Tất cả bắt đầu với những moai đầy bí ẩn.
Mulloy cho rằng, vì một lý do nào đó, cư dân đảo Phục Sinh không thể tìm đủ số lượng những khối đá khổng lồ. Lần lượt, từng bức tượng khổng lồ được đục đẽo và kéo vào vị trí. Các vị thủ lĩnh đầy lòng đố kị đòi hỏi những tượng moai ngày một lớn, vì thế, ngày càng cần nhiều lương thực để nuôi lực lượng lao động, và để vận chuyển được các bức tượng thì càng phải chặt hạ nhiều cây cối trên đảo.
Nhưng một hòn đảo hữu hạn thì không thể đáp ứng được nhu cầu vô hạn của con người. Rồi cũng đến ngày toàn bộ cây cối biến mất. Đất đai bị rửa trôi khiến cho năng suất cây trồng giảm đi. Không còn gỗ đóng xuồng thì không thể ra khơi đánh bắt cá. Việc xây dựng các bức tượng bị đình trệ và căng thẳng gia tăng. Một cuộc chiến tranh nổ ra giữa hai bộ lạc (tộc Tai dài và tộc Tai ngắn mà Katherine Routledge đã nghe kể) nhanh chóng leo thang thành một trận chiến lớn diễn ra vào khoảng năm 1680, kết quả là tộc Tai dài gần như bị tiêu diệt hoàn toàn.
Mulloy cho biết những cư dân còn sống tiếp tục lối sống hoang đàng nguy hại, họ đã kéo đổ hết các moai. Tệ hơn, họ bắt đầu xoa dịu cơn đói bằng việc ăn thịt nhau. Cư dân trên đảo vẫn kể lại rằng tổ tiên họ là những kẻ ăn thịt đồng loại. Từ đó, xuất hiện một câu chửi thề quen thuộc là “răng tao vẫn còn giắt thịt mẹ mày”.[1] Các nhà khảo cổ đã đào được vô số mũi tên bằng đá vỏ chai, hay mata’a – bằng chứng của đợt tàn sát diễn ra trên quy mô lớn.
Vậy là khi Jacob Roggeveen lên đảo Phục Sinh vào năm 1722, ông đã gặp một nhóm cư dân khốn khổ khoảng vài nghìn người. Thậm chí bây giờ, mỏ đá ở Rano Raraku nơi các moai được đục đẽo, cho ta ấn tượng về một công xưởng bị bỏ lại một cách vội vã đột ngột. Những chiếc đục vẫn còn nằm la liệt trên đất, với hàng trăm moai dang dở, chưa đục đẽo xong.
Cuốn sách của William Mulloy cho thấy bước đột phá trong việc vén bức màn bí ẩn của đảo Phục Sinh. Ít lâu sau, rất nhiều các nhà nghiên cứu khác đã bổ sung thêm bằng chứng chứng minh suy luận và hướng nghiên cứu của ông là đúng, chẳng hạn vào năm 1984, các nhà địa lý người Anh đã công bố phát hiện của họ về các hạt phấn hoa hóa thạch ở cả ba miệng núi nửa trên đảo, khẳng định giả thuyết rằng hòn đảo này từng được một khu rừng phủ kín.[2]
Cuối cùng, Jared Diamond, giáo sư địa lý nổi tiếng thế giới chính là người làm cho lịch sử bi thảm của đảo Phục Sinh được “lưu danh” muôn thuở.[3] Trong cuốn sách bán chạy năm 2005 với tựa đề Collapse[4], Diamond đã đúc kết những sự thật quan trọng sau:
• Đảo Phục Sinh có người Polynesia đến cư ngụ từ sớm, vào khoảng năm 900.
• Phân tích về số lượng nơi cư ngụ được khai quật đã cho thấy dân số trên đảo từng đạt đến 15.000 người.
• Tượng moai không ngừng tăng về kích thước, do đó nhu cầu về nhân lực, lương thực và gỗ cũng tăng theo.
• Các bức tượng được vận chuyển theo chiều ngang trên các thân gỗ, huy động một lượng lớn nhân công, sử dụng rất nhiều cây cối và cần một thủ lĩnh mạnh mẽ để giám sát các hoạt động.
• Cuối cùng không còn cây cối nữa, đất đai bị rửa trôi, nông nghiệp đình đốn và nạn đói xảy ra.
• Khoảng năm 1680 một cuộc nội chiến nổ ra.
• Khi Jacob Roggeveen đến đảo năm 1722, chỉ còn vài nghìn cư dân sống sót. Rất nhiều tượng moai đã bị giật đổ và cư dân đảo ăn thịt lẫn nhau.
Vậy câu chuyện trên có ý nghĩa gì?
Đó là lời cảnh báo về giá trị đạo đức của chính chúng ta. Sau khi đọc xong câu chuyện về đảo Phục Sinh, chúng ta thấy được hình ảnh của trái đất trong đó. Nếu coi đảo Phục Sinh là một đốm nhỏ trên đại dương mênh mông, thì trái đất cũng là một đốm nhỏ trong vũ trụ bao la. Cư dân đảo không có thuyền để thoát khỏi đó; chúng ta không có tàu vũ trụ để bay khỏi trái đất. Đảo Phục Sinh bị mất đi những cánh rừng và dân cư quá đông; hành tinh của chúng ta thì ngày càng ô nhiễm và đang nóng dần lên.
Điều này có vẻ hoàn toàn trái ngược với những lập luận của tôi trong các chương trước. “Sự tham lam của con người là vô hạn. Sự ích kỉ của họ có vẻ là bẩm sinh di truyền,” đó là điều mà hai nhà khảo cổ Paul Bahn và John Flenley đã viết trong cuốn sách Easter Island, Earth Island (tạm dịch: Đảo Phục Sinh, Đảo Trái đất).[5]
Khi bạn mừng thầm rằng mình đã bác bỏ được lý thuyết vỏ ngoài của Hobbes, thì đúng lúc đó nghi ngờ lại tăng gấp đôi và quay lại giống như một chiếc boomerang.
Dường như câu chuyện đảo Phục Sinh lại một lần nữa xác nhận quan điểm yếm thế về nhân loại. Khi hành tinh của chúng ta tiếp tục ấm lên, chúng ta tiếp tục tiêu tốn năng lượng và gây ô nhiễm, đảo Phục Sinh như một hình ảnh ẩn dụ hoàn hảo về tương lai của trái đất. Hãy quên giống loài Homo puppy và sự dã man cao quý. Giống loài chúng ta giống như một loại virus hoặc dịch châu chấu. Một thứ dịch bệnh lan tràn cho tới khi mọi thứ trở nên cằn cỗi và sụp đổ – cho tới khi quá muộn.
Vì thế đây là bài học của đảo Phục Sinh. Lịch sử của hòn đảo đã được kể đi kể lại trong các phim tài liệu hoặc những cuốn tiểu thuyết, trong các từ điển bách khoa hoặc các bài báo cáo, trong các bài viết học thuật hoặc các cuốn sách khoa học nổi tiếng. Chính tôi cũng đã viết về nó. Suốt một thời gian dài, tôi tin bí mật của đảo Phục Sinh đã được William Mulloy, Jared Diamond và nhiều nhà khoa học khác tìm thấy câu trả lời. Vì nếu nhiều chuyên gia hàng đầu như vậy đưa ra những kết luận ảm đạm, giống hệt nhau, thì còn lại gì để tranh cãi nữa?
Sau đó, tôi đã đọc được tác phẩm của Jan Boersema.
❀ ❀ ❀
[1] Jared Diamond, Collapse. How Societies Choose to Fail or Succeed (New York, 2005), tr. 109.
[2] J. R. Flenley và Sarah M. King, “Late Quaternary Pollen Records from Easter Island”, Science (ngày 5 tháng 1 năm 1984).
[3] Diamond nợ sử gia Clive Ponting, người viết về đảo Phục Sinh trong cuốn A Green History of the World của ông (1991). Ở trang đầu, Ponting mô tả đảo đúng như Roggeveen đã thấy: “khoảng 3.000 người sống trong những túp lều lau sậy tồi tàn hoặc hang động, tham gia vào chiến tranh gần như liên miên và đành phải ăn thịt đồng loại trong một nỗ lực tuyệt vọng nhằm bổ sung nguồn thức ăn ít ỏi sẵn có trên đảo”.
[4] Cuốn sách được phát hành ở Việt Nam với tựa đề Sụp đổ.
[5] Paul Bahn và John Flenley, Easter Island, Earth Island (London, 1992).