Chúng ta có đẩy việc này thêm một bước không?
Nếu trẻ em có thể thấy tự do hơn hẳn ở ngoài trời, vậy trong nhà thì sao? Nhiều trường học dù vận hành như những nhà máy, được tổ chức với chuông báo, thời khóa biểu và các bài kiểm tra vẫn được ca ngợi. Nhưng nếu trẻ em học hỏi qua việc chơi thì tại sao không xây dựng mô hình giáo dục cho phù hợp? Đây là câu hỏi đã đến với Sjef Drummen, nghệ sĩ kiêm hiệu trưởng trường học vài năm trước.
Drummen là một trong những người không bao giờ đánh mất niềm vui trong việc vui chơi, và là người luôn có ác cảm với các quy tắc và thẩm quyền. Khi đến đón tôi ở nhà ga xe lửa, ông để xe hơi của mình đậu chắn ngang lối đi cho xe đạp. Ông coi tôi là khán giả và bắt đầu một màn độc thoại không ngừng nghỉ suốt vài tiếng tiếp theo. Chốc chốc tôi lại tìm cách xen vào một câu hỏi. Cười ngoác miệng, ông ấy thừa nhận mình là người có tiếng hay lải nhải thuyết phục người khác.
Nhưng không phải khả năng lắm lời của Drummen đưa tôi lên một chuyến tàu chạy tới thành phố Roermond, ở miền Nam Hà Lan. Tôi đến đó vì một câu chuyện khác thường.
Hãy thử hình dung một trường học không có giờ học hay lớp học. Không có bài tập về nhà hay xếp thứ hạng. Không có cấp bậc hiệu phó và trưởng nhóm – chỉ có các nhóm giáo viên vô danh (hay “huấn luyện viên” như họ được gọi ở đây). Thực tế, người học tự chịu trách nhiệm. Ở ngôi trường này, hiệu trưởng đều đặn được kéo ra khỏi văn phòng vì bọn trẻ cần phòng để họp.
Không, đây không phải là một trong những trường tư thục tinh hoa dành cho các học sinh cá biệt của những phụ huynh khờ dại. Ngôi trường này tuyển những đứa trẻ đủ mọi thành phần. Tên trường là gì ư? Agora.
Tất cả bắt đầu từ năm 2014, khi trường quyết định phá bỏ những bức tường. (Theo lời của Drummen thì những bức tường này như là: “Nhốt bọn trẻ trong những cái chuồng và để chúng hành xử như lũ chuột.”). Tiếp theo, trẻ thuộc mọi cấp được trộn lẫn với nhau. (“Vì thế giới thực là như vậy.”). Tiếp đến, mỗi học sinh phải vạch ra một kế hoạch cá nhân. (“Nếu trường bạn có 1.000 trẻ, vậy là bạn có 1.000 lộ trình học tập.”)
Kết quả?
Ngay khi vào trường, những thứ đập vào mắt tôi là là một sân chơi phế liệu. Thay cho những hàng ghế ngồi kê hướng lên bảng, tôi nhìn thấy một đống lộn xộn lòe loẹt các loại bàn học tái sử dụng, một bể cá cảnh, một mô hình vua Tutankhamun, các cột Hy Lạp, một chiếc giường đôi, một con rồng Trung Hoa và nửa trước một chiếc 69 Cadillac màu xanh da trời.
Một trong số học sinh ở Agora là Brent, 17 tuổi. Vài năm trước, cậu ấy theo học một trường dự bị đại học song ngữ nơi cậu xếp hạng tốt ở mọi môn học, nhưng trượt hai môn tiếng Pháp và tiếng Đức.
Theo hệ thống giáo dục ba nhánh của Hà Lan, Brent bị chuyển xuống nhánh giáo dục phổ thông và sau đó, khi cậu ấy tiếp tục tụt lại, chuyển sang nhánh học nghề. “Khi người ta báo cho em biết tin đó, em đã chạy về nhà, đầy giận dữ. Em bảo mẹ rằng em sẽ kiếm việc làm ở cửa hàng McDonald.”
Nhưng nhờ có bạn bè của bạn bè, Brent đến với Agora, nơi cậu được thoải mái học những gì cậu muốn. Giờ cậu biết tất tần tật về bom nguyên tử, cậu cũng đang dự thảo kế hoạch kinh doanh đầu tiên của mình và có thể giao tiếp bằng tiếng Đức. Cậu cũng được tiếp nhận vào một chương trình quốc tế ở Đại học Mondragon tại Thượng Hải.
Theo huấn luyện viên Rob Houben, Brent cảm thấy mẫu thuẫn về chuyện cậu được nhận vào đại học. “Cậu ấy kể với tôi: ‘Vẫn còn rất nhiều việc em muốn báo đáp lại ngôi trường này vì tất cả những gì trường đã làm cho em’.”
Hoặc như Angelique, 14 tuổi. Trường học của cô bé chuyển cô sang học nghề, nhưng cô bé mà tôi gặp có óc phân tích tuyệt vời. Cô bé ám ảnh với Triều Tiên vì một lý do nào đó và quyết định học tập ở đó, và đã tự học một chút ngôn ngữ. Angelique cũng ăn chay trường và đã viết cả một cuốn sách với những luận điểm để phản bác những người ăn thịt. (Huấn luyện viên Rob kể: “Tôi luôn thua khi tranh luận với cô bé.”)
Học viên nào cũng có một câu chuyện riêng. Rafael, cũng 14 tuổi, mê lập trình. Cậu bé cho tôi xem một lỗ hổng an ninh mà cậu phát hiện trên website Đại học Mở Hà Lan. Cậu ấy đã báo cho quản trị trang web, nhưng nó vẫn chưa được khắc phục. Cười tươi, Rafael bảo tôi: “Nếu em muốn làm ông ấy chú ý, em có thể thay đổi mật mã tài khoản của ông ấy được ngay.”
Khi cậu ấy cho tôi xem website của một công ty mà cậu đã làm giúp một số công việc ngoại vi, tôi hỏi liệu cậu ấy có nên tính hóa đơn với họ cho phần mà cậu đã làm không. Rafael nhìn tôi vẻ kì quặc. “Gì cơ, và em hết động lực sao?”
Ngoài ý thức về mục đích, tôi còn bị những đứa trẻ này gây ấn tượng về ý thức cộng đồng của chúng.
Vài học sinh tôi trò chuyện có lẽ đã bị bắt nạt một cách không thương tiếc ở trường cũ của mình. Nhưng ở Agora, chẳng ai bắt nạt ai, tất cả mọi người tôi nói chuyện đều nói vậy. “Chúng em chân thành và thẳng thắn với nhau,” Milou, 14 tuổi nói.
Bắt nạt thường bị xem là một thói xấu trong bản chất chúng ta; điều này trở thành một phần và là hành trang của việc làm trẻ con. Các nhà xã hội học, những người mất nhiều năm nghiên cứu sâu rộng những địa điểm nơi xảy ra tình trạng bắt nạt lan tràn, khẳng định rằng điều đó là không đúng. Họ gọi những nơi như vậy là các thiết chế toàn thể.[1] Nhà xã hội học Erving Goffman đã mô tả về thiết chế toàn thể từ cách đây khoảng 50 năm như sau:
• Tất cả mọi người sống cùng một nơi và đều chịu sự quản lý của một cơ quan quyền lực duy nhất.
• Mọi hoạt động được tiến hành cùng nhau và tất cả mọi người làm nhiệm vụ như nhau.
• Các hoạt động có lịch trình cứng nhắc, từ giờ này sang giờ khác.
• Có một hệ thống các quy tắc chính thức, rõ ràng, do một cơ quan áp đặt.
Dĩ nhiên, ví dụ tối hậu là nhà tù, nơi hành vi bắt nạt rất phổ biến. Tuy nhiên, các thiết chế toàn thể cũng có thể là những nơi khác, chẳng hạn như các nhà an dưỡng. Người già, khi hợp tác với nhau, có thể hình thành các hệ thống đẳng cấp trong đó những ông trùm to nhất giành những ghế và bàn tốt nhất lúc chơi trò Bingo[2].[3] Thậm chí, một chuyên gia người Mỹ chuyên nghiên cứu về các hành vi bắt nạt còn gọi Bingo là “trò chơi của quỷ”.[4]
Và trong các trường học. Bắt nạt cho đến giờ là chuyện phổ biến nhất ở các trường nội trú điển hình của Anh (loại truyền cảm hứng cho Chúa Ruồi của William Golding).[5] Một chút ngạc nhiên nhỏ: những trường này chẳng khác gì các nhà tù. Bạn không thể thoát khỏi đó, bạn phải kiếm được một chỗ trong hệ thống tôn ti nghiệt ngã, và có sự phân tầng ghê gớm giữa học sinh và nhân viên. Những thiết chế cạnh tranh này là một phần và hành trang của nền tảng thượng lưu Anh quốc – nhiều chính trị gia ở London theo học các trường nội trú – nhưng theo các nhà nghiên cứu giáo dục, những trường học như vậy cản trở bản chất thích chơi của chúng ta.[6]
Tin mừng là mọi việc có thể trở nên khác đi. Bắt nạt thực tế không còn tồn tại trong các trường học phi cấu trúc như Agora, ở đây, bạn có thể ra ngoài lớp để nghỉ ngơi bất cứ khi nào cần: cửa luôn luôn mở. Và, quan trọng hơn, mọi người ở đây khác nhau. Khác biệt là điều bình thường, vì trẻ em đủ mọi lứa tuổi, khả năng và cấp độ học chung với nhau.
Brent nói: “Ở trường cũ của em, mọi người sẽ không nói chuyện với bọn trẻ thuộc phân hệ dạy nghề.” Rồi cậu ấy và Joep (15 tuổi) kể cho tôi về thời gian Noah (15 tuổi, ban đầu bị chuyển sang chương trình nghề) dạy cho chúng về kĩ năng còn thiếu: kĩ năng lập kế hoạch. “Noah vạch ra kế hoạch cho cả năm rưỡi tiếp theo của đời mình, và chúng em học được rất nhiều điều khác nữa”, Joep giải thích.
Càng ở Agora lâu, tôi càng có ấn tượng về việc lũ trẻ theo tuổi và năng lực mới điên rồ làm sao. Các chuyên gia đã nhiều lần cảnh báo về khoảng cách ngày càng tăng giữa những người nhận được nền giáo dục bậc cao và những người ít giáo dục hơn, nhưng thực tế sự rạn nứt này bắt đầu từ đâu? Jolie (14 tuổi) nói: “Em không thấy có gì khác biệt. Em nghe sinh viên nghề nói những điều còn có ý nghĩa hơn rất nhiều đám trẻ được coi là học giỏi.”
Hoặc hãy xem cách thức các trường sử dụng để chia một ngày thành những khoảng thời gian nhất định. Huấn luyện viên Rob nhận xét: “Chỉ có ở trường, thế giới mới bị chia thành các môn học. Chẳng ở đâu xảy ra chuyện đó cả.” Ở hầu hết các trường, khi một sinh viên tìm được mạch cảm hứng cho môn học thì chuông báo hết tiết lại vang lên. Liệu có thể có một hệ thống nào chơi khăm học sinh, ngăn cản việc học tập hơn thế không?
Trước khi bạn hiểu sai ý thì điều quan trọng là đừng phóng đại triết lý tự do không can thiệp của Agora. Trường này có thể thúc đẩy quyền tự do, nhưng không phải là sự tự do cho tất cả. Có một cấu trúc tối thiểu nhưng quan trọng. Mọi buổi sáng, học sinh đều bắt đầu học tập. Mỗi ngày đều có một tiếng để thinh lặng, và mọi học sinh đều gặp huấn luyện viên của mình một lần mỗi tuần. Hơn nữa, kì vọng thường rất cao, bọn trẻ đều biết vậy, và chúng làm việc với huấn luyện viên của mình để đặt ra các mục tiêu cá nhân.
Huấn luyện viên là những nhân tố không thể không nhắc đến. Họ có nhiệm vụ nuôi dưỡng, thử thách, khuyến khích và hướng dẫn học sinh. Thành thật mà nói, công việc của họ vất vả hơn là dạy theo hình thức truyền thống. Với những người mới bắt đầu, họ cần phải quên đi tất cả những điều đã được học về việc giảng dạy như những giáo viên thông thường. “Hầu hết những thứ bọn trẻ muốn học, bạn không thể dạy chúng,” Rob giải thích. Ví dụ như anh ấy không biết nói tiếng Hàn và không biết về các chương trình máy tính, tuy nhiên anh vẫn hỗ trợ được Angelique và Rafael trên những con đường riêng của chúng.
Dĩ nhiên, vẫn còn một điều khá băn khoăn là: Mô hình này có hiệu quả đối với hầu hết các trẻ em không?
Xét đến sự đa dạng về học sinh ở Agora, tôi nhìn thấy mọi lý do để tin điều đó là có thể.[7] Bọn trẻ nói cần thời gian để làm quen, nhưng thực ra là chúng học cách theo đuổi đến tận nơi trí tò mò của mình dẫn dắt tới. Sjef Drummen so sánh việc này với những con gà nhốt trong chuồng ở các trang trại: “Vài năm trước tôi mua vài con từ một người nông dân. Khi tôi thả chúng ra sân nhà mình, chúng cứ đứng đó hàng tiếng, bới thức ăn tại chỗ. Phải mất cả tuần trời chúng mới đủ can đảm nhúc nhích.”
Và giờ là tin không vui. Bất kì hình thức đổi mới triệt để nào cũng đều xung đột với các hệ thống cũ.
Thực tế, Agora giáo dục trẻ trong một môi trường khác hẳn. Trường muốn tạo điều kiện cho trẻ trở thành những công dân tự chủ, sáng tạo, có cam kết. Nhưng nếu Agora không đáp ứng được các tiêu chí kiểm tra chuẩn mực, nhà trường sẽ không vượt qua được khâu thanh tra và có thể mất nguồn tài trợ của chính phủ. Đây chính là cơ chế kìm hãm những sáng kiến giống như Agora.
Vậy có thể có một câu hỏi còn lớn hơn nữa mà chúng ta cần đặt ra: Mục đích của giáo dục là gì? Có phải là chúng ta đã khiếp sợ thứ hạng tốt và mức lương cao?
Năm 2018 hai nhà kinh tế học người Hà Lan phân tích một cuộc thăm dò 27.000 nhân công ở 37 quốc gia. Họ thấy rằng có đến một phần tư người trả lời nghi ngờ tầm quan trọng của công việc mà họ làm.[8] Những người này là ai? Chà, chắc chắn họ không phải là những lao công, hộ lý hay sĩ quan cảnh sát. Dữ liệu cho thấy rằng “những công việc vô nghĩa” nhất đều tập trung ở khu vực tư nhân – ở những nơi như ngân hàng, các hãng luật và công ty quảng cáo. Được đánh giá bằng những tiêu chí của “nền kinh tế tri thức” của chúng ta, những người làm các công việc này chính là định nghĩa về thành công. Họ kiếm được các điểm A thật, có hồ sơ LinkedIn đẹp như tranh và thu về khoản lương cao ngất ngưởng. Thế nhưng công việc họ làm, theo ước tính của chính họ, lại vô nghĩa với xã hội hiện tại.
Lẽ nào thế giới này điên khùng hết rồi sao? Chúng ta chi hàng tỉ đô la để giúp những người tài năng nhất vươn lên trên nấc thang đỉnh cao của sự nghiệp, nhưng một khi lên đến đỉnh, họ lại tự hỏi chính mình rằng: Tất cả điều đó có ý nghĩa gì? Trong khi đó, các chính trị gia rao giảng sự cần thiết bảo đảm một vị trí cao hơn trong những bảng xếp hạng quốc gia quốc tế, nói với chúng ta rằng chúng ta cần có giáo dục hơn nữa, kiếm được nhiều tiền hơn nữa và làm cho nền kinh tế “tăng trưởng” hơn nữa.[9]
Nhưng tất cả những điều đó đại diện cho cái gì? Phải chăng đó là bằng chứng về sự sáng tạo và trí tưởng tượng, hay khả năng ngồi im và gật đầu? Nó giống như điều mà triết gia Ivan Illich đã nói nhiều thập kỉ trước: “Trường học là công ty quảng cáo làm cho bạn tin rằng bạn cần xã hội như nó vốn vậy.”[10]
Agora, trường học mà chơi, lại chứng minh rằng có một phương pháp khác. Nó là một phần trong các trào lưu của các trương học đang vạch ra một chương trình thay thế. Người ta có thể giễu cợt cách tiếp cận của họ đối với giáo dục, nhưng có rất nhiều bằng chứng cho thấy rằng nó hiệu quả: Trường Summerhill ở Suffolk, Anh, đã chứng minh từ năm 1921 rằng có thể tin tưởng trao cho trẻ em quyền tự do. Trường Sudbury Valley ở Massachusetts, nơi từ những năm 1960 hàng nghìn trẻ em đã sống thời học sinh tươi đẹp của mình – và cho đến nay chúng vẫn tiếp tục sống cuộc đời mãn nguyện.[11]
Câu hỏi không phải là: Con cái chúng ta có thể xoay xở với quyền tự do hay không?
Mà là: Chúng ta có can đảm trao tự do cho chúng không?
Đó là một câu hỏi cấp bách. Nhà tâm lý học Brian SuttonSmith từng nói: “Đối lập của chơi là không làm việc. Đối lập của chơi là suy nhược.”[12] Ngày nay, cách nhiều người trong chúng ta làm việc – không có tự do, không chơi bời, không động lực nội tại – đang tiếp sức cho đại dịch suy nhược. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, suy nhược giờ là căn bệnh toàn cầu số một.[13] Khoản thiếu hụt lớn nhất của chúng ta không phải nằm ở một tài khoản ngân hàng hay bảng ngân sách, mà nằm bên trong chúng ta. Nó là sự thiếu hụt những gì làm cho cuộc sống có ý nghĩa. Thiếu chơi.
Tới thăm Agora khiến tôi có thêm niềm hi vọng, về sau, lúc Sjef Drummen thả tôi xuống nhà ga, ông ấy lại ngoác miệng cười với tôi. “Tôi nghĩ hôm nay tôi đã lải nhải quá nhiều với anh rồi.” Quả đúng như vậy, nhưng tôi phải thú thực với ông ấy: đi vòng quanh ngôi trường của ông ấy vào bất kì khoảng thời gian nào bạn cũng sẽ cảm thấy một vài điều chắc chắn xưa cũ dần tan vỡ.
Nhưng giờ tôi đã hiểu: đây là một hành trình bắt đầu lại từ đầu. Agora có triết lý giáo dục giống như các xã hội săn bắt hái lượm. Trẻ em học được nhiều bài học nhất khi được tùy ý, tự do trong một cộng đồng mà mọi lứa tuổi và năng lực kết hợp lại với nhau, có sự hỗ trợ của những huấn luyện viên và thủ lĩnh sân chơi.[14] Drummen gọi đó là “Nền giáo dục 0.0” – một sự trở lại với giống loài Homo ludens (Du hí nhân).
❀ ❀ ❀
[1] Erving Goffman, “On the Characteristics of Total Institutions” (1957).
[2] Bingo là trò chơi cực kì phổ biến ở các nước phương Tây, khi người chơi hoàn thành thử thách, họ sẽ hét to: “Blngo”.
[3] Robin Bonifas, Bullying Among Older Adults. How to Recognize and Address an Unseen Epidemic (Baltimore, 2016).
[4] Matt Sedensky, “A surprising bullying battleground: Senior centers”, Associated Press (ngày 13 tháng 5 năm 2018).
[5] Randall Collins, Violence. A Micro-sociological Theory (Princeton, 2008), tr. 166.
[6] Xem Hogwarts, ngôi trường nổi tiếng với Harry Potter. Trong thế giới tưởng tượng cuốn hút của J. K. Rowling đó là một nơi kì diệu, nhưng trong thực tiễn tôi ngờ rằng đó sẽ là địa ngục với nhiều trẻ em. Trẻ em được nhóm theo tuổi (thành các lớp) và theo cá tính (thành nhà, ví dụ Gryffindor và Slytherin). Những nhân vật quyền lực khích lệ sự cạnh tranh với một hệ thống điểm phức tạp. Nếu bạn muốn ra ngoài, lựa chọn duy nhất của bạn là Giáng sinh và nghỉ hè. Các nhà giáo dục học nhất trí rằng Hogwarts là công thức của một nền văn hóa bắt nạt.
[7] Đừng hiểu nhầm tôi, có những kỹ năng cơ bản, như đọc và viết, mà con người sống trong xã hội hĩện đại không thế thiếu. Và có những trê kém năng khiếu học những kỹ năng này hơn. Trong trường hợp như thế, hướng dẫn của chuyên gia qua một giáo viên được đào tạo là quan trọng.
[8] Robert Dur và Max van Lent, “Socially Useless Jobs”, Tinbergen Institute Discussion Paper (ngày 2 tháng 5 năm 2018).
[9] David Graeber, “On the Phenomenon of Bullshit Jobs: A Work Rant”, tạp chí Strike! (tháng 8 năm 2013).
[10] Ivan Illich, Deschooling Society (New York, 1971).
[11] Peter Gray, Free to Learn. Why Unleashing the Instinct to Play Will Make Our Children Happier, More Self-Reliant, and Better Students for Life (New York, 2013].
[12] Lois Holzman, “What’s the Opposite of Play?”, Psychology Today (ngày 5 tháng 4 năm 2016).
[13] “‘Depression: Let’s Talk’ Says WHO, As Depression Tops List of Causes of Ill Health”, Tổ chức Y tế Thế giới (ngày 30 tháng 3 năm 2017).
[14] Peter Gray, “Self-Directed Education -Unschooling and Democratic Schooling”, Oxford Research Encyclopedia of Education (tháng 4 năm 2017).