Văn hóa chơi trải qua một bước thay đổi lớn khi con người bắt đầu sống định cư một chỗ.
Với trẻ em, buổi bình minh của nền văn minh mang đến cái ách lao động nông nghiệp, khiến đầu óc chúng trở nên tê bại, đồng thời xuất hiện suy nghĩ rằng trẻ em cần được nuôi nấng giống như người ta trồng khoai tây vậy. Vì nếu trẻ em sinh ra đã tinh ranh thì bạn không thể để chúng muốn làm gì thì làm được. Trước tiên chúng cần lĩnh hội cái vỏ bề ngoài của văn minh, và thường việc này cần một bàn tay kiên nghị. Quan niệm cho rằng cha mẹ nên đánh trẻ chỉ mới bắt nguồn gần đây từ những tổ tiên nông nghiệp hoặc những người sống ở thành thị như chúng ta.[1]
Cùng với sự xuất hiện của những thành phố và nhà nước đầu tiên, các hệ thống giáo dục đầu tiên cũng ra đời. Nhà thờ cần những tín đồ sùng đạo, quân đội cần những người lính trung thành và chính phủ cần những công nhân chăm chỉ. Chơi bời là kẻ thù, cả ba bên đều nhất trí với nhau như vậy. Giáo sĩ người Anh John Wesley (1703-1791) đưa ra quy định trong các trường học của mình: “Chúng tôi không cho phép bất kì thời gian nào để chơi. Kẻ nào rong chơi khi còn là một đứa trẻ thì sẽ rong chơi khi thành người lớn.”[2]
Mãi cho tới tận thế kỉ 19, giáo dục tôn giáo mới được thay thế bởi các hệ thống của nhà nước trong đó, nói theo lời một sử gia, “một bộ trưởng bộ giáo dục Pháp có thể tự hào rằng, vào lúc 10 giờ 20 phút sáng, ông ấy biết đích xác đoạn văn nào của Cicero mà tất cả học sinh của một khối trên khắp nước Pháp đang học”.[3] Phẩm chất của một công dân tốt phải được thấm vào con người từ khi còn nhỏ, và những công dân ấy cũng phải học yêu tổ quốc mình. Pháp, Ý và Đức đều có thể dễ dàng nhìn thấy trên bản đồ; còn giờ thì đã đến lúc rèn giũa người Pháp, người Ý và người Đức.[4]
Trong suốt cuộc Cách mạng Công nghiệp, một bộ phận lớn công việc của công nhân được giao cho máy móc. (Dĩ nhiên, không phải đâu cũng vậy – ở Bangladesh, trẻ em vẫn đạp máy khâu để làm ra những món hời cho chúng ta). Điều đó khiến mục tiêu giáo dục thay đổi. Giờ đây, trẻ em phải học đọc và viết, thiết kế và tổ chức để khi trưởng thành có thể kiếm tiền theo cách riêng của mình.
Mãi cho tới tận cuối thế kỉ 19 trẻ em mới lại có thêm thời gian để chơi. Các sử gia gọi giai đoạn này là “thời hoàng kim” của việc chơi không cần theo luật lệ, khi lao động trẻ em bị cấm thì phụ huynh càng để cho trẻ em chơi tự do tùy ý.[5] Thậm chí, ở nhiều khu dân cư tại châu Âu và Bắc Mỹ, không có ai buồn để mắt đến chúng, và trẻ em đơn giản là được rong chơi tự do cả ngày.
Tuy nhiên, những ngày tháng vàng son này rất ngắn ngủi, vì từ thập niên 1980 trở đi, cuộc sống trở nên bận rộn hơn rất nhiều ở nơi làm việc và trong lớp học. Chủ nghĩa cá nhân và văn hóa thành tích được ưu tiên. Quy mô gia đình nhỏ hơn và các bậc phụ huynh bắt đầu lo ngại liệu con cái mình có đạt được thứ hạng cao hay không.
Những đứa trẻ chơi quá nhiều còn có thể bị đưa tới bác sĩ. Những thập niên gần đây, các chẩn đoán về rối loạn hành vi gia tăng một cách chóng mặt, trong đó có lẽ ví dụ tốt nhất là ADHD (rối loạn tăng động giảm chú ý). Đây là rối loạn duy nhất mà tôi từng nghe một bác sĩ tâm thần nhận xét rằng nó diễn ra theo mùa: các triệu chứng dường như không đáng kể trong kì nghỉ hè, nhưng lại đòi hỏi nhiều trẻ em phải dùng đến thuốc Ritalin khi bắt đầu vào năm học mới.[6]
Đúng là giờ đây chúng ta bớt nghiêm khắc với trẻ em hơn là 100 năm trước, và trường học không còn giống như nhà tù hồi thế kỉ 19 nữa. Trẻ em cư xử không đúng mực không bị ăn tát nhưng lại phải uống thuốc. Trường học không còn giáo điều, mà dạy một giáo trình đa dạng hơn bao giờ hết, truyền thụ nhiều kiến thức cho học sinh hết mức có thể để chúng tìm kiếm những công việc lương cao trong “nền kinh tế tri thức”.
Giáo dục trở thành thứ con người phải chịu đựng. Một thế hệ mới sắp ra đời, tiếp thu những quy tắc của xã hội dựa trên thành tích của chúng ta. Đó là một thế hệ học cách tiến hành một cuộc đua chuột[7], trong đó các chỉ số thành công là lý lịch và là những con số không trong lương của bạn. Một thế hệ bớt tô vẽ bên ngoài giấy, bớt có xu hương mơ màng hay dám làm, tưởng tượng hay khám phá. Nói tóm lại, một thế hệ quên mất cách vui chơi.
❀ ❀ ❀
[1] Như trên, tr. 194.
[2] J. Mulhern, A History of Education, a Social Interpretation (New York, 1959), tr. 383.
[3] James C. Scott, Two Cheers for Anarchism. Six Easy Pieces on Autonomy, Dignity and Meaningful Work and Play (Princeton, 2012), tr. 54-5.
[4] Eugen Weber, Peasants into Frenchmen: The Modernization of Rural France, 1870-1914 (Stanford, 1976).
[5] Howard TR. Chudacoff, Children at Play. An American History (New York, 2008).
[6] Peter Gray, “The Decline of Play and the Rise of Psychopathology in Children and Adolescents” (2011).
[7] Cuộc đua chuột (Rat race) là thuật ngữ được người Mỹ sử dụng, để diễn tả cuộc chạy đua của con người nhằm đạt được những thành tựu cao hơn trong đời. “Cuộc đua chuột” ám chỉ những cuộc đua bất tận để theo đuổi thứ vô nghĩa.