chèo khi tiếp cận dải sóng vỡ dài đầu tiên, rồi dùng chính đôi mái chèo của mình giữ chiếc thuyền lại trong một phút, mắt đảo nhìn ra phía sau để chờ đợi thời điểm thích hợp. Một con sóng lớn ập về phía họ, nhưng ngay trước khi nó vỡ tung, Skookie thét lên một tiếng và tất cả cùng đồng loạt văng dầm chèo mạnh, lao theo đúng đỉnh của con sóng đó và bám sát ngay phía trước điểm nó vỡ ra. Nhờ vậy, chiếc thuyền của họ đã được sóng đẩy vọt lên tận cao trên bãi cát.

Đúng vào khoảnh khắc chuẩn xác, Skookie nhảy phắt xuống nước ngập đến ngang thắt lưng giữa dòng nước trắng xóa cuồn cuộn. Ngay lập tức Rob cũng nhảy ra ở phía bên kia. Con sóng rút kéo theo chiếc xuồng suýt trôi ngược lại, nhưng họ đã giữ chặt lấy nó; và một ngọn sóng tiếp theo nâng bổng chiếc thuyền lên, nhấc bổng cả bọn lên khỏi mặt đất trong giây lát, rồi hất nó vọt lên cao hơn nữa trên bãi biển, sát ngay mép ngấn nước triều cường. Ngay khi đáy thuyền chạm đất, tất cả đều nhảy ra và cùng sức kéo chiếc thuyền lên thật cao, nơi khô ráo. Tại đây, họ dùng dây buộc chặt mũi thuyền vào một mỏm đá lởm chởm nhô ra từ vách núi ven bờ. Sau đó, quá mệt mỏi chẳng thể làm gì thêm nữa, và giờ đây đang run rẩy trong cơn chấn động tâm lý sau hiểm họa vừa trúng tránh, họ ngã vật xuống bãi biển thở hồng hộc, với những khuôn mặt tái mét phóng tầm mắt nhìn ra vùng biển bão bùng đang gầm thét dưới chân. Trải nghiệm vừa rồi đã khiến tất cả thực sự bàng hoàng tỉnh ngộ. Cuối cùng Rob lên tiếng, đứng dậy chuẩn bị cho quãng đường đi bộ dọc bãi biển về căn nhà barabbara cũ.

“Tớ biết lúc nãy mình nghĩ gì khi con sóng vỡ tung dưới chân chúng ta,” cậu nói; “và tớ cũng biết mình đã làm gì nữa.”

“Ừ, và,” Jesse nói khi cùng những người khác đứng dậy bước theo cậu, “tớ cũng biết tối nay trước khi ngủ mình sẽ làm gì. Tớ sẽ nhớ đọc kinh cầu nguyện.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.