Nhân Loại - Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng

Lượt đọc: 1312 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
05

❊ ❊ ❊

Vào ngày 28 tháng 9 năm 1943, tại trụ sở Tòa nhà Hội đồng Lao động số ở 24 Romersgade, Copenhagen, các thủ lĩnh Đảng Dân chủ Xã hội đều có mặt. Một vị khách trong quân phục quốc xã đứng trước mặt họ. Họ kinh ngạc và nhìn chằm chằm vào gã.

Gã lên tiếng nói: “Thảm họa có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Mọi thứ đã được lên kế hoạch một cách chi tiết. Tàu sẽ thả neo ở bên ngoài Copenhagen. Những người đồng hương Do Thái tội nghiệp của các người, nếu bị Gestapo tóm được, sẽ bị cưỡng chế lên tàu, sau đó không biết số phận của họ sẽ đi về đâu.”[1]

Vị chủ tịch lúc này run bắn và tái nhợt. Tên ông là Georg Ferdinand Duckwitz. Ông sẽ đi vào lịch sử như là “nhân vật Quốc xã cải đạo”, và lời cảnh cáo của ông sẽ làm nên một phép màu.

Cuộc tấn công diễn ra vào thứ Sáu, ngày 1 tháng 10 năm 1943, theo đúng kế hoạch chi tiết mà SS đã vạch ra. Ngay lúc 8 giờ tối, hàng trăm binh sĩ Đức bắt đầu gõ cửa từng nhà trên khắp cả nước để bắt giữ những người Đan Mạch gốc Do Thái. Những người Do Thái này sẽ bị đưa tới cảng và lên một con tàu có sức chứa 6.000 tù binh.

Nói theo thuật ngữ của các thí nghiệm sốc điện là: Đan Mạch không phải đi từ 15 tới 30 volt hay từ 30 tới 45 volt, mà là thực hiện ngay lập tức cú sốc 450 volt. Cho tới tận thời điểm bị bắt, người Do Thái vẫn không hề bị phân biệt đối xử, không có huy hiệu màu vàng bắt buộc, không có chuyện tịch thu tài sản người Do Thái. Người Đan Mạch gốc Do Thái thấy mình bị đưa tới các trại tập trung ở Ba Lan trước khi họ kịp hiểu điều gì xảy ra.

Ít nhất, đó là kế hoạch.

Vào cái đêm đã được báo trước, hàng vạn người Đan Mạch bình thường – thợ cắt tóc và nhân viên phục vụ quán rượu, thợ xây và người buôn bán – đã từ chối bấm chiếc công tắc cuối cùng trên cỗ máy sốc điện. Đêm đó, lính Đức phát hiện ra rằng người Do Thái đã được thông báo trước về cuộc bố ráp và hầu như đã trốn thoát gần hết. Thực tế, nhờ lời cảnh báo đó, gần 99% người Do Thái ở Đan Mạch sống sót sau chiến tranh.

Chúng ta có thể giải thích phép màu Đan Mạch như thế nào? Điều gì làm cho đất nước này trở thành ngọn hải đăng soi đường trên biển cả tối tăm?

Sau chiến tranh, các sử gia đã đưa ra khá nhiều nguyên nhân, trong đó đề cập đến một nhân tố quan trọng đó là Quốc xã đã không hoàn toàn nắm được quyền kiểm soát ở Đan Mạch. Kết quả là, hành động chống lại người Đức ở Đan Mạch không rủi ro hay mang đến hậu quả nghiêm trọng như ở các quốc gia khác, chẳng hạn như Hà Lan.

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một lời giải thích vượt trội, theo sử gia Bo Lidegaard thì: “Không thể phủ nhận rằng người Đan Mạch gốc Do Thái được bảo vệ bằng cam kết kiên định từ những người đồng hương.”[2]

Khi tin tức về cuộc bố ráp lan đi, sự phản kháng xuất hiện ở mọi nơi. Từ nhà thờ, trường đại học và cộng đồng buôn bán, từ hoàng gia, Hội đồng Luật sư và Hội đồng Quốc gia Phụ nữ Đan Mạch – tất cả đều lên tiếng phản đối. Gần như ngay lập tức, một mạng lưới các tuyến đường trốn thoát được hình thành, thậm chí không cần việc lên kế hoạch tập trung và không cần cố gắng điều phối hàng trăm nỗ lực của từng cá nhân. Đơn giản là không có thời gian. Hàng nghìn người Đan Mạch, giàu và nghèo, trẻ và già, đều hiểu rằng giờ là lúc hành động, và rằng ngoảnh mặt đi sẽ là một sự phản bội đối với tổ quốc mình.

Sử gia Leni Yahil nhận xét: “Thậm chí, dù ở bất đâu, chỉ cần người Do Thái đề nghị được giúp đỡ, họ sẽ không bao giờ bị từ chối.”[3] Các trường học và bệnh viện đều mở cửa. Những ngôi làng nhỏ đón nhận hàng trăm người tị nạn. Cảnh sát Đan Mạch cũng hỗ trợ người Do Thái và từ chối hợp tác với Quốc xã. Tờ Dansk Maanedspost, một tờ báo kháng chiến lên tiếng khẳng định: “Người Đan Mạch không quay lưng với Hiến pháp của mình, ít nhất là trong vấn đề quyền bình đẳng của công dân.”[4]

Đối lập với nước Đức hùng mạnh bị pha tạp bởi những lời tuyên truyền phân biệt chủng tộc thì Đan Mạch khiêm nhường lại tràn trề tinh thần nhân văn. Các nhà lãnh đạo Đan Mạch luôn kiên định với tinh thần thượng tôn pháp luật. Bất kì ai tìm cách đẩy người dân chống lại nhau đều không đáng được gọi là người Đan Mạch. Không thể có những điều như “vấn đề Do Thái” mà chỉ có những đồng bào.

Trong một vài ngày ngắn ngủi, hơn 7.000 người Đan Mạch gốc Do Thái được chở trên những chiếc tàu đánh cá nhỏ vượt eo biển Sound ngăn cách Đan Mạch với Thụy Điển. Cuộc giải cứu của họ là một đốm lửa nhỏ nhưng sáng chói trong thời điểm tăm tối nhất. Đó là một chiến thắng của tình người và lòng dũng cảm. Nhà sử học Lidegaard đã nhận xét: “Trường hợp của Đan Mạch cho thấy rằng sự huy động chủ nghĩa nhân văn của xã hội dân sự […] không chỉ mang tính lý thuyết mà còn được hiện thực hóa. Chúng ta biết được như vậy vì nó đã thực sự diễn ra rồi.”[5]

Hóa ra, sự phản kháng của Đan Mạch lại có sức lan tỏa đến mức mà ngay cả những kẻ trung thành nhất của Hitler ở Đan Mạch cũng bắt đầu cảm thấy nghi ngờ. Bọn chúng ngày càng khó hành động, cứ như thể chúng đang hậu thuẫn cho một sự nghiệp chính đáng. Lidegaard nhận xét: “Ngay cả sự bất công cũng cần được thực hiện dưới lớp vỏ luật pháp. Tuy nhiên thật khó mà thực hiện điều đó trong một xã hội từ chối quyền của kẻ mạnh hơn.”[6]

Tại Bulgaria và Ý, Đức quốc xã cũng vấp phải sự phản kháng mạnh mẽ, ở đó tỉ lệ tử vong của người Do Thái cũng thấp tương tự như Đan Mạch. Các sử gia nhấn mạnh rằng quy mô trục xuất ở các vùng bị chiếm đóng phụ thuộc vào mức độ hợp tác của người dân ở đó.[7] Nhiều năm sau, Adolf Eichmann đã nói với Willem Sassen rằng người Đức gặp khó khăn tại Đan Mạch hơn hẳn những nơi khác: “Kết quả rất ảm đạm… khi nhớ lại những chuyến vận chuyển tù nhân Do Thái của mình – với tôi đó quả là một nỗi ô nhục lớn.”[8]

Sự thật là quân đội Đức đóng ở Đan Mạch không hề mềm mỏng – như lời xác nhận của sĩ quan Quốc xã cao cấp nhất, Werner Best, được biết đến như là “Chó săn Paris”. Ngay cả Duckwitz, nhân vật Quốc xã cải đạo ở Copenhagen, từng là một người bài Do Thái điên cuồng vào những năm 1930. Nhưng năm tháng trôi đi, ông ấy bị ảnh hưởng rất nhiều bởi tinh thần nhân văn của người Do Thái.

Trong cuốn sách Eichmann in Jerusalem (tạm dịch: Eichmann ở Jerusalem), nhà triết học Hannah Arendt đã trình bày một quan sát thú vị về cuộc giải cứu những người Đan Mạch gốc Do Thái. Bà đã viết: “Đó là quốc gia duy nhất tôi biết, ở đó Đức quốc xã vấp phải sự phản kháng công khai của người bản xứ. Kết quả là khi họ tiếp xúc với sự phản kháng này, họ đã bị thuyết phục để thay đổi ý định. Bản thân họ không còn xem việc tiêu diệt cả một dân tộc như một điều tất nhiên. Họ đã vấp phải sức kháng cự dựa trên nguyên tắc, và “sự cứng rắn” của họ đã tan chảy như bơ tan dưới ánh mặt trời…”[9]

❀ ❀ ❀

[1] Bo Lidegaard, Countrymen: The Untold Story of How Denmark’s Jews Escaped the Nazis, of the Courage of Their Fellow Danes – and of the Extraordinary Role of the SS (New York, 2013), tr. 71.

[2] Như trên, tr. 353.

[3] Như trên, tr. 113.

[4] Như trên, tr. 262.

[5] Như trên, tr. 173.

[6] Như trên, tr. 58.

[7] Peter Longerich, “Policy of Destruction. Nazi Anti-Jewish Policy and the Genesis of the ‘Final Solution’”, Bảo tàng tưởng niệm tàn sát người Do Thái Hoa Kỳ, Bài giảng thường niên Joseph và Rebecca Meyerhoff (ngày 22 tháng 4 năm 1999), tr. 5.

[8] Lidegaard, Countrymen, tr. 198.

[9] Như trên, tr. 353.

Nguyên tác Humankind: A Hopeful History - Người dịch Nguyễn Xuân Hồng
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.