Nhân Loại - Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng

Lượt đọc: 1239 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
05

❊ ❊ ❊

Vậy tại sao người tốt lại biến thành người xấu?

Tôi nghĩ giờ chúng ta có thể bắt đầu định hình được một câu trả lời. Trong Thế chiến thứ Hai, những người lính Wehrmacht chiến đấu trước tiên và trên hết là vì nhau. Hầu hết các binh sĩ được khích lệ không phải bởi sự bạo tàn hay khát máu, mà bởi tình đồng đội.

Một khi đã vào trận, chúng ta thấy rằng những người lính vẫn thấy rất khó để nổ súng giết người, dù cho đó là kẻ thù. Trong Chương 4 chúng ta đã ở Thái Bình Dương cùng Đại tá Marshall, người nhận ra rằng đa số binh sĩ chưa hề nổ súng. Trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha, George Orwell cũng nhận thấy điều tương tự, khi một hôm ông thấy mình bị sự thấu cảm chế ngự:

Lúc này một người […] nhảy ra khỏi chiến hào và chạy dọc trên đỉnh công sự, trông rõ mồn một. Anh ta chỉ mặc nửa trên và anh vẫn cầm chiếc quần dài của mình bằng cả hai tay, vừa cầm vừa chạy băng băng. Tôi cố nén để không nổ súng bắn anh ta. […] Tôi không bắn một phần vì cái quần dài mà anh đang cầm trên tay. Tôi đến đây để bắn “bọn Phát xít”; nhưng rõ ràng một con người đang giơ cao cái quần dài của mình thì không phải là một “tên Phát xít”, rõ ràng anh ta cũng giống như tôi – một con người, giống như chính bạn, và tôi cảm thấy mình không muốn bắn anh ta.”[1]

Những quan sát của Marshall và Orwell đã chứng minh rằng thật khó để chúng ta làm hại những người quá gần gũi với mình.

Có điều gì đó ngăn chúng ta lại, khiến chúng ta không thể kéo cò súng. Có một điều thậm chí còn khó làm hơn cả việc nổ súng mà các sử gia quân sự đã phát hiện ra đó là: đâm một đồng loại.

Chưa đầy 1% số binh sĩ thương vong trong các trận chiến ở Waterloo (1815) và Somme (1916), là do binh sĩ sử dụng lưỡi lê.[2] Vậy toàn bộ hàng nghìn lưỡi lê trưng bày ở hàng trăm bảo tàng thì sao? Hầu hết chúng đều chưa bao giờ được sử dụng. Như một sử gia ghi lại: “Dù là kẻ thù hay quân ta thì những chiến sĩ vẫn thường nhớ ra một nhiệm vụ khẩn cấp khác ở đâu đó trước trận giao tranh bằng lưỡi lê.”[3]

Dừng lại chút đã, chúng ta lại bị ngành công nghiệp truyền hình và phim ảnh lừa gạt. Những loạt phim như Game of Thrones (Trò chơi vương quyền) hay những bộ phim như Star Wars (Chiến tranh giữa các vì sao) khiến chúng ta tin rằng đâm người khác dễ như ăn bánh. Nhưng thực tế, về mặt tâm lý, đâm xuyên qua cơ thể người khác là việc hết sức khó khăn.

Vậy chúng ta phải giải thích thế nào về hàng trăm triệu thương vong do chiến tranh gây ra trong 10 nghìn năm qua? Tất cả những người này chết như thế nào? Để trả lời được câu hỏi này đòi hỏi chúng ta phải khám nghiệm pháp y các nạn nhân, cho nên chúng ta hãy lấy nguyên nhân tử vong của binh sĩ Anh trong Thế chiến thứ Hai làm ví dụ:[4]

Khác: 1%

Hóa chất: 2%

Nổ tung, nghiền nát: 2%

Mìn, bẫy: 10%

Đạn, mìn chống tăng: 10%

Súng cối, lựu đạn, bom, đạn pháo: 75%

Bạn có nhận thấy điểm chung gì không? Nếu có gì đó gắn kết những nạn nhân này với nhau thì đó là hầu hết họ đều bị tiêu diệt bởi những người cách xa họ. Đa số các binh sĩ bị giết bởi một người nhấn nút, thả bom hoặc gài mìn. Bởi người chẳng hề nhìn thấy họ, chắc chắn không thấy họ đang mặc quần áo hay cố giơ cao chiếc quần dài của mình.

Việc giết chóc thời chiến phần lớn là việc được thực hiện từ xa. Thậm chí bạn có thể mô tả toàn bộ sự phát triển của công nghệ quân sự như là một quá trình trong đó chiến tuyến của kẻ thù ngày càng cách xa. Từ dùi cui và dao găm đến cung tên, từ súng hỏa mai và thần công đến bom và lựu đạn. Trong tiến trình lịch sử, vũ khí ngày càng làm tốt hơn trong việc vượt qua trọng tâm của chiến tranh: ác cảm của con người đối với bạo lực. Thực tế, chúng ta khó có thể giết được ai đó khi nhìn vào mắt họ. Cũng như hầu hết chúng ta sẽ ngay lập tức ăn chay nếu bị buộc phải giết thịt một con bò, phần lớn binh sĩ trở thành những người phản đối chiến tranh vì trái đạo lý khi kẻ thù đến quá gần.

Từ xa xưa, cách để giành chiến thắng trong hầu hết các cuộc chiến tranh là bắn được càng nhiều người từ xa càng tốt.[5] Đó là cách người Anh đánh bại người Pháp tại Crécy và Agincourt trong cuộc Chiến tranh Trăm năm (1337-1453), cách người Tây Ban Nha chinh phục châu Mỹ trong thế kỉ 15 và 16, và cũng là điều mà quân đội Mỹ ngày nay thực hiện với các binh đoàn máy bay không người lái được vũ trang đầy đủ.

Ngoài các loại vũ khí tầm xa, quân đội cũng theo đuổi các phương tiện để tăng khoảng cách tâm lý với kẻ thù. Nếu các bạn có thể khiến người khác trở nên mất nhân tính – ví dụ bằng cách khắc họa họ như kẻ vô lại – điều đó khiến cho việc đối xử với họ theo cách vô nhân đạo trở nên dễ dàng hơn hẳn.

Hoặc bạn cũng có thể đánh thuốc những binh sĩ của mình để làm giảm lòng thấu cảm tự nhiên và sự ác cảm của họ với bạo lực. Từ Troy đến Waterloo, từ Triều Tiên đến Việt Nam, rất ít quân đội có thể chiến đấu mà không cần sự hỗ trợ của chất gây nghiện, thậm chí đến giờ các học giả vẫn nghĩ Paris có thể không thất thủ năm 1940 nếu quân đội Đức không ngốn 35 triệu viên methamphetamine[6].[7]

Quân đội cũng có thể “huấn luyện” binh sĩ của mình. Lục quân Hoa Kỳ bắt đầu làm việc này ngay sau Thế chiến thứ Hai theo khuyến cáo của, không ai khác, Đại tá Marshall. Tân binh tại một số chiến trường được “nhấn chìm” trong các doanh trại huấn luyện không chỉ đề cao tinh thần đồng đội, mà còn chịu sự huấn luyện theo cách bạo lực hung tàn nhất, buộc họ phải hét to “GIẾT! GIẾT! GIẾT!” cho tới khi giọng khản đặc mới thôi. Các cựu binh Thế chiến thứ Hai (hầu hết chưa bao giờ học cách giết người) đã sốc khi được cho xem những hình ảnh về phương pháp đào tạo này.[8]

Ngày nay, binh sĩ không còn thực hành trên các bia giấy bình thường nữa, thay vào đó họ được tập bắn theo bản năng vào những hình người trông giống người thật. Bắn súng trở thành một phản ứng có điều kiện tự động mà các binh sĩ có thể thực hiện không cần suy nghĩ. Thậm chí, với những tay súng bắn tỉa, việc đào tạo còn quyết liệt và khắc nghiệt hơn. Một phương pháp đã được thử nghiệm và kiểm nghiệm là trình chiếu một chuỗi các đoạn video man rợ trong khi học viên bị buộc chặt vào ghế và gắn một thiết bị đặc biệt để bảo đảm mắt họ luôn mở to.[9]

Và vậy là chúng ta đang tìm cách loại bỏ sự ác cảm bẩm sinh và sâu sắc đối với bạo lực. Trong các đội quân hiện đại, tình đồng đội trở nên ít quan trọng và bị coi nhẹ hơn. Thay vào đó, chúng ta có, như lời một cựu binh Mỹ nói, “sự khinh bỉ được gia công”.[10]

Quả thật phương pháp huấn luyện này đã phát huy tác dụng. Khi cho các binh sĩ được huấn luyện sử dụng các kĩ thuật này đối đầu với một đội quân được đào tạo theo phương pháp cũ, kết quả là nhóm thứ hai lúc nào cũng bị đè bẹp. Hãy xem Chiến tranh Falklands (1982): dù chiếm ưu thế về quân số, nhưng quân đội Argentina được huấn luyện kiểu cũ đã không thể nào chống lại được những cỗ máy giết người được huấn luyện bên phía quân đội Anh.[11]

Quân đội Hoa Kỳ cũng tìm cách gia tăng “tỉ lệ nổ súng” của mình, tăng số binh sĩ bắn trực tiếp lên 55% trong chiến tranh Triều Tiên và 95% trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Nhưng điều này cũng đi kèm một cái giá khá đắt. Nếu phương pháp huấn luyện đã tẩy não thành công hàng triệu binh sĩ trẻ tuổi trong khi huấn luyện, thì chẳng có gì ngạc nhiên khi họ trở về với những rối loạn căng thẳng hậu sang chấn (PTSD), như rất nhiều lính Mỹ mắc phải sau chiến tranh Việt Nam.[12] Vô số binh sĩ không chỉ giết người khác – mà còn khiến cho điều gì đó bên trong họ cũng chết theo.

Cuối cùng, có một nhóm có thể dễ dàng giữ kẻ thù ở khoảng cách xa: các nhà lãnh đạo.

Các chỉ huy quân đội và các tổ chức khủng bố ban mệnh lệnh từ trên xuống dưới không phải kiềm chế những cảm xúc thấu cảm dành cho đối phương. Và điều thú vị là, trong khi các binh sĩ có xu hướng hành động và cảm nhận như những con người bình thường thì chỉ huy của họ lại là câu chuyện khác. Các sử gia và chuyên gia về chủ nghĩa khủng bố đã đồng loạt chỉ ra rằng những người nắm những vị trí quyền lực nhất định thường có tiểu sử tâm lý khá đặc biệt. Những tội phạm chiến tranh như Adolf Hitler và Joseph Goebbels là những ví dụ kinh điển về những kẻ mắc chứng rối loạn nhân cách ái kỉ, thèm khát quyền lực.[13] Các thủ lĩnh Al-Qaeda và IS cũng mắc chứng coi trọng bản thân và lôi kéo tương tự, hiếm khi họ gặp phiền phức với những cảm xúc trắc ẩn hay ngờ vực.[14]

Điều này vén mở cho chúng ta bí mật tiếp theo. Nếu giống loài Homo puppy là một sinh vật thân thiện bẩm sinh, vậy thì tại sao những kẻ cơ hội, cực kì ích kỉ, ái kỉ và rối loạn nhân cách, chống đối xã hội lại luôn nắm giữ những vị trí quan trọng? Làm thế nào mà con người chúng ta – một trong những giống loài duy nhất biết đỏ mặt – lại cho phép những đối tượng trơ tráo cai trị và lãnh đạo chúng ta?

❀ ❀ ❀

[1] George Orwell, “Looking Back on the Spanish War” (tháng 8 năm 1942).

[2] Grossman, On Killing, tr. 122.

[3] Như trên, tr. 126.

[4] John Ellis, The World War II Databook. The Essential Facts and Figures for All the Combatants (London, 1993), Bảng 57, tr. 257.

[5] Vậy nạn diệt chủng ở Rwanda năm 1994, khi ước tính 800.000 người Tutsi và Hutu ôn hòa bị sát hại thì sao? Ở phương Tây, ví dụ này thường được sử dụng để vẽ loài người như những “quái vật” khát máu, nhưng đó chủ yếu vì chúng ta biết quá ít về lịch sử. Gần đây hơn, một sử gia viết, “Giờ có rất nhiều bằng chứng cho thấy rằng cuộc tiêu diệt đại trà các công dân Rwanda là đỉnh cao của một chiến dịch được chuẩn bị kỹ lưỡng, tổ chức chu đáo, sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng, bộ máy tuyên truyền, chính quyền dân sự, và hậu cần quân đội”. Những vụ giết người thực tế được tiến hành bởi một thiểu số nhỏ, trong đó ước tính 97 phần trăm người Hutu không tham gia. Xem Abram de Swaan, The Killing Compartments. The Mentality of Mass Murder (New Haven và London, 2015], tr. 90.

[6] Tức ma túy đá, một loại ma túy có thế gây ra tình trạng hung hăng bạo lực.

[7] Lukasz Kamienski, Shooting Utr. A Short History of Drugs and War (Oxford, 2016).

[8] Lee, Up Close and Personal, tr. 27.

[9] Các tay súng bắn tỉa thường thuộc về 1 đến 2 phăn trăm binh sĩ bị rối loạn nhân cách và không có ác cảm tự nhiên với việc giết chóc. Xem Susan Neiman, Moral Clarity. A Guide for Grown-Up Idealists (Princeton, 2008), tr. 372.

[10] Dave Grossman, “Hope on the Battlefield”, trong Dacher Keltner, Jason Marsh và Jeremy Adam Smith (biên tập), The Compassionate Instinct. The Science of Human Goodness (New York, 2010), tr. 41.

[11] Grossman, On Killing, tr. 178.

[12] Nhiều binh sĩ chiến đấu trong Thế chiến thứ Nhất và thứ Hai cũng bị tổn thương; tuy nhiên, đem so sánh thì Việt Nam bị tổn thương nhiều hơn. Dĩ nhiên, còn có những nhân tố khác (như thái độ tiếp đón lạnh nhạt mà các cựu binh từ Việt Nam nhận được khi trở về), nhưng tất cả bằng chứng cho thấy rằng điều lớn nhất là cách binh sĩ được ra điều kiện để giết hại. Ba nghiên cứu gần đây với 1.200 cựu binh chiến tranh Việt Nam, 2.797 chiến tranh Iraq và 317 Chiến tranh vùng Vịnh cho thấy những binh sĩ giết người (do điều kiện của họ) có nguy cơ bị PTSD cao hơn nhiều. Xem Shira Maguen chủ biên, “The Impact of Reported Direct and Indirect Killing on Mental Health Symptoms in Iraq War Veterans”, tạp chí Traumatic Stress, tập 23, số 1 (2010); Shira Maguen chủ biên, “The impact of killing on mental health symptoms in Gulf War veterans”, Psychological Trauma. Theory, Research, Practice, and Policy, tập 3, số 1 (2011); và Shira Maguen chủ biên, “The Impact of Killing in War on Mental Health Symptoms and Related Functioning”, tạp chí Traumatic Stress, tập 45, số 10 (2009).

[13] Frederick L. Coolidge, Felicia L. Davis và Daniel L. Segal, “Understanding Madmen: A DSM-IV Assessment of Adolf Hitler”, Individual Differences Research, tập 5, số 1 (2007).

[14] Bond, The Power of Others, tr. 94-5.

Nguyên tác Humankind: A Hopeful History - Người dịch Nguyễn Xuân Hồng
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.