Gần 40 năm đã trôi qua kể từ khi lý thuyết “cửa sổ vỡ” lần đầu xuất hiện trên tờ The Atlantic. Suốt thời gian đó, lý thuyết của Wilson và Kelling lan tới những nơi xa xôi nhất của Hoa Kỳ, và còn lan tới châu Âu và châu Úc. Trong The Tipping Point, Malcolm Gladwell gọi lý thuyết này là một thành công vĩ đại, và trong cuốn sách đầu tiên của tôi, tôi cũng rất hào hứng phân tích nó.[1]
Nhưng điều tôi không nhận ra khi đó là, rất ít chuyên gia tội phạm học tin vào lý thuyết này. Thực tế, lẽ ra những hồi chuông báo động nên bắt đầu ngân lên ngay khi tôi đọc ở The Atlantic rằng lý thuyết của Wilson và Kelling dựa trên một thí nghiệm hết sức mơ hồ.
Trong thí nghiệm này, một nhà nghiên cứu để một chiếc xe đỗ cả tuần tại một khu dân cư cao cấp. Ông chờ đợi. Chẳng có gì xảy ra. Sau đó ông quay lại với một cái búa. Đích thân nhà nghiên cứu đập vỡ một cửa sổ ô tô. Chỉ sau vài giờ, những người qua đường bình thường đã phá tan chiếc xe.
Tên của nhà nghiên cứu là gì ư? Philip Zimbardo!
Thí nghiệm đập vỡ cửa kính xe hơi của Zimbardo, chưa bao giờ được xuất bản trên bất kì tạp chí khoa học nào, là cảm hứng cho lý thuyết cửa sổ vỡ. Và cũng như Thí nghiệm Nhà tù Stanford của ông ấy, kể từ đó lý thuyết này đã bị bóc trần triệt để. Chẳng hạn, chúng ta biết rằng đường lối cảnh sát “đổi mới” của William Bratton và những Brattonista của ông ấy không có công trong việc giảm sút tỉ lệ tội phạm ở thành phố New York. Xu hướng sụt giảm này đã diễn ra trước đó, và ở cả các thành phố khác như San Diego, nơi cảnh sát để mặc những kẻ gây rối ở mức độ nhẹ.
Năm 2015, một bài phân tích hơn 30 nghiên cứu về lý thuyết cửa sổ vỡ cho thấy rằng không có bằng chứng về việc chính sách mạnh tay của Bratton mang lại hiệu quả giúp giảm số lượng phạm tội.[2] Không, không, chắc chắn không. Các khu dân cư không hề an toàn hơn nhờ phát vé đỗ xe, cũng như bạn không thể cứu được tàu Titanic bằng việc cọ rửa sàn tàu.
Phản ứng ban đầu của tôi là: được thôi, vậy là việc bắt giữ những kẻ vô công rồi nghề và say xỉn không làm giảm số lượng tội phạm nghiêm trọng. Nhưng nó vẫn hiệu quả trong việc củng cố trật tự ở những nơi công cộng phải không?
Điều này làm nảy ra một câu hỏi cơ bản. Chúng ta đang nói về “trật tự” của ai? Vì các vụ bắt giữ ở New York tăng vọt, nên các báo cáo về hành vi sai trái của cảnh sát cũng vậy. Vào năm 2014, hàng nghìn người biểu tình tràn xuống đường phố ở New York và các thành phố khác của Hoa Kỳ, bao gồm Boston, Chicago và Washington. Khẩu hiệu của họ: “Cửa sổ vỡ, cuộc sống tiêu tan.”
Đây không phải là sự phóng đại. Theo lời của hai chuyên gia tội phạm học, chính sách mạnh tay của cảnh sát đã phải nhận nhiều lời chỉ trích:
… những phụ nữ ăn bánh trong một công viên Brooklyn; những người chơi cờ trong một công viên Inwood; những người đi tàu điện ngầm vì tội đặt chân lên ghế lúc 4 giờ sáng và một đôi vợ chồng già ở Queens bị gọi ra tòa vì không cài dây an toàn trong một đêm lạnh cóng người trong khi lái xe đi mua thuốc theo đơn. Người ta cho rằng ông già được hướng dẫn đi bộ về nhà để xác định nhân thân – cách hiệu thuốc vài khối nhà. Khi ông trở lại hiệu thuốc, các sĩ quan đã viết phiếu phạt, sử dụng một chai thuốc kê theo đơn làm căn cước. Cơn đau tim của ông già sau đó đã dẫn tới việc ông ấy tử vong.[3]
Lý thuyết đó nghe thì có vẻ hay ho nhưng thực tế lại có ngày càng nhiều những vụ bắt bớ với những lý do không đâu vào đâu. Ủy viên hội đồng Bratton bị ám ảnh với các số liệu thống kê, và các sĩ quan của ông ấy cũng vậy. Những người có số liệu các vụ bắt bớ nhiều nhất được thăng chức, trong khi những người tụt lại sau bị gọi đến để giao cho việc khác. Kết quả là một hệ thống hạn ngạch trong đó các sĩ quan cảm thấy chịu áp lực khi phải lập nhiều giấy phạt và tích lũy được càng nhiều trát gọi hầu tòa càng tốt. Thậm chí họ bắt đầu dàn dựng các vụ vi phạm. Mọi người nói chuyện trên phố ư? Bắt giữ họ vì tội cản trở giao thông công cộng. Trẻ con nhảy nhót trên tàu điện ngầm ư? Chúng bị ghi sổ vì tội gây mất trật tự.
Các tội ác nghiêm trọng lại là một câu chuyện hoàn toàn khác, các phóng viên điều tra sau này đã phát hiện ra như vậy. Các sĩ quan bị ép phải giảm số lượng báo cáo các vụ nghiêm trọng hoặc bỏ qua hết, tránh làm cho các con số của sở trở nên tệ hại. Thậm chí có những trường hợp nạn nhân bị cưỡng hiếp bị đưa ra thẩm vấn liên tu bất tận nhằm cố bẫy họ lộ ra những mâu thuẫn nhỏ xíu. Sau đó, vụ việc sẽ không được đưa vào kho dữ liệu.[4]
Trên giấy tờ, tất cả trông thật tuyệt, số lượng tội phạm giảm mạnh, số vụ bắt giữ cao ngất ngưởng và ửy viên Hội đồng Bratton trở thành người hùng của New York. Trên thực tế, bọn tội phạm được tự do đi lại trong khi hàng nghìn người vô tội trở thành đối tượng tình nghi. Đến hôm nay, các sở cảnh sát trên cả nước vẫn bám lấy triết lý của Bratton – đấy là lý do khiến các nhà khoa học tiếp tục coi các số liệu thống kê của cảnh sát Hoa Kỳ là không đáng tin cậy.[5]
Còn nữa. Lý thuyết cửa sổ vỡ còn cho thấy dấu hiệu về sự phân biệt chủng tộc. Dữ liệu cho thấy chỉ 10% những người bị bắt vì những tội nhẹ là người da trắng.[6] Trong khi đó, có rất nhiều thiếu niên da đen bị chặn lại và lục soát hằng tháng – họ bị đối xử vậy hằng năm trời – cho dù họ chẳng bao giờ phạm tội gì.[7] Lý thuyết cửa sổ vỡ đầu độc mối quan hệ giữa lực lượng thực thi pháp luật và các nhóm thiểu số, chất lên những người nghèo túng khoản tiền phạt họ không thể nộp và cũng có những hậu quả gây chết người, như trong trường hợp của Eric Garner, chết năm 2014 trong khi bị bắt vì bị cho là đang bán thuốc lá điếu rời. Garner phản đối: “Mỗi lần cảnh sát thấy tôi, họ đều muốn gây sự với tôi. Tôi mệt mỏi với việc này rồi… xin hãy để tôi yên. Tôi muốn nói với họ một lần nữa, làm ơn để tôi yên.”
Nhưng cảnh sát đã quật anh ta xuống đất và đè mạnh lên cổ. Những lời cuối cùng của Garner là: “Tôi không thở được.”
Chỉ đến bây giờ, nhiều năm sau khi đọc cuốn sách của Malcolm Gladwell, tôi môi nhận ra lý thuyết cửa sổ vỡ được phát triển dựa trên một quan điểm hoàn toàn phi thực tế về bản chất con người. Nó là một biến thể khác của lý thuyết vỏ ngoài. Nó làm cho cảnh sát ở New York đối xử với những người bình thường như những tội phạm tiềm năng: sai lầm nhỏ nhất có thể bị cho là bước đầu tiên trên con đường sa ngã hơn nữa. Nói cho cùng, cái vỏ bọc văn minh của chúng ta mỏng manh một cách kì lạ.
Trong khi đó, các sĩ quan vẫn được quản lý như thể họ không có sự phán xét của chính mình. Không có động cơ nội tại. Họ được cấp trên đào tạo, huấn luyện nhằm làm cho sở cảnh sát của mình trông ổn nhất có thể trên giấy tờ.
Phải chăng điều này có nghĩa là chúng ta nên quên đi chuyện sửa sang lại những ô cửa sổ đã vỡ trong thực tế? Dĩ nhiên là không phải. Sửa sang cửa sổ và chỉnh trang nhà cửa, lắng nghe những lo lắng của người dân địa phương là một ý tưởng tuyệt vời. Cũng giống như một nhà tù có trật tự sẽ lan tỏa sự tin tưởng, một khu phố ngăn nắp sẽ mang lại cảm giác an toàn hơn nhiều.[8] Và sau khi bạn sửa sang lại cửa sổ, bạn có thể mở chúng ra.
Nhưng lập luận của Wilson và Kelling cơ bản không phải là về những ô cửa sổ vỡ hay những đường phố đèn đóm tù mù. “Cửa sổ vỡ” là một hình ảnh ẩn dụ gây hiểu nhầm. Thực tế, chính những người dân bình thường đang bị ghi sổ điều tra, kiềm thúc và quản lý.
Giáo sư Wilson vẫn kiên định cho đến cùng, cho đến tận khi qua đời vào năm 2012, ông vẫn khăng khăng cho rằng cách tiếp cận kiểu Bratton đã tạo ra thành công rất lớn. Trong khi đó, đồng tác giả của lý thuyết ấy lại bị những mối nghi ngờ ngày càng lớn giằng xé. George Kelling cảm thấy lý thuyết cửa sổ vỡ bị áp dụng sai cách, và cái sai này ngày càng nghiêm trọng. Ông luôn lo ngại về chính những ô cửa sổ vỡ chứ không phải về việc bắt giữ và tống giam càng nhiều người da màu càng tốt.
“Có rất nhiều điều đã được làm nhân danh lý thuyết cửa sổ vỡ mà tôi thấy hối tiếc”, Kelling thừa nhận vào năm 2016. Khi ông nghe thấy những cảnh sát trưởng trên cả nước viện dẫn lý thuyết của mình, thì hai từ vụt lên trong tâm trí ông là: “Mẹ kiếp.”[9]
Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta đảo ngược lý thuyết cửa sổ vỡ? Nếu chúng ta có thể thiết kế lại các nhà tù, liệu chúng ta có thể làm điều tương tự với các sở cảnh sát không?
Tôi nghĩ là có thể. Na Uy, nơi hình thành quan niệm lâu đời về cảnh sát cộng đồng, cho rằng hầu hết người dân đều là những công dân tử tế, chấp hành luật pháp. Sĩ quan cảnh sát làm việc để chiếm được niềm tin của người dân, thấm nhuần ý tưởng rằng người dân biết bạn, họ chắc chắn sẽ giúp đỡ bạn. Láng giềng sẽ cung cấp thêm manh mối, và các bậc phụ huynh sẽ nhanh chóng gọi cho cảnh sát nếu con của họ đang đi vào con đường lầm lạc.
Trở lại những năm 1970, Elinor Ostrom – nhà nghiên cứu và nhà kinh tế học (xem Chương 15) – đã tiến hành một nghiên cứu lớn nhất từng làm trong các sở cảnh sát ở Hoa Kỳ. Bà và nhóm của bà phát hiện ra rằng lực lượng nhỏ hơn luôn hoạt động hiệu quả hơn ở hiện trường, họ nhanh nhẹn hơn, giải quyết được nhiều vấn đề hơn, có các mối quan hệ tốt hơn với người dân ở khu phố và chi phí để trả cho họ cũng ít hơn. Nói chung là tốt hơn, nhân văn hơn, đỡ tốn kém hơn.[10]
Ở châu Âu, triết lý cảnh sát cộng đồng đã tồn tại được một thời gian khá dài. Các sĩ quan đều quen với việc điều phối các dịch vụ xã hội, thậm chí họ còn coi những việc họ làm là công tác xã hội.[11] Họ cũng được đào tạo rất kĩ càng. Ở Hoa Kỳ, chương trình đào tạo cảnh sát trung bình kéo dài khoảng 19 tuần, đây là điều không thể tưởng tượng nổi ở hầu hết các nước châu Âu. Ở những quốc gia như Na Uy và Đức, đào tạo những người thực thi pháp luật cần mất hơn hai năm.[12]
Tuy nhiên, hiện nay một số thành phố tại Mỹ đang thay đổi cách tiếp cận của họ. Người dân Newark, bang New Jersey đã bầu một tân thị trưởng da đen vào năm 2014, và ông ấy có tầm nhìn rõ ràng về cảnh sát hiện đại trong thành phố cần phải như thế nào. Điều đó đòi hỏi các sĩ quan, ông nói, “những người biết những người già cả trong khu vực, những người biết các thiết chế của cộng đồng, những người nhìn nhận người dân như những con người […] đó mới chỉ là bắt đầu. Khi nào anh không nhìn người dân mà anh đang giữ trật tự như con người, thì khi đó anh bắt đầu đối xử vô nhân đạo với họ.”[13]
Liệu chúng ta có thể chấp nhận nguyên tắc chìa má kia ra không? Câu hỏi này nghe có vẻ ngớ ngẩn, tuy nhiên tôi không thể không băn khoăn: Liệu một chiến lược sử dụng lối hành xử không theo thông lệ, có thể mang lại hiệu quả trong cuộc chiến chống khủng bố hay sao?
Trong quá trình tìm kiếm câu trả lời, tôi phát hiện ra rằng lối hành xử không theo thông lệ đã từng được đưa ra thử nghiệm – thực tế là ở chính đất nước tôi. Thậm chí, trong giới chuyên gia, nó còn được gọi là Cách tiếp cận Hà Lan. Nó bắt đầu từ những năm 1970, khi Hà Lan đang đối mặt với một trào lưu khủng bố tả khuynh dữ dội. Tuy nhiên, chính phủ không ban hành những luật an ninh mới còn truyền thông đã làm theo yêu cầu của cơ quan nhà nước và hạn chế đưa tin. Trong khi Tây Đức, Ý và Hoa Kỳ dùng những biện pháp mạnh để đối phó – trực thăng, chặn đường sá, binh sĩ – thì Hà Lan từ chối đáp ứng yêu cầu của những kẻ khủng bố.
Thực tế, cảnh sát Hà Lan từ chối sử dụng cả từ “khủng bố”. Họ chọn dùng từ “phong trào hoạt động chính trị bằng bạo lực” hoặc đơn giản là từ “giới tội phạm”. Còn tình báo Hà Lan bận rộn đằng sau cánh gà, thâm nhập vào các nhóm cực đoan. Họ đặc biệt theo dõi những kẻ khủng bố – xin lỗi, những kẻ tội phạm – mà không hề biến toàn bộ người dân thành đối tượng tình nghi.[14]
Việc này dẫn tới một vài tình huống hài hước, như một chi bộ Thanh niên Đỏ có đến tận ba trong số bốn thành viên là mật vụ. Tiến hành các cuộc tấn công hóa ra rất khó khăn khi mà luôn có ai đó đi tắm hoặc cầm bản đồ ngược.
Một sử gia Hà Lan kết luận: “Chính sách chống khủng bố hậu trường kịp thời, thận trọng khiến tình trạng bạo lực đi tới bế tắc.”[15] Khi một số thành viên Thanh niên Đỏ tới thăm một trại huấn luyện khủng bố ở Yemen, những kẻ khủng bố Hà Lan đã rất sốc trước sự hung hãn của các chiến binh Đức và Palestine. Quả là trải nghiệm cực kì đáng sợ. Một thành viên Hà Lan sau này kể lại: “Họ không có niềm vui.”[16]
Một ví dụ gần đây hơn về cách tiếp cận chìa má kia ra là từ thành phố Aarhus của Đan Mạch. Cuối năm 2013, cảnh sát quyết định không bắt giữ hay tống giam những người Hồi giáo trẻ muốn tới và chiến đấu ở Syria, thay vào đó các cảnh sát mời họ một tách trà. Và một cố vấn. Gia đình và bạn bè được huy động để bảo đảm rằng những thiếu niên này biết có những người luôn yêu thương họ. Đồng thời, cảnh sát cũng củng cố mối quan hệ với thánh đường địa phương.
Nhiều nhà phê bình gọi cách tiếp cận của giới chức tại Aarhus là yếu đuối và khờ khạo. Nhưng thực tế, cảnh sát đã lựa chọn một chiến lược táo bạo và khó khăn. Một thanh tra đã nói: “Việc dễ dàng là thông qua những luật mới cứng rắn. Việc khó hơn là đi trọn cả một hành trình thật sự với các cá nhân: một nhóm chuyên gia, tư vấn, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ trở lại trường học, rồi nơi làm việc, có khi cả chỗ ở […] Chúng tôi không làm việc này vì niềm tin chính trị; chúng tôi làm vì chúng tôi nghĩ nó mang lại hiệu quả.”[17]
Và nó thật sự có tác dụng. Trong khi tại các thành phố khác ở châu Âu, những đợt di cư vẫn tiếp diễn với số lượng không giảm thì tại Aarhus số chiến binh tình nguyện tham gia thánh chiến ở Syria giảm từ 30 người vào năm 2013 xuống chỉ còn 1 người vào năm 2014 và 2 người vào năm 2015. “Aarhus là nơi đầu tiên, theo hiểu biết của tôi, giải quyết [chủ nghĩa cực đoan] dựa trên những nguyên tắc và bằng chứng tâm lý học xã hội hợp lý”, một nhà tâm lý học Đại học Maiyland nhận xét.[18]
Và rồi tại Na Uy. Người dân ở đó tìm cách giữ được cái đầu lạnh, thậm chí sau vụ tấn công hãi hùng nhất trong lịch sử đất nước này, vụ tắm máu[19] diễn ra vào năm 2011 do kẻ cực đoan Anders Breivik thực hiện, thủ tướng nước này tuyên bố: “Lời đáp trả mà chúng ta cần đưa ra là dân chủ hơn nữa, cởi mở hơn nữa và nhân văn hơn nữa.”[20]
Nếu bạn phản ứng theo kiểu trên, bạn thường bị cáo buộc là đang chọn cách dễ dàng. Tuy nhiên dân chủ hơn, cởi mở hơn và nhân văn hơn chính xác là những điều không dễ dàng chút nào. Ngược lại, nói chuyện cứng rắn, trả đũa, đóng cửa biên giới, thả bom, chia thế giới thành người tốt và kẻ xấu – những điều đó mới dễ làm. Đó mới là nhìn theo cách khác.
❀ ❀ ❀
[1] Xem Rutger Bregman, Met de kennis van toen. Actuele problemen in het licht van de geschiedenis (Amsterdam, 2012), tr. 238-45.
[2] Anthony A. Braga, Brandon c. Welsh và Cory Schnell, “Can Policing Disorder Reduce Crime? A Systematic Review and MetaAnalysis”, tạp chí Research in Crime and Delinquency, tập 52, số 4 (2015).
[3] John Eterno và Eli Silverman, “Enough Broken Windows Policing. We Need a Community-Oriented Approach”, Guardian (ngày 29 tháng 6 năm 2015).
[4] TR. J. Vogt, “#127 The Crime Machine” Reply All (podcast của Gimlet Media, ngày 11 tháng 10 năm 2018).
[5] Dara Lind, “Why You Shouldn’t Take Any Crime Stats Seriously”, Vox (ngày 24 tháng 8 năm 2014). Xem thêm Liberty Vittert, “Why the US Needs Better Crime Reporting Statistics”, The Conversation (ngày 12 tháng 10 năm 2018).
[6] Michelle Chen, “Want to See How Biased Broken Windows Policing Is? Spend a Day in Court”, The Nation (ngày 17 tháng 5 năm 2018)
[7] Bản thân trật tự hóa ra lại là vấn đề nhận thức. Năm 2004, các nhà nghiên cứu ở Đại học Chicago hỏi một loạt chủ thể nghiên cứu họ nhìn thấy bao nhiêu “ô cửa sổ vỡ” ở một khu phố cả người da trắng và da đen. Các chủ thể đồng loạt xếp hạng khu phố có nhiều người Mỹ gốc Phi hơn là mất trật tự hơn, thậm chí khi việc xả rác, vẽ tranh graffiti và túm năm tụm ba giống như ở khu phố da trắng. Xem Robert J. Sampson và Stephen W. Raudenbush, “Seeing Disorder: Neighborhood Stigma and the Social Construction of ‘Broken Windows’”, Social Psychology Quarterly, tập 67, số 4 (2004). Điều đáng buồn là Wilson và Kelling đã tiên liệu điều này trong bài viết năm 1982 trên The Atlantic, viết rằng: “Làm cách nào chúng ta đoạn chắc rằng […] màu da hay gốc gác dân tộc […] cũng sẽ không trở thành cơ sở cho việc phân biệt điều không mong muốn với điều mong muốn? Làm cách nào chúng ta đoan chắc, tóm lại, rằng cảnh sát không trở thành tác nhân của tình trạng niềm tin mù quáng ở khu dân cư? Chúng tôi không thể đưa ra câu trả lời hoàn toàn thỏa mãn cho câu hỏi quan trọng này.”
[8] Xem Braga, Welsh, và Schnell, “Can Policing Disorder Reduce Crime? A Systematic Review and Meta-Analysis”.
[9] Sarah Childress, “The Problem with ‘Broken Windows’ Policing”, Frontline (ngày 28 tháng 6 năm 2016).
[10] Vlad Tarko, Elinor Ostrom. An Intellectual Biography (Lanham, 2017), tr. 32-40.
[11] Arthur A. Jones và Robin Wiseman, “Community Policing in Europe. An Overview of Practices in Six Leading Countries”, Los Angeles Community Policing (Iactr.org).
[12] Sara Miller Liana, “Why Police Don’t Pull Guns in Many Countties”, Christian Science Monitor (ngày 28 tháng 6 năm 2015).
[13] Childress, “The Problem with “Broken Windows” Policing”.
[14] Beatrice de Graaf, Theater van de angst. De strijd tegen terrorisme in Nederland, Duitsland, Italiể en Amerika (Amsterdam, 2010).
[15] Quirine Eijkman, “Interview met Beatrice de Graaf over haar boek”, Leiden University (ngày 25 tháng 1 năm 2010).
[16] Joyce Roodnat, “Het moest wel leuk blijven”, NRC Handelsblad (ngày 6 tháng 4 năm 2006).
[17] Jon Henley, “How Do You Deradicalise Returning Isis Fighters?”, Guardian (ngày 12 tháng 11 năm 2014).
[18] Hanna Rosin, “How A Danish Town Helped Young Muslims Turn Away From ISIS”, NPR Invisibilia (ngày 15 tháng 6 năm 2016).
[19] Vụ tấn công Na Uy năm 2011 gồm các cuộc tấn công khủng bố được phối hợp nhằm tấn công chính phủ, một trại hè chính trị và khu vực thường dân tại Na Uy diễn ra vào thứ Sáu, ngày 22 tháng 7 năm 2011. Vụ đầu tiên là một vụ nổ bom ở Regjeringskvartalet, trụ sở của chính phủ tại Oslo, khoảng 15h26, bên ngoài văn phòng của Thủ tướng Jens Stoltenberg và các tòa nhà chính phủ khác. Vụ đánh bom đã giết chết tám người và làm bị thương nhiều người khác. Vụ tấn công thứ hai xảy ra khoảng hai giờ sau đó tại một trại thanh thiếu niên được tổ chức bởi tổ chức thanh thiếu niên (AUF) của Công đảng Na Uy tại hòn đảo Utoya trong Tyrifjorden, Buskerud. Ít nhất một tay súng vũ trang cải trang như là một cảnh sát nổ súng tại điểm cắm trại, giết chết 69 người tham dự.
[20] Richard Orange, “‘Answer hatted with love’: how Norway tried to cope with the horror of Anders Breivik”, Guardian (ngày 15 tháng 4 năm 2012).