Để hiểu xem mọi việc sai ở đâu, chúng ta phải lùi lại 15.000 năm, tới giai đoạn kết thúc kỉ Băng Hà cuối cùng. Mãi cho tới khi đó, hành tinh này vẫn rất ít người và con người thường tụ họp với nhau để tránh rét. Thay vì một cuộc đấu tranh để sinh tồn thì lại là một cái ôm[1] để sinh tồn, và cũng để giữ cho nhau được ấm áp.[2]
Rồi khí hậu thay đổi, biến khu vực giữa sông Nile ở phía tây và sông Tigris ở phía đông trở thành vùng đất tràn trề sữa và mật. Tại đây, sự sinh tồn không còn lệ thuộc vào việc tụ tập với nhau để chống lại với các yếu tố khắc nghiệt của thiên nhiên nữa. Với nguồn cung thực phẩm dồi dào, định cư là giải pháp hợp lý. Những ngôi nhà và đền thờ được xây dựng, thị trấn và làng mạc dần hình thành và dân số tăng lên.[3]
Quan trọng hơn, của cải tư hữu cũng bắt đầu gia tăng.
Rousseau nói gì về điều này? “Người đầu tiên, sau khi rào giậu một mảnh đất, liền nạp vào trong đầu mình suy nghĩ rằng: ‘Đây là đất của ta’.” Đó là điểm mấu chốt gây ra những sai lầm tiếp theo.
Không hề dễ dàng thuyết phục mọi người rằng đất đai hay động vật – hoặc thậm chí những người khác – có thể thuộc về một ai đó bởi vì cư dân săn bắt hái lượm luôn chia sẻ với nhau mọi thứ.[4] Và hình thức sở hữu mới mẻ này xuất hiện có nghĩa là sự bất bình đẳng manh nha hình thành và phát triển. Thậm chí, khi ai đó chết đi, của cải của họ được truyền cho thế hệ tiếp theo. Một khi kiểu kế thừa này phát huy, khoảng cách giữa giàu và nghèo gia tăng.
Điều thú vị là chính tại giao lộ này, sau khi kết thúc kỉ Băng Hà cuối cùng, thì cũng là lúc những cuộc chiến tranh đầu tiên nổ ra.
Một nghiên cứu khảo cổ xác định, ngay khi chúng ta bắt đầu định cư, chúng ta cũng xây dựng những pháo đài quân sự đầu tiên. Đây cũng là khi những bức tranh hang động đầu tiên xuất hiện, mô tả các cung thủ lao vào nhau, và người ta đã tìm thấy các quân đoàn xương trong khoảng thời gian này. Trên xương có những dấu vết rõ rệt của tổn thương do bạo lực.[5]
Làm thế nào chuyện này lại xảy ra? Các học giả cho rằng có ít nhất hai nguyên nhân. Một, giờ chúng ta có tài sản để tranh giành, bắt đầu từ đất đai. Và hai, cuộc sống định cư khiến chúng ta không được phép tin tưởng vào người lạ. Cư dân du mục săn bắt hái lượm có tính cách cởi mở: bạn liên tục gặp những người mới và có thể dễ dàng gia nhập nhóm khác.[6] Còn những cư dân làng xóm, ngày càng tập trung vào cộng đồng và của cải của riêng mình. Giống loài Homo puppy chuyển từ “tứ hải giai huynh đệ” sang bài ngoại.
Cũng có những dịp chúng ta tụ tập với những người xa lạ, nhưng mỉa mai thay, là để đánh nhau. Các thị tộc bắt đầu hình thành liên minh phòng ngự để chống lại các thị tộc khác. Các thủ lĩnh xuất hiện, chắc chắn là những nhân vật có uy tín chứng tỏ được dũng khí của họ trên chiến trường. Mỗi cuộc xung đột mới lại càng củng cố vị thế của họ. Theo thời gian, những vị tướng này gắn bó với quyền lực đến mức không thể từ bỏ nó, thậm chí cả trong thời bình.
Vậy nên các tướng lĩnh thường bị phế truất thay vì tự nguyện từ bỏ quyền lực. Một sử gia ghi lại: “Hẳn đã phải có hàng nghìn kẻ nổi dậy, nhưng thất bại trong việc nắm giữ vương quyền vĩnh viễn.”[7] Nhưng cũng có những trường hợp khi việc can thiệp diễn ra quá muộn, sau khi vị tướng đã tập hợp được đủ người ủng hộ và bảo vệ mình trước quần chúng. Các xã hội thống trị bởi dòng giống cai trị kiểu này ngày càng trở nên gắn bó với chiến tranh.
Nếu chúng ta muốn hiểu về “chiến tranh”, chúng ta phải nhìn vào những người đưa ra quyết định cho cuộc chiến. Các tướng lĩnh và các vị vua, các tổng thống và cố vấn: đây chính là những Leviathan chuyên phát động chiến tranh, vi biết rằng chiến tranh sẽ thúc đẩy quyền lực và đặc quyền của họ.[8] Hãy xem Kinh Cựu ước, trong đó
Ngôn sứ Samuel cảnh báo người Israel về những hiểm họa của việc chấp nhận một vị vua. Đó là một trong những thông điệp mang tính tiên tri – và hắc ám – nhất trong Kinh thánh:
Đây là quyền hành của nhà vua sẽ cai trị anh em. Các con trai anh em, ông sẽ bắt mà cắt đặt vào việc trông coi những cỗ xe và ngựa của ông, và chúng sẽ chạy đằng trước xe của ông. Ông ta sẽ phong những người chỉ huy hàng ngàn và hàng trăm người, sẽ bắt một số người cày đất cho ông, gặt lúa cho ông, chế tạo vũ khí cho ông và dụng cụ cho xe của ông. Các con gái anh em, ông sẽ bắt vào làm thợ chế nước hoa, nấu ăn và làm bánh. Đồng ruộng, vườn nho, vườn cây ô-liu tốt nhất của anh em, ông sẽ lấy mà cho bề tôi của ông. Lúa thóc và vườn nho của anh em, ông sẽ đánh thuế thập phân mà cho các thái giám và bề tôi của ông. Các tôi tớ nam nữ, các người trai tráng khá nhất của anh em, các con lừa của anh em, ông sẽ bắt mà dùng vào việc của ông. Chiên dê của anh em, ông sẽ đánh thuế thập phân. Còn chính anh em sẽ làm nô lệ cho ông.
Sự xuất thiện của các khu định cư và sở hữu tư nhân mở đầu một thời kì mới trong lịch sử nhân loại, số lượng 1% bắt đầu áp bức 99% còn lại, và những kẻ khéo ăn khéo nói thăng tiến từ các chỉ huy lên tướng lĩnh và từ các tù trưởng thành vua chúa. Những ngày tháng tự do, bình đẳng và bác ái đã hết.
❀ ❀ ❀
[1] Bản gốc tiếng Anh chơi chữ bằng hai từ có cách phát âm găn giống nhau: struggle (đấu tranh) và snuggle (ôm ấp).
[2] Thuật ngữ “cái ôm sinh tồn” do nhà sinh vật Martin Nowak nghĩ ra. Xem Martin Nowak, “Why We Help”, Scientific American (số 1, 2012), tr.34-9.
[3] Van Schalk và Michel, The Good Book of Human Nature, tr. 44-5.
[4] Như trên, tr. 48-9.
[5] Gregory K. Dow, Leanna Mitchell và Clyde G. Reed, “The Economics of Early Warfare over Land”, tạp chí Development Economics (tháng 7 năm 2017). Phần hai của bài viết này có cái nhìn tổng quan rất hay về bằng chứng khảo cổ.
[6] Douglas w. Bird chủ biên, “Variability in the Organization and Size of Hunter-Gatherer Groups. Foragers Do Not Live in Small-Scale Societies’’ tạp chí Human Evolution (tháng 6 năm 2019).
[7] Turchin, Ultrasociety, tr. 163.
[8] R. Brian Ferguson, “Born to Live: Challenging Killer Myths”, trong Robert w. Sussman và c. Robert Cloninger (biên tập), Origins of Altruism and Cooperation (New York, 2009), tr. 265-6.