Khi bắt đầu viết cuốn sách này, tôi biết một câu chuyện mà tôi phải giải quyết trước.
Câu chuyện xảy ra như sau, một chiếc máy bay bị rơi xuống một hòn đảo hoang ở Thái Bình Dương, những người may mắn sống sót là vài học sinh người Anh. Các cậu bé không tin vào vận may của mình, cứ như thể chúng vừa hạ cánh xuống một vùng đất giống như trong những câu chuyện phiêu lưu kì thú. Chẳng có gì ngoài bãi biển, vỏ ốc và nước. Và tuyệt vời nhất là không có người lớn.
Ngày đầu tiên, các cậu bé thiết lập một nền dân chủ. Một cậu bé tên là Ralph được bầu làm thủ lĩnh của nhóm. Cậu là người khỏe mạnh, có khả năng thuyết phục và điển trai, cả nhóm đặt rất nhiều hi vọng vào cậu. Kế hoạch của Ralph dành cho cả nhóm chỉ đơn giản là: vui vẻ, sống sót và phát tín hiệu để những con tàu đi qua đến cứu.
Điều đầu tiên đã thành công. Hai điều còn lại thì sao? Cũng thành công nhưng không nhiều. Hầu hết các cậu bé đều quan tâm đến việc tiệc tùng và vui đùa hơn là trông coi ngọn lửa báo tin. Jack, cậu bé tóc đỏ, ham mê săn bắn và theo thời gian, cậu cùng các bạn mình ngày càng trở nên liều lĩnh hơn. Cuối cùng khi một con tàu đi qua đảo, chúng đã bỏ lỡ việc đốt lửa cầu cứu.
“Cậu đã phá quy định!” Ralph giận dữ kết tội.
Jack nhún vai, “Ai thèm quan tâm chứ?”
“Quy định là điều duy nhất chúng ta có!”
Khi màn đêm buông xuống, các cậu bé bị nỗi sợ hãi bóp nghẹt. Các cậu lo sợ những con thú mà các cậu tin là đang lởn vởn trên đảo rình rập. Nhưng con thú duy nhất ở trên hòn đảo lại đang nằm trong chính bọn trẻ. Chẳng bao lâu, chúng bắt đầu vẽ mặt, cởi bỏ hết quần áo và phát tiết những ham muốn như: cấu, véo, đá và cắn.
Trong tất cả các cậu bé, chỉ một người cố giữ được cái đầu lạnh. Piggy, biệt danh mà người khác đặt cho cậu vì cậu mập và lùn nhất trong đám, ngoài ra cậu còn bị hen, cận thị và không biết bơi. Piggy là tiếng nói của lý trí, nhưng chẳng ai lắng nghe. Cậu rầu rĩ tự hỏi: “Chúng ta là gì vậy? Những con người hay con vật, hay là giống man rợ nào đó?”
Nhiều tuần trôi qua. Một ngày nọ, có một sĩ quan hải quân Anh đến để giải cứu những đứa trẻ. Hòn đảo giờ là một hoang địa âm ỉ. Ba đứa trẻ, trong đó có Piggy, đã chết. Viên sĩ quan tiếp cận bọn trẻ đã nói: “Tôi cứ nghĩ rằng một nhóm con trai người Anh thì có thể tạo ra màn thể hiện hay ho hơn thế.” Ralph, thủ lĩnh của nhóm các cậu bé, từng là người rất chuẩn mực và hành xử lễ độ, đã bật khóc.
Tiếng khóc đó có thể hiểu là: “Ralph khóc than vì sự kết thúc của những ngây thơ. Và cũng có thể vì sự tăm tối của tâm hồn con người…”
Thực tế, câu chuyện trên không hề có thật, nó được một giáo viên người Anh tên là William Golding viết và xuất bản năm 1951. “Viết ra một câu chuyện về vài cậu bé trên một hòn đảo, cho thấy bọn trẻ sẽ thật sự hành xử như thế nào, không phải là một ý tưởng hay sao?” William Golding từng hỏi vợ mình như vậy.[1]
Cuốn sách của Golding, Lord of the Flies[2], đã bán được hàng chục triệu bản, được dịch ra hơn 30 ngôn ngữ và được xếp vào danh sách những tác phẩm văn học kinh điển của thế kỉ 20.
Khi nhìn lại, điều khiến cuốn sách đạt được thành công hiện lên rõ ràng, có thể thấy Golding là bậc thầy về khả năng khắc họa những tầng sâu, tăm tối nhất của con người. Trong lá thư lần đầu gửi nhà xuất bản, ông đã viết: “Thậm chí, nếu được làm lại cuộc đời thì bản chất của chúng ta vẫn buộc chúng ta vấy bẩn nó.”[3] Cho đến tận sau này ông vẫn nhận xét: “Con người sinh ra thói xấu như con ong làm ra mật.”[4]
Dĩ nhiên, Golding cũng là người mang tâm thức thời đại (Zeitgeist) của những năm 1960, khi thế hệ mới chất vấn cha mẹ mình về những hành động tàn bạo họ đã làm trong Thế chiến thứ Hai. Họ muốn tìm hiểu xem trại tập trung Auschwitz có phải là một sự dị thường hay liệu có một tên phát xít nào đó luôn ẩn nấp bên trong chúng ta hay không?
Trong Chúa Ruồi, William Golding đã tập trung lột tả vế thứ hai và ngay lập tức tạo được một cơn địa chấn. Lionel Trilling, một nhà phê bình văn học lớn cho rằng cuốn tiểu thuyết “đánh dấu bước đột phá về văn hóa”.[5] Cũng chính nhờ cuốn tiểu thuyết này mà Golding đã giành được giải Nobel Văn học vào năm 1983. Hội đồng Nobel Thụy Điển từng nhận xét, “tác phẩm của ông đã soi sáng hoàn cảnh của con người trên thế giới ngày nay bằng sự sáng suốt của nghệ thuật kể chuyện hiện thực cùng sự đa dạng và phổ quát của thần thoại”.
Cho đến nay, Chúa Ruồi được độc giả đón nhận không chỉ với tư cách là một cuốn tiểu thuyết đơn thuần, mà ẩn sâu trong nội dung nó còn có nhiều tầng giá trị hơn thế. Chắc chắn, tiểu thuyết này có thể xếp cùng kệ với những cuốn tiểu thuyết khác, tuy nhiên việc Golding đào sâu, mô tả kĩ bản chất con người đã nâng tầm để nó trở thành một cuốn sách giáo khoa đúng nghĩa về lý thuyết vỏ ngoài. Trước Golding, chưa một ai từng thử sức với đề tài chủ nghĩa hiện thực chân thực khi xây dựng tuyến nhân vật chính là những đứa trẻ. Thay vì viết những câu chuyện cổ tích ủy mị, hay những ngôi nhà trên thảo nguyên mênh mông hoặc những chàng hoàng tử nhỏ bé cô đơn, thì đây – có vẻ vậy – là một cái nhìn dữ dội xem trẻ con thật sự là gì.
❀ ❀ ❀
[1] William Golding nhớ lại điều này trong phần giới thiệu ấn phẩm đọc ghi âm cuốn sách của ông sản xuất những năm 1980. Xem William Golding, Lord of the Flies. Read by the author (Listening Library, 2005).
[2] Cuốn sách được phát hành ở Việt Nam với tựa đề Chúa Ruồi.
[3] John Carey, William Golding. The Man Who Wrote Lord of the Flies (London, 2010), tr. 150.
[4] William Golding, The Hot Gates (London, 1965), tr. 87.
[5] Arthur Krystal (biên tập), A Company of Readers. Uncollected Writings of W. H. Auden, Jacques Barzun và Lionel Trilling (2001), tr. 159.