Đó là ngày 25 tháng 5 năm 1962. Ba ngày cuối cùng của thí nghiệm. Gần 1000 tình nguyện viên đã lần lượt xuất hiện bên cỗ máy sốc điện, bỗng Milgram nhận thấy thiếu điều gì đó. Những bức hình.
Vậy là một máy ảnh giấu kín khẩn trương được lắp đặt để ghi lại phản ứng của người tham gia. Chính trong thời gian này Milgram tìm ra ngôi sao của mình, một người đàn ông với cái tên sẽ trở thành từ đồng nghĩa với sự tầm thường của cái ác. Hay đúng hơn, biệt danh của anh ta: Fred Prozi. Nếu bạn đã từng xem thước phim về các thí nghiệm của Milgram, một trong số hàng trăm phim tài liệu hoặc trong một clip trên YouTube thì có lẽ bạn đã thấy Prozi hành động. Và cũng như Zimbardo và tù nhân 8612, chính những bản ghi âm của Fred Prozi giúp cho thông điệp của Milgram tạo ra sức ảnh hưởng ghê gớm.
Chúng ta thấy một người đàn ông chắc nịch, trông rất thân thiện, trạc 50 tuổi, với vẻ ngập ngừng thấy rõ, thực hiện những gì ông ta được yêu cầu. “Nhưng anh ta có thể chết trong đó!” ông ta đau khổ kêu lên – và sau đó ấn công tắc tiếp theo.[1] Nhìn bi kịch diễn ra, khán giả bị cuốn hút, họ vừa hãi hùng vừa thích thú muốn xem Prozi sẽ đi xa đến đâu.
Thí nghiệm đó đã tạo ra sự giật gân, và Milgram hiểu điều này. “Tuyệt vời!” ông đánh giá màn trình diễn của Prozi. Ông xúc động trước “sự từ bỏ hoàn toàn và căng thẳng tuyệt vời” của Prozi, và quyết định chọn người này làm nhân vật chính cho bộ phim của mình.[2] Nếu bạn nghĩ Milgram giống một đạo diễn hơn là một nhà khoa học, thì bạn không sai đâu, bởi vì chính tư cách là một đạo diễn đã giúp ông ấy thật sự tỏa sáng.
Bất kì ai đi chệch khỏi kịch bản của ông ấy đều bị ép phải tuân lệnh bằng áp lực rất lớn. Người đàn ông hướng dẫn những người đóng vai giáo viên nhấn nút – một giáo viên sinh học Milgram thuê có tên John Williams – sẽ cố gắng buộc mọi người phải tiếp tục ấn những công tắc điện thế cao hơn. Thậm chí, ông ta còn ra tay với một phụ nữ 46 tuổi dám tắt máy sốc điện, Williams liền bật máy trở lại và yêu cầu bà phải tiếp tục.[3]
“Khi bạn nghe những đoạn ghi âm này, bạn sẽ nhận ra sự tuân phục mù quáng trước quyền lực giống như bị bắt nạt và ép buộc nhiều hơn,” Gina Perry viết.[4]
Câu hỏi mấu chốt là liệu các chủ thể thí nghiệm có tin họ đang tạo ra những cú sốc điện thật sự. Không lâu sau thí nghiệm, Milgram viết rằng “với một vài ngoại lệ, các chủ thể đều bị thuyết phục rằng tình huống thí nghiệm là thực”.[5] Nhưng các lưu trữ của ông có rất nhiều tuyên bố từ những người tham gia bày tỏ thái độ nghi ngờ. Điều đó không có gì ngạc nhiên nếu như suy xét đến mức độ kì quái của tình huống. Có thật sự người ta được kì vọng sẽ tin rằng có người đang bị tra tấn và giết hại ngay dưới sự theo dõi của các nhà khoa học từ một cơ sở uy tín như Yale?
Khi nghiên cứu kết thúc, Milgram gửi cho những người tham gia một danh sách những câu hỏi. Trong đó có một câu hỏi là: Bạn thấy tình huống này có thật sự xảy ra? Mãi cho đến 10 năm sau, ông mới công khai các câu trả lời trong chương cuối cuốn sách do ông viết về các thí nghiệm. Chính vì điều này mà chúng ta phát hiện ra rằng chỉ có 56% đối tượng thí nghiệm tin rằng họ đang gây đau đớn cho học sinh. Không chỉ vậy, có một bản phân tích chưa bao giờ được công bố của một trợ lý từng làm cho Milgram tiết lộ rằng, đa số những người thật sự tin các cú sốc là thật đã đề nghị bỏ cuộc.[6]
Vậy nếu gần một nửa số người tham gia cho rằng thí nghiệm là giả thì nghiên cứu của Milgram sẽ đi đến đâu? Milgram đã công bố rằng ông muốn cho mọi người thấy “những sự thật sâu sắc và đáng lo ngại về bản chất con người” qua những phát hiện của mình, về mặt cá nhân, ông cũng thể hiện sự nghi ngờ khi viết trong nhật kí của mình vào tháng 6 năm 1965: “Liệu toàn bộ chuyện rùm beng này có giúp cho khoa học trở nên ý nghĩa hơn hay đơn thuần chỉ là một sân khấu nơi các nhà khoa học chính là đạo diễn, đây vẫn là một câu hỏi mở. Còn tôi có khuynh hướng nghiêng về cách hiểu thứ hai.”[7]
Khi công khai kết quả của cuộc thí nghiệm gây sốc điện vào năm 1963, Milgram đã vấp phải thái độ phản đối gay gắt. “Tra tấn mở to mắt”, “kinh tởm” và “chỉ hợp với những thí nghiệm trên người bọn quốc xã” là một vài trong rất nhiều cách mà báo chí mô tả những gì ông làm.[8] Sự phản đối kịch liệt của người dân dẫn đến việc ra đời những nguyên tắc đạo đức cơ bản trong việc tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu.
Suốt thời gian đó Milgram vẫn giữ một bí mật nữa. Ông chọn cách không thông báo cho khoảng 600 người tham gia thí nghiệm đó rằng: các cú sốc điện trong thí nghiệm không phải là thật. Milgram sợ sự thật về nghiên cứu của ông sẽ bị lộ và sau này ông không còn tìm được đối tượng nghiên cứu cho các thí nghiệm khác nữa. Và vậy là hàng trăm người vẫn cứ nghĩ họ đã gây sốc điện cho một người khác.
Một đối tượng thực hiện nghiên cứu đó đã thú nhận: “Thực tế, tôi đọc hết các mục cáo phó trên tờ New Haven Register trong ít nhất hai tuần sau thí nghiệm, để xem liệu tôi có phải là nhân tố gây ra cái chết của người được gọi là học sinh hay không.”[9]
❀ ❀ ❀
[1] Gina Perry, Behind the Shock Machine. The Untold story of the Notorious Milgram Psychology Experiments (New York, 2013), tr. 5.
[2] Như trên, tr. 327.
[3] Như trên, tr. 134.
[4] Gina Perry, “The Shocking Truth of the Notorious Milgram Obedience Experiments”, tạp chí Discover (2 tháng 10 năm 2013).
[5] Milgram, “Behavioral Study of Obedience”.
[6] Perry, Behind the Shock Machine (2012), tr. 164. Xem thêm Gina Perry chủ biên, “Credibility and Incredulity in Milgram’s Obedience Experiments: A Reanalysis of an Unpublished Test”, Social Psychology Quarterly (ngày 22 tháng 8 năm 2019).
[7] Stanley Milgram, “Evaluation of Obedience Research: Science or Art?” Stanley Milgram Papers (Hộp 46, tệp 16). Bản thảo chưa xuất bản (1962).
[8] Stephen D. Reicher, S. Alexander Haslam và Arthur Miller, “What Makes a Person a Perpetrator? The Intellectual, Moral, and Methodological Arguments for Revisiting Milgram’s Research on the Infl uence of Authority”, Tạp chí Social Issues, tập 70, số 3 (2014).
[9] Perry, Behind the Shock Machine, tr. 93.