Nhân Loại - Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng

Lượt đọc: 1239 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
04

❊ ❊ ❊

Hiện tại, văn hóa của chúng ta tràn ngập biết bao câu chuyện huyễn hoặc dễ gây ra đau đớn cho người khác. Hãy nghĩ đến những người hùng hiếu chiến như Rambo và anh chàng Indiana Jones[1] suốt ngày đánh nhau. Hãy nhìn cách mà những cuộc chiến bằng nắm đấm diễn ra trên phim ảnh và các chương trình truyền hình – nơi bạo lực lan tràn như một bệnh dịch: một nhân vật vấp chân hoặc chẳng may ngã vào một người khác và bị người này giáng một cú đấm, rồi ngay khi bạn chưa kịp hiểu điều gì đã xảy ra thì liền bị ném vào giữa cuộc chiến “tất cả chống lại tất cả”.

Nhưng hình ảnh được Hollywood xào nấu có rất nhiều chi tiết liên quan đến bạo lực trong đời thực giống như phim khiêu dâm so với tình dục thực tiễn. Thực tế, khoa học đã chứng minh rằng bạo lực không có tính lây lan, nó không kéo dài lâu và cũng chẳng dễ dàng xảy ra.

Càng đọc về những phân tích của Đại tá Marshall và những nghiên cứu sau đó, tôi càng nghi ngờ quan điểm về bản chất hiếu chiến của chúng ta. Suy cho cùng, nếu Hobbes đúng, thì chúng ta sẽ cảm thấy thích thú khi giết chết người khác. Đúng là sự thỏa mãn từ việc giết chóc có thể không cao như tình dục, nhưng chắc chắn sẽ không gây ra một ác cảm sâu sắc khiến chúng ta sợ hãi.

Mặt khác, nếu Rousseau đúng, vậy thì những kẻ lang thang du mục hẳn vô cùng yêu chuộng hòa bình. Trong trường hợp đó, chúng ta có lẽ đã phát triển ác cảm bản năng của mình theo hướng giết chóc qua hàng vạn năm mà giống loài Homo puppy lan ra cư ngụ khắp Trái đất.

Lẽ nào Steven Pinker, nhà tâm lý học với cuốn sách rất có tầm ảnh hưởng, lại nhầm? Lẽ nào những số liệu thống kê đầy sức thuyết phục của ông về con số tử vong rất cao trong các cuộc chiến tranh tiền sử – mà tôi háo hức trích dẫn trong các cuốn sách và bài viết trước kia – lại sai?

Tôi quyết định quay lại điểm xuất phát. Lần này, tôi tránh xa những ấn phẩm dành cho độc giả phổ thông và đi sâu hơn vào những tác phẩm mang tính hàn lâm. Không bao lâu tôi đã nhận ra mẫu chung trong các tác phẩm đó. Khi một nhà khoa học khắc họa con người như là loài linh trưởng giết người, thì giới truyền thông nhanh chóng đưa tin về công trình đó. Nhưng nếu có một ý kiến trái ngược hoàn toàn, thì chẳng mấy ai nghe.

Điều này khiến tôi tự hỏi: Phải chăng chúng ta đang bị sự tò mò về những điều kinh dị và hoành tráng của chính mình đánh lừa? Sẽ ra sao nếu chân lý khoa học đi ngược hoàn toàn với những ấn phẩm bán chạy và được trích dẫn nhiều nhất khiến chúng ta tin?

Hãy gặp lại Raymond Dart, người đã kiểm tra số hài cốt đầu tiên được khai quật của người Australopithecus africanus vào những năm 1920. Sau khi kiểm tra chỗ xương bị tổn thương của giống người hai triệu năm tuổi này, ông rút ra kết luận rằng họ hẳn là những động vật ăn thịt khát máu.

Đó là kết luận gây ra chấn động. Bạn hãy xem những bộ phim như Planet of the Apes (tạm dịch: Hành tinh khỉ) bản đầu tiên hay 2001: A Space Odyssey (tạm dịch: 2001: Hành trình không gian), vốn thu được bộn tiền từ giả thiết vượn sát thủ. Đạo diễn của bộ phim là Stanley Kubrick đã xác nhận trong một cuộc phỏng vấn rằng: “Tôi quan tâm đến bản chất tàn bạo và bạo lực của con người, vì đó là hình ảnh thực của con người.”[2]

Mãi cho tới nhiều năm sau, các nhà khoa học mới thật sự nhận ra rằng hài cốt pháp y của Australopithecus africanus chỉ dẫn đến một hướng hoàn toàn khác. Hiện nay, các chuyên gia nhất trí rằng những chỗ xương bị tổn thương không phải bởi các giống người khác gây ra (vũ khí bằng đá, ngà voi, hay sừng), mà bởi các loài thú săn mồi. Ngay cả cá thể có phần sọ được Raymond Dart phân tích năm 1924 cũng vậy. Năm 2006, kết luận mới được đưa ra: thủ phạm là một loại chim săn mồi cỡ lớn.[3]

Còn loài tinh tinh, người anh em gần gũi của chúng ta, được biết đến là kẻ xé rời chi của nhau, thì sao? Chúng không phải là bằng chứng sống cho thấy sự khát máu được tôi luyện từ trong gen của chúng ta sao?

Đây tiếp tục là một điểm gây tranh cãi. Cùng với những vấn đề khác, các học giả không nhất trí về câu trả lời cho câu hỏi tại sao tinh tinh lại tấn công đồng loại của chúng. Một số người cho rằng chính sự can thiệp của con người là nguyên nhân, cho rằng nếu bạn thường xuyên cho tinh tinh ăn chuối – như Jane Goodall ở Tanzania – sẽ khiến chúng trở nên hung hãn hơn. Nói cho cùng, chẳng ai muốn để vuột mất những món ngon này.[4]

Lời giải thích này nghe thì có vẻ trêu ngươi và không mấy thuyết phục. Câu trả lời nhằm giải quyết dứt điểm vấn đề là một nghiên cứu lớn được thực hiện từ năm 2014, nghiên cứu này đã đưa ra những dữ liệu được tập hợp tại 18 đàn tinh tinh trong khoảng thời gian 50 năm.[5] Bất kể họ nhìn nhận vấn đề theo cách nào thì các nhà khoa học cũng không tìm thấy mối tương quan giữa số lượng tinh tinh giết đồng loại và sự can thiệp của con người. Họ đi đến kết luận rằng tinh tinh có năng lực tàn bạo mà không cần tác nhân kích thích bên ngoài.

May thay, cây phả hệ của chúng ta có nhiều nhánh hơn. Chẳng hạn, khỉ đột ưa hòa bình hơn nhiều. Hay tinh tinh lùn cũng yêu hòa bình hơn thế. Những loài linh trưởng này, với cổ mảnh mai, xương tay mềm và răng nhỏ, thích chơi đùa cả ngày, hết sức thân thiện và chẳng bao giờ trưởng thành hoàn toàn.

Vậy, liệu nó có gióng lên hồi chuông cảnh báo nào không? Chắc chắn là có rồi, các nhà sinh vật nghi ngờ rằng, giống như Homo puppy, tinh tinh lùn tự thuần hóa. Khuôn mặt chúng, thật ngẫu nhiên, trông giống người đến kì lạ.[6] Nếu chúng ta muốn vẽ những đường song song thì đây chính là điểm xuất phát.

Nhưng cuộc tranh luận sôi nổi này liên quan gì đến người họ hàng gần gũi nhất của chúng ta? Con người không phải là tinh tinh, và cũng chẳng phải tinh tinh lùn. Chúng ta đang nói chung về hơn 200 giống loài linh trưởng khác nhau, với những sự khác nhau đáng kể giữa chúng. Robert Sapolsky, một nhà linh trưởng học hàng đầu, tin rằng vượn không có gì nhiều để dạy chúng ta về tổ tiên của chính chúng ta, ông cho rằng, “Cuộc tranh luận này hoàn toàn vô nghĩa.”[7]

Chúng ta cần trở lại câu hỏi thật sự – câu hỏi đã thu hút Hobbes và Rousseau.

Những con người đầu tiên hung bạo đến mức nào?

Lúc trước tôi đã nói có hai cách để tìm ra câu trả lời cho câu hỏi này. Một: nghiên cứu những cư dân săn bắt hái lượm ngày nay vẫn đang sống cuộc sống hệt như tổ tiên chúng ta. Hai: đào tìm xương cổ và các hài cốt khác mà tổ tiên chúng ta để lại.

Hãy bắt đầu với cách thứ nhất. Tôi đã đề cập đến cuốn The Fierce People của Napoleon Chagnon, cuốn sách nhân chủng học bán chạy nhất mọi thời đại. Chagnon cho biết người Yanomami ở Venezuela và Brazil có khá nhiều mâu thuẫn dẫn đến việc gây chiến, và những người đàn ông Yanomami ưa chém giết lại có số con cái nhiều gấp ba lần những đối tác chuộng hòa bình của họ (đó là “những kẻ nhút nhát”, theo ngôn từ của Chagnon[8]).

Nhưng nghiên cứu của ông đáng tin cậy đến mức nào? Các nhà khoa học đồng thuận rằng hầu hết các bộ lạc hiện vẫn đang sống cuộc sống săn bắt hái lượm không thể đại diện cho cách tổ tiên của chúng ta đã sống. Họ bị ảnh hưởng bởi quá nhiều thứ trong xã hội văn minh và có mối liên hệ thường xuyên với những nông dân và cư dân thành thị. Thực tế, việc họ bị các nhà nhân chủng học theo dõi khiến cho họ “bị lây nhiễm” như một quần thể nghiên cứu. (Thật tình cờ, một vài bộ lạc “bị lây nhiễm” đời sống hiện đại nhiều hơn cả người Yanomami. Để đổi lại sự hợp tác của họ, Chagnon cung cấp rìu và dao rựa, sau đó kết luận rằng những người này vô cùng bạo lực).[9]

Vậy còn lời khẳng định của Chagnon, những kẻ giết người có nhiều con hơn những người yêu hòa bình thì sao? Nó thật sự chẳng giúp được gì cho hiểu biết của chúng ta cả. Khi tiến hành nghiên cứu, ông đã phạm hai sai lầm nghiêm trọng. Thứ nhất, ông quên tính đến vấn đề tuổi tác: theo cơ sở dữ liệu mà ông đưa ra, những kẻ giết người trung bình già hơn “những kẻ nhút nhát” tận mười tuổi. Cho nên người 35 tuổi có nhiều con hơn người 25 tuổi là điều chẳng có gì ngạc nhiên cả.

Sai lầm thứ hai của Chagnon là ở chỗ, ông chỉ tính những hậu duệ vẫn còn sống của những kẻ giết người. Ông bỏ qua thực tế là những người giết hại người khác thường sẽ phải nhận quả báo. Nói cách khác đó là bị trả thù. Bỏ qua những trường hợp này và bạn có thể lập luận rằng, để chơi xổ số thì phải trả tiền.[10]

Sau khi nhà nhân chủng học viếng thăm, người Yanomami có thêm một từ mới trong vốn từ vựng của họ: anthro. Nghĩa là gì ư? “Thứ không phải con người với những khuynh hướng rối loạn sâu sắc và tính cách lập dị hoang dã.”[11] Năm 1995, nhân vật anthro cụ thể này bị cấm, không bao giờ được bước vào lãnh thổ của người Yanomami.

Rõ ràng, cuốn sách bán chạy của Chagnon chẳng nhận được sự quan tâm nào. Nhưng chúng ta vẫn còn nguyên lời chứng là hơn 800 trang của nhà tâm lý học Steven Pinker với toàn bộ biểu đồ và bảng biểu được coi là bằng chứng hùng hồn về bản chất tàn bạo của chúng ta.

Trong cuốn The Better Angels of Our Nature, Pinker đã tính toán tỉ lệ giết người trung bình ở 8 xã hội nguyên thủy, kết quả thu được là một con số đáng báo động: 14%. Con số này xuất hiện trên khắp các tạp chí uy tín như Science và thường xuyên được báo chí cùng các chương trình truyền hình trích dẫn. Tuy nhiên, khi các nhà khoa học khác xem xét nguồn tài liệu của ông, họ phát hiện ra ông đã mắc phải một vài nhầm lẫn.

Tuy những sự nhầm lẫn này mang tính kĩ thuật, nhưng chúng ta cần biết ông đã sai ở chỗ nào. Chúng ta muốn tìm ra câu trả lời cho câu hỏi: Có đúng là những nhóm người săn bắt và hái lượm hiện nay sẽ tiết lộ cho chúng ta biết cách loài người sống ở 50.000 năm trước? Suy cho cùng, chúng ta là những cư dân du mục trong 95% lịch sử nhân loại, lang thang khắp thế giới theo từng nhóm nhỏ tương đối bình đẳng.

Nghiên cứu của Pinker gần như tập trung vào các nền văn hóa lai. Đây là những người săn bắt và hái lượm, nhưng họ cũng cưỡi ngựa và chung sống trong các khu định cư hoặc có canh tác. Hiện tại các nền văn hóa lai này khá phổ biến. Con người không trồng trọt cho tới 10.000 năm trước và ngựa chưa được thuần hóa cho tới 5.000 năm trước. Nếu bạn muốn hình dung ra cách đây 50.000 năm, tổ tiên của chúng ta sống như thế nào, thì ngoại suy từ những người biết nuôi ngựa và chăm sóc những mảnh đất trồng rau, sẽ chẳng có ý nghĩa gì.

Thậm chí nếu chúng ta nhất trí với các phương pháp của Pinker, dữ liệu vẫn có vấn đề. Theo nhà tâm lý học này, 30% ca tử vong trong số người Aché ở Paraguay (bộ lạc số 1 trong danh sách của ông) và 21% ca tử vong của người Hiwi ở Venezuela và Colombia (bộ lạc số 3) là do chiến tranh. Thường những tộc người này khá khát máu.

Tuy nhiên, nhà nhân chủng học Douglas Fry lại hoài nghi về dữ liệu của Pinker. Sau khi nghiên cứu các nguồn ban đầu, ông phát hiện rằng toàn bộ 46 trường hợp của người Aché được Pinker phân loại là “tử vong do chiến tranh” thực tế liên quan đến một thành viên bộ lạc được cho là “bị người Paraguayan bắn”.

Người Aché không hề giết hại nhau, nhưng lại bị “đám người buôn nô lệ săn đuổi hoặc bị cư dân khu vực biên giới Paraguay tấn công”, nguồn tài liệu ban đầu đã cho biết như vậy, trong khi bản thân người Aché “khao khát xây dựng mối quan hệ hòa bình với các nước láng giềng hùng mạnh hơn”. Người Hiwi cũng hệt như vậy. Tất cả đàn ông, phụ nữ và trẻ em được Pinker liệt kê là chết do chiến tranh, sự thật lại là họ bị các chủ trang trại gia súc địa phương giết hại vào năm 1968.[12]

Tỉ lệ giết người cao như vậy không phải do họ tàn sát lẫn nhau, mà những cư dân du mục này là nạn nhân của các điền chủ “văn minh” sử dụng những vũ khí tiên tiến. Fry đã viết: “Các biểu đồ cột và bảng số liệu mô tả tỉ lệ phần trăm […] thể hiện sự khách quan của khoa học. Nhưng hóa ra nó chỉ là một sự lừa dối.”[13]

Vậy chúng ta học được gì từ ngành nhân chủng học hiện đại? Điều gì xảy ra nếu chúng ta kiểm tra một xã hội không có khu định cư, không có nông nghiệp và không có ngựa – một xã hội cho chúng ta thấy rõ loài người đã từng sống như thế nào?

Chắc hẳn bạn đã đoán được: khi nghiên cứu những kiểu xã hội này, chúng ta nhận ra rằng chiến tranh rất hiếm khi xảy ra. Dựa trên bản danh sách các bộ lạc đại diện được soạn cho tạp chí Science năm 2013, Douglas Fry kết luận rằng các cư dân du mục săn bắt hái lượm thường tránh để xảy ra bạo lực.[14] Những cư dân du mục sẽ chọn cách hoặc là nói ra những xung đột của họ, hoặc chỉ việc tiếp tục di chuyển sang thung lũng tiếp theo. Điều này nghe rất giống với các cậu bé trên đảo Ata: khi mất bình tĩnh, chúng sẽ tới những khu vực khác nhau trên đảo để bình tĩnh lại.

Còn một điều nữa. Các nhà nhân chủng học cho rằng các mạng lưới xã hội tiền sử rất nhỏ. Người cổ đại săn bắt hái lượm theo từng nhóm khoảng 30-40 người có quan hệ thân thích, họ nghĩ vậy. Bất kì cuộc chạm trán nào với các nhóm khác cũng nhanh chóng dẫn tới chiến tranh.

Nhưng vào năm 2011, một nhóm nhân chủng học người Mỹ đã vẽ ra các mạng lưới xã hội của 32 xã hội nguyên thủy trên khắp thế giới, từ người Nunamuit ở Alaska tới người Vedda ở Sri Lanka. Họ nhận ra rằng, hóa ra những người du mục rất hòa đồng. Họ thường xuyên tụ tập để cùng ăn uống, tiệc tùng, ca hát và kết hôn với người của các bộ tộc khác.

Đúng, họ thường lang thang săn bắt hái lượm theo từng nhóm nhỏ khoảng 30-40 người, nhưng những nhóm này chủ yếu gồm bạn bè, không phải gia đình, và họ cũng thường xuyên thay đổi thành viên. Kết quả là, những cư dân săn bắt hái lượm xây dựng được một mạng lưới xã hội vô cùng rộng lớn. Trong trường hợp người Aché ở Paraguay và người Hadza ở Tanzania, một nghiên cứu năm 2014 tính toán rằng, trung bình một thành viên trong bộ lạc thường gặp tới một nghìn người trong suốt cuộc đời họ.[15]

Tóm lại, có rất nhiều điều chứng minh rằng một người tiền sử có rất nhiều bạn bè. Liên tục gặp gỡ những người mới nghĩa là liên tục học được những điều mới mẻ, và chỉ bằng cách đó loài người mới trở nên khôn ngoan hơn người Neanderthal.[16]

Còn một cách khác để trả lời câu hỏi tại sao bản chất của người xưa lại hung hãn đến vậy. Đó là tiến hành các cuộc khai quật. Khảo cổ học có thể đem lại bằng chứng thuyết phục nhất để giải quyết cuộc tranh cãi giữa Hobbes và Rousseau, vì tư liệu hóa thạch không hề bị “lây nhiễm” bởi những nhà nghiên cứu như cách các bộ lạc từng bị. Tuy nhiên có một vấn đề: những cư dân săn bắt hái lượm đi lại rất nhanh nhẹn và nhẹ nhàng. Họ không có nhiều đồ đạc và cũng không để lại gì nhiều.

Nhưng thật may cho chúng ta, có một chi tiết quan trọng. Những bức tranh vẽ trong hang động. Nếu trạng thái tự nhiên của chúng ta là “một cuộc chiến tranh tất cả chống lại tất cả” kiểu Hobbes, khi đó bạn sẽ kì vọng rằng ai đó, tại thời điểm đó, sẽ vẽ một bức tranh về cuộc chiến ấy. Nhưng chúng ta lại chưa hề tìm thấy bất kì một bức tranh nào như vậy. Trong số hàng nghìn bức tranh hang động có từ thời săn bắt bò rừng, ngựa và linh dương, chẳng hề có lấy một bức tranh nào mô tả nào về những cuộc chiến.[17]

Còn những bộ xương cổ thì sao? Steven Pinker viện dẫn 21 cuộc khai quật có tỉ lệ giết người trung bình là 15%. Nhưng cũng như trước, danh sách của Pinker ở đây hơi lộn xộn. 20 trong số 21 cuộc khai quật có niên đại từ sau khi phát minh ra nông nghiệp, thuần hóa ngựa, hoặc sự xuất hiện của các khu định cư, chúng đều quá gần đây hay còn gọi là quá mới.

Vậy có bao nhiêu bằng chứng khảo cổ về chiến tranh cổ đại, trước giai đoạn có nông nghiệp, cưỡi ngựa và sống trong các khu vực định cư? Có bao nhiêu bằng chứng cho thấy rằng chiến tranh nằm sâu trong bản chất chúng ta?

Câu trả lời là gần như không có.

Tới nay, khoảng 3.000 bộ xương Homo sapiens được khai quật tại 400 địa điểm đủ để nói cho chúng ta biết về “bản chất tự nhiên” của mình.[18] Các nhà khoa học khi nghiên cứu về những địa điểm này không hề tìm thấy bất kì bằng chứng thuyết phục nào về việc từng xảy ra cuộc chiến tranh tiền sử.[19] Những giai đoạn muộn hơn lại là một câu chuyện khác. Nhà nhân chủng học nổi tiếng Brian Ferguson từng nói: “Chiến tranh không lùi xa mãi mãi theo thời gian. Nó có sự khởi đầu.”[20]

❀ ❀ ❀

[1] Indiana Jones: là một nhân vật giả tưởng trong loạt phim Mỹ có chủ đề khảo cổ học.

[2] Craig McGregor, “Nice Boy from the Bronx?’’, New York Times (ngày 30 tháng 1 năm 1972).

[3] Lee Berger, “Brief Communication: Predatory Bird Damage to the Taung Type-Skull of Australopithecus africanus Dart 1925”, American Journal of Physical Anthropology (ngày 31 tháng 5 năm 2006).

[4] Về cuộc tranh luận này, xem John Horgan, “Anthropologist Brian Ferguson Challenges Claim that Chimp Violence is Adaptive”, Scientific American (ngày 18 tháng 9 năm 2014).

[5] Michael L. Wilson chủ biên, “Lethal Aggression in Pan is Better Explained by Adaptive Strategies than Human Impacts”, Nature (ngày 18 tháng 9 năm 2014).

[6] Brian Hare, “Survival of the Friendliest: Homo sapiens Evolved via Selection for Prosociality”, Annual Review of Psychology (2017), tr. 162-3.

[7] Robert Sapolsky, “Rousseau with a Tail. Maintaining a Tradition of Peace Among Baboons”, trong War, Peace, and Human Nature. The Convergence of Evolutionary and Cultural Views (Oxford, 2013), tr. 421.

[8] John Horgan, “The Weird Irony at the Heart of the Napoleon Chagnon Affair”, Scientific American (ngày 18 tháng 2 năm 2013).

[9] Robert Sapolsky, Behave. The Biology of Humans at Our Best and Worst (London, 2017), tr. 314.

[10] R. Brian Ferguson, “Born to Live: Challenging Killer Myths”, trong Robert W. Sussman và C. Robert Cloninger (biên tập), Origins of Altruism and Cooperation (New York, 2009), tr. 258-9.

[11] Trích trong Christopher Ryan và Cacilda Jetha, Sex at Dawn. How We Mate, Why We Stray, and What It Means for Modern Relationships (New York, 2010), tr. 196.

[12] Douglas Fry, “War, Peace, and Human Nature: The Challenge of Achieving Scientific Objectivity”, trong Douglas Fry (biên tập). War, Peace, and Human Nature. The Convergence of Evolutionary and Cultural Views (Oxford, 2013), tr. 18-19.

[13] Như trên, tr. 20.

[14] Douglas TR. Fry và Patrik Soderberg, “Lethal Aggression in Mobile Forager Bands and Implications for the Origins of War’’, Science (ngày 19 tháng 7 năm 2013).

[15] Kim R. Hill chủ biên, “Hunter-Gatherer Inter-Band Interaction Rates. Implications for Cumulative Culture”, PLoS One (ngày 24 tháng 6 năm 2014).

[16] K. R. Hill chủ biên, “Co-residence Patterns in Hunter-Gatherer Societies Show Unique Human Social Structure” Science (ngày 11 tháng 3 năm 2011). Xem thêm Coren L. Apicella, “Social networks and cooperation in hunter-gatherers”, Nature (ngày 26 tháng 1 năm 2012).

[17] Jonathan Haas và Matthew Piscitelli, “The Prehistory of Warfare. Misled by Ethnography”, trong Douglas Fry (biên tập), War, Peace, and Human Nature, tr. 178-81.

[18] Như trên, tr. 181-3.

[19] Hai điểm khai quật liên tục được trích dẫn là cung cấp “bằng chứng” đầu tiên về chiến tranh thời tiền sử. Điểm thứ nhất là Jebel Sahaba ở bắc Sudan, nơi vào năm 1964 các nhà khảo cổ tìm thấy 61 xương có niên đại xấp xỉ 13.000 năm trước, trong số đó 21 xương có những dấu vết của cái chết do bạo lực. Phân tích gần đây hơn giảm số lượng này xuống còn 4. Xem Robert Jurmain, “Paleoepidemiolgical Patterns of Trauma in a Prehistoric Population from Central California”, trên American Journal of Physical Anthropology (ngày 12 tháng 4 năm 2001). Người dân Jebel Sahaba sống trên bờ sông Nile màu mỡ và xây dựng một nghĩa địa cho người chết, nên rất có thể họ đã sống trong các khu định cư. Địa điểm thường được đề cập thứ hai là Naturuk, gần Hỗ Turkana ở Kenya, nơi tìm thấy 27 xương (mang những dấu vết của bạo lực), ước tính 10.000 năm tuổi. Khi các nhà khảo cổ công bố phát hiện này trên tạp chí Nature năm 2016, truyền thông toàn cầu săn đón như là “bằng chứng” chắc chắn cho thấy con người bẩm sinh là những sinh vật hiếu chiến. Nhưng người ta vẫn tranh cãi về ý nghĩa của Naturuk. Nhiẽu nhà khảo cổ chỉ ra rằng bờ hồ Turkana là một địa điểm màu mỡ nơi cư dân săn bắt hái lượm quy tụ, nên rất hợp lý là họ đã họp nhất đo đạc của mình và từ bỏ lối sống du mục. Vài tháng sau khi bài báo này xuất hiện, tờ Nature xuất bản một phản ứng từ nhóm khảo cổ khác đặt vấn đề về giá trị pháp lý của kểt luận cho rằng các “nạn nhân” này đã có một kết cục bạo lực. Bài viết thứ hai này bị hầu hết truyền thông phớt lờ. Xem Christopher M. Stojanowski chủ biên, “Contesting the Massacre at Nataruk”, Nature (ngày 24 tháng 11 năm 2016). Thậm chí không có những tranh cãi này, điều quan trọng là nhận thấy rằng – ngoài Jebel Sahaba và Naturuk – không còn bằng chứng nào về bất kì cuộc chiến tranh tiền sử nào, trái ngược hoàn toàn với tình trạng tràn ngập bằng chứng khảo cổ không hề gây tranh cãi (dưới dạng tranh hang động và mộ tập thể) về chiến tranh trong thời kì sau khi con người bắt đầu sống trong các khu định cư và làm nông nghiệp.

[20] R. Brian Ferguson, “Pinker’s List. Exaggerating Prehistoric War Mortality”, trong Douglas Fry (biên tập), War, Peace, and Human Nature, tr. 126. Xem thêm Hisashi Nakao chủ biên, “Violence in the Prehistoric Period of Japan: The Spatio-Temporal Pattern of Skeletal Evidence for Violence in the Jomon Period”, Biology Letters (ngày 1 tháng 3 năm 2016).

Nguyên tác Humankind: A Hopeful History - Người dịch Nguyễn Xuân Hồng
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.