Khi tôi đọc những nghiên cứu về bản chất chia rẽ của trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi – về cơ bản chúng rất thân thiện, nhưng có khuynh hướng bài ngoại – tôi nhớ đến “hoóc-môn tình yêu” oxytocin. Đó là chất được tìm thấy với nồng độ cao ở loài cáo sống của Lyudmila Trut ở Siberia (xem Chương 3). Hiện nay các nhà khoa học khám phá ra rằng hoóc-môn này đóng vai trò quan trọng trong tình yêu và cảm xúc, đồng thời nó cũng có thể khiến chúng ta thiếu tin tưởng vào những người xa lạ.
Liệu oxytocin có thể giúp chúng ta giải thích được tại sao người tốt lại làm những việc xấu không? Liệu những mối quan hệ chặt chẽ với nhóm của chúng ta có khiến chúng ta cảm thấy thù nghịch với những người ở nhóm khác không? Và liệu tính hòa đồng vốn giúp cho giống loài Homo puppy chinh phục được thế giới, lại chính là nguồn gốc gây ra những hành động gây hấn tồi tệ nhất lịch sử nhân loại chăng?[1]
Mới đầu, tôi vẫn cho rằng mạch suy nghĩ này khó xảy ra. Rốt cuộc, con người có một bản năng ấn tượng khác bắt nguồn từ sâu thẳm trong bản chất “cún con” của mình: khả năng cảm nhận sự đồng cảm. Chúng ta có thể bước ra khỏi cái kén của chính mình và xỏ đôi giày của người khác. Chúng ta được lập trình để cảm nhận – ở cấp độ tình cảm – việc trở thành người xa lạ là như thế nào.
Chúng ta không chỉ làm được điều này, mà chúng ta còn làm rất giỏi. Con người là những máy hút chân không đầy cảm xúc, luôn hút cảm giác của người khác. Chẳng hạn như sách vở và phim ảnh có thể khiến chúng ta cười hoặc khóc một cách dễ dàng. Với tôi, những bộ phim buồn trên các chuyến bay là một điều gì đó thật tệ (vì tôi phải liên tục bấm nút tạm dừng để những hành khách ngồi xung quanh không cảm thấy cần phải an ủi tôi).[2]
Suốt một thôi gian dài, tôi cho rằng bản năng tuyệt vời về việc cảm nhận nỗi đau của người khác có thể giúp mọi người xích lại gần nhau hơn. Điều mà thế giới cần chắc chắn là nhiều thấu cảm hơn nữa. Nhưng khi tôi đọc được một cuốn sách mới xuất bản của một trong những nhà nghiên cứu nổi tiếng, chuyên nghiên cứu về trẻ nhỏ – giáo sư Bloom – tôi đã suy nghĩ khác.
Khi mọi người hỏi giáo sư Bloom rằng, cuốn sách của ông nói về cái gì, ông trả lời:
“Nó nói về sự thấu cảm.”
Họ mỉm cười và gật đầu, cho tới khi ông nói thêm:
“Nhưng tôi phản đối điều đó.”[3]
Paul Bloom không hề đùa. Theo nhà tâm lý học này, thấu cảm không phải là vầng dương phát xuất từ tâm nhằm chiếu sáng thế giới. Nó là một ngọn đèn, hơn nữa còn là một ngọn đèn pha. Nó khu biệt một con người cụ thể hay một nhóm người trong cuộc đời bạn, và trong lúc bạn bận rộn thu nhận mọi cảm xúc và đắm mình trong tia sáng đó thì phần còn lại của thế giới sẽ trở nên nhạt nhòa.
Hãy cùng tìm hiểu thí nghiệm dưới đây do một nhà tâm lý học khác tiến hành. Trong thí nghiệm này, trước tiên những tình nguyện viên sẽ được nghe kể về câu chuyện buồn của Sheri Summers, một đứa trẻ 10 tuổi đang mắc một căn bệnh chết người. Cậu nằm trong danh sách chờ để được điều trị, tuy nhiên thời gian của cậu đang cạn dần. Những nhà nghiên cứu nói với các đối tượng nghiên cứu rằng họ có thể thay đổi thứ tự của Sheri trong danh sách chờ, nhưng họ được yêu cầu phải đưa ra quyết định này một cách khách quan nhất.
Hầu hết mọi người đều không cân nhắc chuyện ưu ái Sheri. Họ hiểu rõ rằng mọi đứa trẻ trong danh sách đó đều mắc bệnh nặng và cần được điều trị càng sớm càng tốt.
Sau đó đến một nhóm các đối tượng nghiên cứu khác và lần này có sự thay đổi đôi chút. Họ cũng nhận được kịch bản tương tự, nhưng sau đó họ được đề nghị thử hình dung xem Sheri sẽ cảm thấy thế nào bằng các câu hỏi: Họ không đau lòng khi chứng kiến cô gái bé bỏng này mắc bệnh và đau đớn sao? Hóa ra chỉ một yếu tố thấu cảm này thôi đã đủ để thay đổi mọi thứ. Giờ đây đa số những người trong thí nghiệm đó đều muốn đẩy thứ tự chữa bệnh của Sheri lên trước. Nếu suy nghĩ kĩ hơn về điều này bạn sẽ thấy đây là một lựa chọn đạo đức khá bấp bênh. Ngọn đèn pha rọi vào Sheri đồng nghĩa với việc những đứa trẻ khác có thể chết bất cứ lúc nào bởi chúng phải chờ đợi lâu hơn.[4]
Giờ chúng ta có thể nghĩ: “Chính xác! Đó là lý do chúng ta cần thấu cảm hơn nữa.” chúng ta không chỉ cần đặt mình vào vị trí của Sheri, mà còn cần đặt mình vào vị trí của những đứa trẻ khác đang trong danh sách chờ trên khắp thế giới. Nhiều tình cảm hơn nữa, nhiều cảm xúc hơn nữa, nhiều thấu cảm hơn nữa!
Nhưng đó không phải là cách vận hành của các ngọn đèn pha. Hãy tiếp tục và hãy thử thực hiện những điều sau: Hình dung chính bạn đang ở vị trí của người khác. Giờ hãy tưởng tượng bạn ở vị trí của một trăm người khác. Và một triệu. 7 tỉ người thì sao nào?
Đơn giản là chúng ta không làm nổi.
Thực tế, Giáo sư Bloom nói thấu cảm là một kĩ năng hạn chế đến mức đáng thương.
Đó là điều chúng ta dành cho những người gần gũi với chúng ta; cho những người chúng ta có thể ngửi, nhìn, nghe hay chạm vào. Cho gia đình và bạn bè, cho những người hâm mộ ban nhạc yêu thích của ta, và có lẽ cho cả anh chàng vô gia cư sống ở góc phố nhà chúng ta. Với những chú chó con đáng yêu, chúng ta có thể vuốt ve và âu yếm chúng, trong khi lại ăn thịt những con vật bị ngược đãi ở các trang trại nhà máy khuất mắt trông coi. Và cho những người chúng ta thấy trên tivi – chủ yếu là những người được máy quay cận cảnh, trong khi tiếng nhạc u buồn nổi lên làm nhạc nền.
Khi tôi đọc cuốn sách của Bloom, tôi bắt đầu nhận ra thấu cảm chẳng khác gì hiện tượng của thời hiện đại: Tin tức. Trong Chương 1, chúng ta đã thấy rằng tin tức cũng có chức năng như một ngọn đèn. Nếu sự thấu cảm khiến chúng ta lạc lối khi quay cận cảnh vào một trường hợp cụ thể, thì tin tức cũng đánh lừa chúng ta bằng cách tập trung vào những điều khác thường.
Có một điều chắc chắn là: một thế giới tốt đẹp hơn không bắt đầu bằng nhiều thấu cảm hơn. Có chăng, sự thấu cảm làm cho chúng ta bớt vị tha, vì chúng ta càng nhận diện rõ nạn nhân thì chúng ta càng khái quát hóa kẻ thù của mình.[5] Ngọn đèn pha sáng quắc chỉ chiếu rọi một vài lựa chọn khiến chúng ta trở nên mù mờ về những đối thủ, bởi vì tất cả những người khác, dù là đồng minh hay kẻ thù, đều không ở trong tầm nhìn của chúng ta.[6]
Đây chính là cơ chế mà chuyên gia Brian Hare nói đến – cơ chế làm cho chúng ta là giống loài thân thiện và cũng độc ác nhất trên hành tinh. Sự thật đáng buồn là sự thấu cảm và bài ngoại luôn luôn song hành cùng nhau. Chúng là hai mặt của cùng một đồng xu.
❀ ❀ ❀
[1] Xem thêm Hejing Zhang chủ biên, “Oxytocin Promotes Coordinated Outgroup Attack During Intergroup Conflict in Humans”, eLife (ngày 25 tháng 1 năm 2019).
[2] Hiển nhiên, tôi không đơn độc. Xem Elijah Wolfson, “Why We Cry on Planes”, The Atlantic (ngày 1 tháng 10 năm 2013).
[3] Paul Bloom, Against Empathy. The Case for Rational Compassion (New York, 2016), tr. 15.
[4] Daniel Batson, “Immorality from Empathy-induced Altruism: When Compassion and Justice Conflict,: tạp chí Personality and Social Psychology, tập 68, số 6 (1995).
[5] Michael N. Stagnant và Paul Bloom, ‘The Paradoxical Effect of Empathy on the Willingness to Punish’, Đại học Yale, bản thảo chưa xuất bân (2016). Xem thêm Bloom, Against Empathy, tr. 195.
[6] Các nhà tâm lý học nhắc đến điểm này như là “khoảng trống lên mặt đạo đức” – xu hướng nhận thức rằng điều có hại ảnh hưởng lên chúng ta (hoặc những người chúng ta quan tâm) thế nào đó lại tồi tệ hơn nhiều so với bất kì điều có hại nào chúng ta gây cho người khác. Việc tấn công một người được yêu quý gây khó chịu cho chúng ta đến mức chúng ta tìm cách trả miếng, việc chúng ta xem là thỏa đáng và chính đáng khi thực hiện, nhưng hoàn toàn quá đáng khi người khác làm vậy, thúc đẩy chúng ta đáp trả. (Bạn có thể đã trải qua kiểu cãi vã leo thang này trong các mối quan hệ. Khoảng trống lên mặt đạo đức cũng có thể giúp chúng ta hiểu hàng thập kỉ đổ máu ở Israel và Palestine. Nhiều người đổ lỗi cho tình trạng thiếu sự thấu cảm, nhưng tôi thì tin đúng hơn là ở Trung Đông có quá nhiều sự thấu cảm).