Nhân Loại - Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng

Lượt đọc: 1219 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
05

❊ ❊ ❊

Câu chuyện này đưa chúng ta trở lại câu hỏi tôi nêu ở đầu chương. Điều gì làm cho loài người độc nhất vô nhị? Tại sao chúng ta lại xây dựng các bảo tàng trong khi người Neanderthal thì bị đặt trong những tủ trưng bày?

Hãy xem kết quả của 38 bài kiểm tra được thực hiện với động vật linh trưởng và trẻ nhỏ. Những gì tôi không chú ý đề cập trước đó là các chủ thể cũng được đánh giá dựa trên kĩ năng thứ tư: học hỏi xã hội. Nghĩa là, kĩ năng học từ những chủ thể khác. Và kết quả của bài kiểm tra này tiết lộ một điều khá thú vị.

Kết quả này đã chứng minh một cách hoàn hảo là năng giúp con người trở nên vượt trội. Tinh tinh và đười ươi đạt kết quả ngang bằng với đứa trẻ hai tuổi ở gần như tất cả các bài kiểm tra nhận thức. Nhưng khi đến bài kiểm tra kĩ năng học hỏi xã hội thì trẻ em đã giành chiến thắng. Hầu hết bọn trẻ đều đạt 100% điểm tối đa còn tinh tinh và đười ươi là 0 điểm.

Hóa ra, con người lại là những cỗ máy học hỏi siêu xã hội. Chúng ta sinh ra để học, gắn kết và chơi. Có lẽ không có gì làm lạ rằng đỏ mặt là biểu hiện chỉ có ở loài người, của riêng loài người mà thôi. Nói cho cùng, đỏ mặt là biểu hiện mang tính xã hội – chỉ có con người mới thể hiện họ quan tâm đến những điều người khác nghĩ, điều này giúp nuôi dưỡng niềm tin và thúc đẩy hợp tác.

Điều tương tự cũng xảy ra khi chúng ta nhìn thẳng vào mắt nhau, vì con người có một đặc điểm kì lạ khác: mắt chúng ta có lòng trắng. Đặc điểm này giúp chúng ta nhận biết người khác đang nhìn theo hướng nào. Tất cả những loài động vật linh trưởng khác, tổng cộng hơn 200 loài, sản sinh ra melanin nhuộm màu mắt chúng. Đó là lý do tại sao những người chơi bài thường đội mũ lưỡi trai, phần lưỡi trai sẽ che khuất hướng ánh nhìn của họ.

Chúng ta không chỉ là con người, chúng ta còn là những cuốn sách mở; đối tượng chú ý của chúng ta dễ đoán đến mức ai cũng nhận thấy. Bạn hãy thử hình dung tình bạn và tình yêu của con người sẽ trở nên thế nào nếu chúng ta không thể nhìn vào mắt nhau. Chúng ta có thể thấy tin tưởng người khác bằng cách nào? Brian Hare cũng nghi ngờ rằng đôi mắt khác thường của chúng ta cũng là một sản phẩm nữa của quá trình thuần hóa con người. Khi chúng ta tiến hóa để mang tính xã hội hơn, chúng ta cũng bắt đầu bộc lộ những suy nghĩ và cảm xúc bên trong của mình nhiều hơn.[1]

Thêm một điều nữa là gờ lông mày, torus supraorbitalis, của loài sapien chúng ta phẳng hơn người Neanderthal hay tinh tinh và đười ươi. Các nhà khoa học cho rằng việc gờ lông mày nhô ra có thể gây trở ngại cho việc giao tiếp, bởi vì chúng ta sử dụng lông mày của mình để thể hiện cảm xúc theo những cách tinh vi nhất.[2] Hãy thử thể hiện sự ngạc nghiên, cảm thông hay chán ghét và chú ý xem lông mày của bạn thể hiện được bao nhiêu phần cảm xúc đó.

Tóm lại, con người là bất kì điều gì ngoại trừ khuôn mặt lạnh như tiền. Chúng ta liên tục bộc lộ cảm xúc và được lập trình để luôn tương tác với những người xung quanh. Nhưng thay vì là một điều bất lợi, thì nó lại trở thành siêu sức mạnh cho chúng ta, bởi vì những người quảng giao không chỉ hài hước hơn mà còn thông minh hơn.

Cách tốt nhất để định nghĩa điều này là hình dung một hành tinh chỉ có hai bộ tộc cư ngụ: Thiên tài và Bắt chước. Tộc Thiên tài gồm những người giỏi giang, cứ 10 người lại có một người sáng chế ra thứ gì đó thật sự đáng kinh ngạc (chẳng hạn cần câu) ở một thời điểm trong đời họ. Tộc Bắt chước kém thông minh hơn, cho nên chỉ một trong số 1000 người mới học được cách câu cá. Điều đó làm cho tộc Thiên tài khôn ngoan gấp trăm lần tộc Bắt chước.

Nhưng tộc Thiên tài có một vấn đề. Họ không hề hòa đồng. Trung bình, một người Thiên tài sáng chế ra được cần câu thì chỉ có một người bạn để anh ta có thể dạy cách câu cá. Trung bình người Bắt chước có mười bạn, điều này làm cho họ hòa đồng gấp mười lần.

Giờ chúng ta cứ cho rằng dạy ai đó câu cá rất khó khăn và chỉ thành công một nửa. Câu hỏi là: Vậy nhóm nào hưởng lợi nhiều nhất từ những phát minh kia? Theo tính toán của nhà nhân chủng học Joseph Henrich, chỉ một trong năm người Thiên tài học được cách câu cá, một nửa là do tự thân nghĩ ra và nửa kia là học từ người khác. Ngược lại, mặc dù chỉ 0,1% người Bắt chước tự hình dung ra kĩ thuật này, nhưng 99,9% số họ đều có thể câu được cá, bởi vì họ học hỏi từ người Bắt chước khác.[3]

Người Neanderthal cũng hơi giống người Thiên tài. Về cá nhân, bộ não của họ lớn hơn nhưng tập hợp lại thì họ lại không xuất sắc. Tự thân, một người Homo neanderthalensis có thể tinh khôn hơn bất kì người Homo sapiens nào, nhưng người sapien sinh sống thành các nhóm lớn, di trú từ nhóm này sang nhóm khác thường xuyên hơn và còn có thể là những người bắt chước giỏi hơn. Nếu người Neanderthal là cỗ máy tính siêu nhanh, thì chúng ta là một chiếc PC đời cũ nhưng có wi-fi. Chúng ta chậm hơn, nhưng kết nối tốt hơn.

Một số nhà khoa học cho rằng: sự phát triển của ngôn ngữ con người cũng là một sản phẩm từ khả năng hòa đồng của chúng ta.[4] Ngôn ngữ là ví dụ tuyệt vời về một hệ thống mà người Bắt chước có thể không tự nghĩ ra nhưng lại học được từ nhau, theo thời gian xuất hiện những người biết nói rất giống như cách những con cáo của Lyudmila bắt đầu biết sủa.

Vậy điều gì xảy ra với người Neanderthal? Có phải giống loài Homo puppy đã tiêu diệt họ hoàn toàn?

Quan điểm này có thể trình bày thành một cuốn sách hay một tài liệu tuyệt vời, nhưng không hề có manh mối khảo cổ để củng cố quan điểm đó. Giả thuyết hợp lý hơn là con người chúng ta có thể thích ứng tốt hơn với các điều kiện khí hậu khắc nghiệt ở kỉ Băng Hà cuối cùng (115.000-15.000 năm trước) vì chúng ta phát triển khả năng làm việc nhóm và đoàn kết hơn.

Vậy những nghiên cứu, phân tích trong cuốn sách Gen vị kỉ đáng buồn kia thì sao? Nó rất hợp với lối suy luận của những năm 1970 – một thời kì được tạp chí New York tung hô như là “thập niên của cái tôi”. Cuối những năm 1990, một người hâm mộ Richard Dawkins quyết định đem những ý tưởng của ông áp dụng vào thực tiễn. Cuốn sách không mang lại sự bi quan, mà ngược lại, còn truyền cảm hứng cho CEO Jeffrey Skilling điều hành cả một tập đoàn – gã khổng lồ năng lượng Enron – dựa trên cơ chế lòng tham. Skilling thiết lập hệ thống “Rank & Yank” (xếp hạng để loại bỏ) nhằm đánh giá thành tích làm việc ở Enron. Điểm 1 đặt bạn vào danh sách những nhân viên đứng đầu của công ty và cho bạn tiền thưởng hậu hĩnh. Điểm 5 đẩy bạn vào nhóm đáy, nhóm “bị gửi tới Siberia” – bên cạnh việc bị bẽ mặt, nếu bạn không tìm được một vị thế khác trong vòng hai tuần, bạn sẽ bị sa thải. Kết quả của cơ chế này là việc hình thành văn hóa kinh doanh Hobbes với sự cạnh tranh khốc liệt giữa các nhân viên. Đến cuối năm 2001 tin tức lộ ra rằng Enron có liên quan đến vụ gian lận kế toán quy mô lớn. Cuối cùng khi mọi việc lắng xuống, Skilling phải ngồi tù.

Ngày nay, 60% các công ty lớn nhất ở Mỹ vẫn áp dụng một hình thức biến thể nào đó của hệ thống Rank & Yank.[5] Sau cuộc khủng hoảng tín dụng 2008, nhà báo Joris Luyendijk nói về khu vực dịch vụ tài chính London như sau: “Đó là một vũ trụ Hobbes, tất cả chống lại tất cả, với những mối quan hệ có cùng đặc điểm: tởm lợm, hung bạo và ngắn ngủi.”[6] Những công ty như Amazon và Uber giống hệt nhau, để nhân viên chống lại nhau một cách rất hệ thống và bài bản. Uber, theo lời một nhân viên giấu tên, là một “khu rừng Hobbes, nơi bạn sẽ không bao giờ vượt lên trừ phi có ai đó chết”.[7]

Khoa học tiến bộ rất nhiều kể từ thập niên 1970. Trong các ấn bản tái bản của Gen vị kỉ, Richard Dawkins loại bỏ những khẳng định của mình về tính ích kỉ bẩm sinh của con người, và giới sinh vật học không còn tin vào lý thuyết này. Mặc dù đấu tranh và cạnh tranh là điều hiển hiện trong quá trình tiến hóa của cuộc sống, nhưng mọi sinh viên ngành sinh vật học năm thứ nhất đều được dạy rằng hợp tác là điều quan trọng hơn nhiều.

Đây là chân lý xưa như trái đất. Tổ tiên của chúng ta biết tầm quan trọng cũng như sức mạnh của tập thể và hiếm khi tôn sùng các cá nhân. Các cư dân săn bắt hái lượm trên thế giới, từ những lãnh nguyên lạnh nhất tới những sa mạc nóng nhất tin rằng mọi thứ đều được gắn kết với nhau. Họ xem mình như một phần của một cộng đồng lớn hơn, cộng đồng đó lại kết nối với tất cả động thực vật và Mẹ Thiên nhiên. Có lẽ họ hiểu về môi trường sống của con người nhiều hơn chúng ta ngày nay.[8]

Có khi nào bạn tự hỏi: Liệu sự cô độc có thể làm chúng ta phát ốm không? Hoặc việc thiếu những mối tương tác với con người có thể so sánh với chuyện hút 15 điếu thuốc một ngày không?[9] Hay nuôi thêm một con vật sẽ giảm bớt rủi ro mắc trầm cảm của chúng ta chăng?[10] Loài người khao khát gắn kết và tương tác.[11] Tinh thần của chúng ta mong được kết nối giống như cơ thể chúng ta cần thức ăn. Chính mong ước đó, hơn bất kì điều gì khác, đã giúp loài Homo puppy bay lên mặt trăng.

Khi hiểu ra điều này, tôi nhận ra quan niệm tiến hóa không còn là một liều thuốc giảm đau nữa. Có lẽ không hề có đấng sáng tạo và cũng chẳng có kế hoạch lớn lao nào. Có lẽ sự tồn tại của chúng ta chỉ là một sự may mắn sau hàng triệu năm mò mẫm. Nhưng ít nhất chúng ta không đơn độc. Chúng ta có nhau.

❀ ❀ ❀

[1] Quá trình thuần hóa có ảnh hưởng đến biểu hiện sắc tố melanin ở lông, điều này cũng lý giải những đốm trắng trên những con cáo của Dmitri. Brian Hare, “Survival of the Friendliest: Homo sapiens Evolved via Selection for Prosociality’’, Annuo/ Review of Psychology (2017).

[2] Ricardo Miguel Godinho, Penny Spikins và Paul O’Higgins, ‘Supraorbital Morphology and Social Dynamics in Human Evolution”, Nature Ecology & Evolution (số 2, 2018). Xem thêm Matteo Zanella, ‘Dosage analysis of the 7qll.23 Williams region identifies BAZ1B as a major human gene patterning the modern human face and underlying self-domestication”, Science Advances (ngày 4 tháng 12 năm 2019).

[3] Henrich, The Secret of Our Success, tr. 214.

[4] James Thomas và Simon Kirby, “Self domestication and the evolution of language”. Biology & Philosophy (ngày 27 tháng 3 năm 2018).

[5] Peter Turchin, Ultrasociety. How 10,000 Years of War Made Humans the Greatest Cooperators on Earth (Chaplin, 2016), tr. 48.

[6] Joris Luyendijk, “Parasitair”, NRC Handelsbiad (ngày 13 tháng 12 năm 2012).

[7] Julia Carrie Wong, “Uber’s ‘hustle-oriented’ culture becomes a black mark on employees’ resumes”, Guardian (ngày 7 tháng 3 năm 2017).

[8] Jeremy Lent, The Patterning Instinct. A Cultural History of Humanity’s Search for Meaning (New York, 2017), tr. 94-5.

[9] Julianne Holt-Lunstad, “Testimony before the US Senate Aging Committee”, aging.senate.gov (ngày 27 tháng 4 năm 2017).

[10] Helen Louise Brooks, “The Power of Support from Companion Animals for People Living with Mental Health Problems: A Systematic Review and Narrative Synthesis of the Evidence”, BMC Psychiatry (ngày 5 tháng 2 năm 2018).

[11] Cuối thập niên 1980, nhà nhân chủng học tiến hóa David Buss tiến hành một khảo sát tại 37 quốc gia, hỏi hàng vạn người họ tìm kiếm điều gì ở bạn đời. Câu trả lời của họ cho thấy có sự khác biệt nhỏ giữa hai giới. Diện mạo quan trọng với nam giới hơn, tiền bạc có ý nghĩa với phụ nữ hơn. Đương nhiên, điều này được lan truyền trên truyền thông. Những gì bị bỏ qua hoàn toàn là một đặc điểm được coi là sự đồng thuận số một: lòng tốt. Xem Dacher Keltner, “The Compassionate Species”, Greater Good Magazine (ngày 31 tháng 7 năm 2012).

Nguyên tác Humankind: A Hopeful History - Người dịch Nguyễn Xuân Hồng
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.