Triết gia Thomas Hobbes đã sai khi nói về người cổ đại. Ông mô tả cuộc sống và thời kì của tổ tiên chúng ta là “tởm lợm, hung bạo và ngắn ngủi”, nhưng cách mô tả chính xác lẽ ra phải là: thân thiện, hòa bình và lành mạnh.
Nghịch lý nằm ở chỗ lời nguyền văn minh đeo đẳng suốt cuộc đời Hobbes. Hãy xem trận dịch hạch đã giết chết người trợ lý của ông vào năm 1628, và cuộc nội chiến năm 1640 buộc ông phải lánh khỏi xứ Anh đến Paris. Hiểu biết của ông về nhân loại bắt nguồn từ chính trải nghiệm của ông với bệnh tật và chiến tranh, những tai họa thực tế không hề được biết đến trong 95% thời gian đầu tiên của lịch sử loài người. Bằng cách nào đó Hobbes đi vào lịch sử như là “cha đẻ chủ nghĩa hiện thực”, nhưng quan điểm của ông về bản chất con người có thể là bất kì điều gì, ngoại trừ sự thật thực tế.
Nhưng phải chăng, văn minh là điều hoàn toàn xấu? Chẳng lẽ nó không hề mang lại điều gì tốt đẹp sao? Ngoài chiến tranh và lòng tham, chẳng phải thế giới hiện đại cũng cho chúng ta rất nhiều điều đáng để cảm ơn sao?
Dĩ nhiên là có. Nhưng chúng ta dễ quên rằng tiến bộ là một hiện tượng rất gần đây. Mãi cho tới Cách mạng Pháp (1789), gần như tất cả các nhà nước trên thế giới đều được nuôi dưỡng bằng lao động cưỡng bức. Cho tới năm 1800, ít nhất ba phần tư dân số toàn cầu sống trong cảnh làm nô lệ cho một vị chúa giàu có.[1] Hơn 90% dân số làm nông dân, và hơn 80% số người phải sống trong cảnh đói nghèo cùng cực.[2] Rousseau cho rằng: “Con người sinh ra đã có tự do nhưng ở đâu chúng ta cũng bị xiềng xích.”[3]
Trong suốt thời gian dài, văn minh bị coi là một tai họa. Sự xuất hiện của các thành phố và nhà nước, nông nghiệp và chữ viết, đã không mang lại sự thịnh vượng cho hầu hết mọi người, mà còn gây ra khổ đau. Chỉ trong hai thế kỉ qua – một cái chớp mắt – mọi thứ trở nên tốt đẹp nhanh chóng, đến mức chúng ta quên mất cuộc sống đã từng cùng cực ra sao. Nếu bạn chia lịch sử nhân loại thành 24 tiếng, thì 23 tiếng và 45 phút đầu tiên sẽ hoàn toàn là những thống khổ. Chỉ có 15 phút cuối cùng xã hội dân sự mới bắt đầu giống một ý tưởng hay.
Trong 15 phút cuối, chúng ta đã loại bỏ được hầu hết các bệnh truyền nhiễm. Giờ đây mỗi năm các loại vắc-xin cứu sống được số người còn nhiều hơn cả những người đã chết vì chiến tranh trong thế kỉ 20.[4] Điều thứ hai là chúng ta giàu có hơn trước rất nhiều. Số người sống trong cảnh đói nghèo cùng cực đã giảm xuống dưới 10%.[5] Và, thứ ba, chế độ nô lệ đã bị xóa bỏ.
Năm 1842, tổng lãnh sự Anh viết thư cho quốc vương Morocco để hỏi xem, liệu ông ấy có thể làm gì để ngăn chặn nạn buôn bán nô lệ. Quốc vương đã rất ngạc nhiên: “Buôn bán nô lệ là một vấn đề được coi là hết sức bình thường, đến độ tất cả các giáo phái và dân tộc đều nhất trí từ thời các con trai của ngài Adam.”[6] ông ấy không biết rằng, 150 năm sau, chế độ nô lệ chính thức bị bãi bỏ trên toàn thế giới.[7]
Hiện tại, điều tốt đẹp là chúng ta đang ở trong thời đại hòa bình nhất từ trước đến nay.[8] Ở thời Trung đại, có tới 12% dân số châu Âu và châu Á chết vì bạo lực. Nhưng trong 300 năm qua – kể cả hai cuộc thế chiến – con số này giảm xuống còn 1,3% toàn thế giới.[9] (Ở Hoa Kỳ, hiện là 0,7% và tại Hà Lan, nơi tôi sống, chỉ chưa đầy 0,1%.)[10]
Không có lý do gì để coi thường xã hội dân sự. Chúng ta có thể chọn cách tổ chức, vận hành các thành phố và nhà nước theo hình thức mới có lợi cho tất cả mọi người. Lời nguyền văn minh có thể được hóa giải. Nhưng liệu chúng ta có tìm cách làm như vậy? Liệu chúng ta có thể sống sót và phát triển về lâu về dài? Chẳng ai biết được tương lai. Không thể phủ nhận sự tiến bộ trong những thập kỉ qua, nhưng đồng thời chúng ta cũng đối mặt với một cuộc khủng hoảng sinh thái ở quy mô hiện sinh. Trái đất đang ấm lên, các giống loài đang chết dần và câu hỏi bức thiết lúc này là: Lối sống văn minh của chúng ta bền vững đến mức nào?
Tôi vẫn nhớ lời nói của một chính trị gia Trung Quốc vào năm 1970, khi được hỏi về tác động của Cách mạng Pháp năm 1789: “Còn quá sớm để nói về điều đó.”[11]
Có lẽ việc trả lời câu hỏi nền văn minh cũng tương tự như câu trả lời trên. Liệu đó có phải là một ý tưởng hay?
Còn quá sớm để trả lời câu hỏi đó!
❀ ❀ ❀
[1] Adam Hochschild, Bury the Chains: Prophets and Rebels in the Fight to Free an Empire’s Slaves (Boston, 2005), tr. 2.
[2] Max Roser và Esteban Ortiz-Ospina, “Global Extreme Poverty”, OurWorldInData.org (2018).
[3] Đây là câu mở đầu cuốn The Social Contract của Rousseau (xuất bản lần đầu năm 1762).
[4] Bjprn Lomborg, “Setting the Right Global Goals”, Project Syndicate (ngày 20 tháng 5 năm 2014).
[5] Max Roser và Esteban Ortiz-Ospina, “Global Extreme Poverty”.
[6] Trích trong Chouki El Hamel, Black Morocco. A History of Slavery, Race, and Islam (Cambridge, 2013), tr. 243.
[7] Mauritius ở Tây Phi là quốc gia cuối cùng trên thế giới bãi bỏ chế độ nô lệ, năm 1981.
[8] Thời Ba Tư và La Mã, quá trình mở rộng nhà nước đã giúp cho thế giới ngày càng an toàn hơn. Mặc dù nghe như một nghịch lý nhưng có một cách giải thích logic. Khi các quốc gia và đế chế tăng lên, thêm nhiều công dân của họ sống cách xa biên giới hơn. Chính tại biên giới là nơi xảy ra chiến tranh; cuộc sống bình yên hơn trong nội địa. Minh chứng cho điều này là Pax Romana (Hòa bình La Mã), một giai đoạn ổn định kéo dài được bảo đảm bởi những chiến dịch rất lớn của những người Leviathan mạnh nhất. Theo nghĩa này, ít nhất thì Hobbes cũng đúng: một hoàng đế toàn năng tốt hơn là một trăm ông vua nhỏ đáng thất vọng. Xem Turchin, Ultrasociety, tr. 201-2.
[9] José Maria Gomez chủ biên, “The Phylogenetic Roots of Human Lethal Violence, Supplementary Information”, Nature (ngày 13 tháng 10 năm 2016), tr. 9.
[10] Năm 2017, 2.813.503 trường hợp khai tử tại Hoa Kỳ. Theo Hệ thống Báo cáo Tử vong Bạo lực Quốc gia, 19.500 trong số này là nạn nhân bị giết. Cùng năm đó, 150.214 trường hợp khai tử ở Hà Lan, trong số đó 158 bị giết.
[11] Câu chuyện này có lẽ ngụy tạo. ‘Not letting the facts ruin a good story’, South China Morning Post (29 tháng 9 năm 2019).