Vậy thì chẳng có gì là kì lạ khi Ruben, Reinier, Rienk và Wietse lao xuống dòng nước lạnh buốt của một con kênh ở Amsterdam vào buổi chiều tháng 2 đó. Đó là một phản ứng tự nhiên. Một câu hỏi được đặt ra là: Đã xảy ra chuyện gì vào ngày 13 tháng 3 năm 1964, cái đêm mà Kitty Genovese bị sát hại? Và câu chuyện nổi tiếng đó có bao nhiêu phần trăm là sự thật?
Một trong những người đầu tiên nghi ngờ sự dửng dưng, thờ ơ của các nhân chứng là một người mới đến khu Kew Gardens, Joseph De May. Sử gia nghiệp dư này chuyển đến đó 10 năm sau cái chết của Kitty và ông rất tò mò với vụ giết người đã khiến khu này trở nên nổi tiếng một cách bất đắc dĩ. Sau đó, De May quyết định thực hiện một nghiên cứu của riêng mình, ông bắt đầu rà soát các lưu trữ, lật giở những tấm ảnh bạc phếch trên các trang báo đã cũ mèm và các báo cáo của cảnh sát. Khi ông bắt đầu xâu chuỗi những chi tiết liên quan đến vụ án cách tuần tự, một bức tranh về những gì thực sự xảy ra vào đêm hôm đó dần hiện ra.
Chúng ta hãy xem xét lại từ đầu. Đây là những sự kiện đã diễn ra vào ngày 13 tháng 3 năm 1964, lần này dựa vào cuộc điều tra công phu mà De May và những người theo bước ông đã thực hiện.[1]
Vào 3 giờ 19 phút sáng, tiếng kêu hãi hùng xé toang sự im ắng của con phố Austin. Ngoài trời đang rất lạnh và hầu hết các nhà đều đóng cửa sổ. Những ngọn đèn trên phố tuy đã được thắp lên nhưng lại tỏa ra thứ ánh sáng yếu ớt đến đáng thương. Nghe thấy tiếng hét, hầu hết mọi người đều nhìn ra ngoài nhưng không nhận thấy bất kì điều gì khác lạ. Vài người nhận ra bóng của một phụ nữ đang lảo đảo trên phố nhưng họ cho rằng cô ấy đang say rượu. Chuyện đó chẳng hề bất thường, vì có một quán rượu ngay trên con phố này.
Tuy nhiên, có ít nhất hai cư dân đã nhấc điện thoại và gọi cho cảnh sát. Một trong số đó là cha của Michael Hoffmann, người cảnh sát tham gia điều tra vụ án này, và người kia là Hattie Grund, sống trong một căn hộ gần đó. Nhiều năm sau bà vẫn còn nhớ: “Họ nói đã có nhiều người gọi điện báo rồi.”[2]
Nhưng cảnh sát không đến. Cảnh sát không đến ư? Tại sao họ không rời đồn, hú còi inh ỏi chứ?
Dựa vào thông tin của những cuộc gọi đầu tiên cung cấp, cảnh sát cho rằng đây là một vụ vợ chồng cãi vã đơn thuần. Hoffmann, giờ đã về hưu, tiết lộ rằng đó là lý do họ đến hiện trường chậm trễ như vậy. Hãy nhớ rằng thời đó, mọi người không chú ý nhiều đến việc chồng đánh vợ, thời mà chuyện cưỡng hiếp giữa vợ chồng thậm chí còn không phải là tội.
Nhưng còn 38 nhân chứng kia thì sao?
Con số tai tiếng này xuất hiện trên các phương tiện truyền thông, từ bài hát, kịch đến phim bom tấn và cả những cuốn sách nằm trong top bán chạy. Đặc biệt, đó là con số được lấy từ một bản danh sách tất cả những người được các điều tra viên thẩm vấn trong vụ việc. Và tuyệt đại đa số các tên gọi trong bản danh sách đó lại không phải là nhân chứng thực sự. Nhiều người không hề nghe thấy gì, họ còn không hề thức dậy.
Có hai trường hợp ngoại lệ. Một là Joseph Fink, hàng xóm trong cùng dãy nhà. Fink là một ông già cô độc được biết đến là rất ghét người Do Thái (trẻ con trong khu gọi ông ấy là “Adolf”). Ông vẫn thức khi sự việc xảy ra, ông cũng nhìn thấy lần tấn công đầu tiên nhằm vào Kitty, tuy nhiên ông ấy không làm gì cả.
Người thứ hai bỏ mặc Kitty cho số phận là Karl Ross, một hàng xóm là bạn bè với cô và Mary Ann. Cá nhân Ross chứng kiến lần tấn công thứ hai ở lối cầu thang (thực tế, có hai lần tấn công, không phải ba), nhưng anh ta hoảng sợ và bỏ đi. Ross cũng là người nói với cảnh sát anh ta “không muốn bị liên đới” – nhưng ý nghĩa thực sự là anh ta không muốn bị nhiều người biết. Đêm đó anh ta say khướt, và sợ bị lộ rằng mình là người đồng tính nam.
Thời đó, tình dục đồng giới bị coi là bất hợp pháp, và Ross sợ cả cảnh sát lẫn cánh báo chí như New York Times, vốn bêu riếu tình dục đồng giới như một căn bệnh nguy hiểm.[3] Năm 1964, những người đồng tính nam thường xuyên bị cảnh sát bạo hành, còn báo chí thường xuyên khắc họa tình dục đồng giới như một bệnh dịch đáng sợ. (Đặc biệt Abe Rosenthal, biên tập viên phụ trách viết bài về vụ của Kitty, khét tiếng là người ghê sợ đồng tính luyến ái. Không lâu trước vụ sát hại Kitty, ông xuất bản một bài viết: Tình dục đồng giới ngày càng công khai trong thành phố gây ra những quan ngại lớn).[4]
Dĩ nhiên, những điều này không thể biện hộ cho sự dửng dưng và thờ ơ của Karl Ross. Thậm chí, nếu anh ta say và sợ thì anh ta vẫn nên làm điều gì đó để giúp nạn nhân. Thay vào đó, anh ta gọi cho một người bạn khác, người này lập tức giục anh ta gọi cho cảnh sát. Nhưng Ross không dám gọi điện thoại từ căn hộ của mình, thay vào đó, anh ta trèo lên nóc nhà sang nhà hàng xóm kế bên mình và đánh thức người phụ nữ trong căn nhà đó.
Người phụ nữ đó là Sophia Farrar. Khi Sophia nghe nói rằng Kitty đang nằm chảy máu dưới cầu thang, bà ấy không ngần ngại, chạy ngay ra khỏi căn hộ của mình, mặc kệ chồng mình vẫn còn đang mặc quần dài và gọi với theo bảo bà đợi. Theo những gì Sophia kể, thời khắc đó, bà nghĩ mình cần phải làm gì đó, ngay cả việc sẵn sàng lao thảng vào kẻ sát nhân. “Tôi chạy tới giúp. Đó là phản ứng hết sức tự nhiên mà bất kì ai trong trường hợp của tôi đều sẽ làm vậy.”[5]
Khi bà mở cửa ra cầu thang nơi Kitty nằm, tên sát nhân đã bỏ đi. Sophia choàng tay quanh người Kitty và cô ấy gục hẳn vào bà. Đây chính là cách Catherine Susan “Kitty” Genovese thật sự ra đi: được ôm trong vòng tay của người hàng xóm. “Khi biết rằng Kitty chết trong vòng tay của người hàng xóm, điều đó giúp gia đình tôi cảm thấy được an ủi,” anh trai Kitty là Bill đã nói như vậy khi ông nghe được câu chuyện này nhiều năm sau.[6]
Tại sao Sophia bị lãng quên?
Tại sao bà ấy không được nhắc đến trong bất kì bài báo nào?
Sự thật vô cùng đau lòng. Con trai bà kể, “Mẹ tôi có kể câu chuyện đó với một nữ phóng viên của một tờ báo”, nhưng khi bài báo được in vào ngày hôm sau, họ lại viết rằng Sophia không muốn bị dính líu. Bà đã rất giận dữ khi đọc được bài báo đó và thề sẽ không bao giờ trả lời câu hỏi của bất kì một nhà báo nào nữa.
Sophia không phải là trường hợp duy nhất bị giới báo chí cố tình bóp méo lời nói. Thực tế, hàng chục cư dân ở Kew Gardens phản ánh rằng những lời kể của họ liên quan đến vụ án đã bị báo chí xuyên tạc, phóng viên thì ào ào kéo tới quấy rầy đến mức nhiều người đã phải chuyển đi. Ngày 11 tháng 3 năm 1965, hai ngày trước lễ tưởng niệm một năm vụ án của Kitty, một phóng viên đã nghĩ ra trò đùa là tới Kew Gardens và kêu cứu lúc nửa đêm. Các tay máy chờ sẵn, sẵn sàng chụp các phản ứng của cư dân.
Toàn bộ tình huống này thật điên khùng. Cũng năm đó chủ nghĩa tích cực bắt đầu phát triển ở thành phố New York, Martin Luther King được trao giải Nobel Hòa bình, hàng triệu người Mỹ bắt đầu tuần hành trên đường phố và Queens có hơn 200 tổ chức cộng đồng, báo chí nói về nỗi ám ảnh mà nó rêu rao như là một “đại dịch của sự dửng dưng”.
Một nhà báo đồng thời là phóng viên phát thanh Danny Meenan tỏ ra hoài nghi với câu chuyện về những người ngoài cuộc vô tư lự. Khi ông kiểm tra các dữ kiện có được, ông thấy rằng hầu hết các nhân chứng đều khai rằng họ nghĩ đã nhìn thấy một phụ nữ say rượu vào đêm đó. Khi Meenan hỏi một phóng viên tờ New York Times rằng tại sao anh ta không đưa thông tin đó vào bài viết của mình, anh trả lời: “Nó sẽ làm hỏng bài báo.”[7]
Vậy tại sao Meenan lại giữ điều này cho riêng mình? Do bản năng tự bảo vệ. Thời đó, không nhà báo đơn lẻ nào dám đối đầu với những tờ báo quyền lực nhất thế giới – không đời nào, nếu họ muốn tiếp tục làm công việc của mình.
Vài năm sau, khi một phóng viên khác phát biểu một ý kiến chỉ trích, anh ta liền nhận được một cú điện thoại giận dữ từ Abe Rosenthal của tờ New York Times. “Anh có nhận thấy rằng câu chuyện này trở thành tình huống tiêu biểu về thái độ của người Mỹ không?” Vị biên tập viên hét lên trong điện thoại. “Nó sẽ trở thành chủ đề trong các khóa đào tạo, những cuốn sách và những bài nghiên cứu trong ngành xã hội học không?”[8]
Thật sốc khi câu chuyện ban đầu bị bóp méo, chỉ còn một chút sự thật được giữ lại. Trong cái đêm định mệnh đó, không phải những công dân New York bình thường, mà là giới chức đã thất bại. Kitty không chết một mình, mà trong vòng tay của một người bạn. Và khi đề cập đến nó, phản ứng của những đã từng chứng kiến và đứng ngoài cuộc lại hoàn toàn trái ngược với những điều mà từ lâu khoa học khăng khăng cho là đúng. Chúng ta không hề đơn độc trong các thành phố lớn, trên tàu điện ngầm, trên những con phố đông đúc. Chúng ta có nhau.
Và câu chuyện của Kitty không kết thúc ở đó. Còn một bước ngoặt quan trọng cuối cùng.
Năm ngày sau cái chết của Kitty, Raoul Cleary, một cư dân ở Queens, để ý thấy một kẻ lạ mặt trên con phố nhà mình. Gã đi ra từ nhà một người hàng xóm giữa ban ngày ban mặt, mang theo một chiếc tivi. Khi Raoul chặn gã lại, gã tự nhận mình là nhân viên dọn nhà.
Nhưng Raoul vẫn nghi ngờ và gọi cho nhà hàng xóm đó, Jack Brown.
“Có đúng nhà Bannister chuyển đi không?”, anh hỏi.
“Hoàn toàn không,” Brown trả lời.
Hai người không chút lưỡng lự. Trong khi Jack vô hiệu hóa chiếc xe của gã kia thì Raoul gọi cho cảnh sát đến bắt giữ tên trộm ngay khi hắn xuất hiện trở lại. Chỉ vài tiếng sau, gã đàn ông nhận tội. Hắn không chỉ đột nhập vào nhà, mà còn sát hại một phụ nữ trẻ ở Kew Gardens.[9]
Đúng vậy, kẻ giết hại Kitty bị tóm nhờ sự can thiệp của hai người trong khu phố đó, tuy nhiên không một tờ báo nào đưa tin về sự việc này.
Đây là câu chuyện thật về Kitty Genovese. Nó là một câu chuyện mà nhiều người cần phải đọc, không chỉ với các sinh viên tâm lý học năm thứ nhất, mà cả các nhà báo cũng vậy. Đó là vì nó dạy cho chúng ta ba điều. Một, quan điểm của chúng ta về bản chất con người thường sai lệch như thế nào. Hai, cách các nhà báo thêm thắt để bán những câu chuyện mới khéo léo làm sao. Và, cuối cùng nhưng chưa hết, chúng ta hoàn toàn khẳng định được rằng trong những tình huống khẩn cấp chúng ta có thể tìm được sự giúp đỡ từ bất kì ai kể cả những người xa lạ..
Khi chúng tôi nhìn qua con kênh ở Amsterdam, tôi hỏi Ruben Abrahams liệu ông ấy có thấy mình giống như một người hùng sau khi nhảy xuống con kênh đó không. Ông nhún vai và nói: “Không hề, trong cuộc sống bạn phải biết quan tâm đến người khác.”
❀ ❀ ❀
[1] Nội dung này dưa trên ba cuốn sách: Kevin Cook, Kitty Genovese (2014); Catherine Pelonero, Kitty Genovese. A True Account of a Public Murder and Its Private Consequences (New York, 2014]; và Marcia M. Gallo, “No One Helped.” Kitty Genovese, New York City and the Myth of Urban Apathy (Ithaca, 2015).
[2] Cô ấy nói điều này trong phim tài liệu The Witness năm 2015 của Bill Genovese.
[3] Baker, “Missing the story”.
[4] Robert c. Doty, “Growth of Overt Homosexuality In City Provokes Wide Concern”, New York Times (ngày 17 tháng 12 năm 1963).
[5] Pelonero, Kitty Genovese, tr. 18.
[6] Như trên
[7] Như trên
[8] Như trên
[9] Saul M. Kassin, “The Killing of Kitty Genovese: What Else Does This Case Tell Us?” Perspectives on Psychological Science, tập 12, so 3 (2017).