Nhân Loại - Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng

Lượt đọc: 1275 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
04

❊ ❊ ❊

Công bằng mà nói, ít nhất có một người chưa bao giờ bị những lập luận của Garrett Hardin lay chuyển.

Elinor Ostrom là một nhà nghiên cứu và kinh tế học chính trị đầy tham vọng ở thời kì khi các trường đại học không hoan nghênh phụ nữ. Không như Hardin, Ostrom ít quan tâm đến các mô hình lý thuyết. Bà muốn thấy con người hành xử như thế nào trong thế giới thực.

Bà không mất nhiều thời gian để nhận ra có một chi tiết quan trọng mà bài viết của Hardin đã bỏ qua. Con người có thể nói chuyện. Nông dân và ngư dân hay những người láng giềng đều có khả năng tuyệt vời là đưa ra những thỏa thuận để giữ cho đồng ruộng của họ không biến thành hoang mạc, hồ nước của họ không bị đánh bắt quá mức, và giếng nước của họ không bị khô cạn. Cũng như cư dân đảo Phục Sinh tiếp tục tập trung lại, hay những người dân đóng góp ngân sách đưa ra các quyết định thông qua đối thoại mang tính xây dựng, những con người thường quản lý rất thành công mọi loại của chung.

Ostrom xây dựng một cơ sở dữ liệu ghi lại những ví dụ về các hình thức sở hữu chung trên khắp thế giới, từ những đồng cỏ chung ở Thụy Sĩ và đất trồng trọt ở Nhật Bản tới hệ thống tưới tiêu chung ở Philippines và các hồ trữ nước ở Nepal. Ở mọi nơi, Ostrom đều thấy rằng việc dùng chung tài nguyên hoàn toàn không phải là công thức dẫn đến bi kịch như Hardin cố gắng chứng minh.[1]

Chắc chắn, một người dân thường có thể trở thành nạn nhân của những quyền lợi xung đột hoặc lòng tham, nhưng điều đó còn lâu mới là chuyện tất yếu. Ostrom và nhóm của bà tập hợp hơn 5.000 ví dụ về tài sản chung đã phát huy hiệu quả. Nhiều ví dụ có từ hàng thế kỉ trước, như những ngư dân ở Alanya, Thổ Nhĩ Kỳ, những người có truyền thống lâu đời là bốc thăm quyền đánh bắt cá, hay những nông dân ở làng Törbel, Thụy Sĩ, cùng nhau quản lý việc sử dụng nguồn củi hiếm hoi.

Trong cuốn sách Governing the Commons (tạm dịch: Quản lý tài sản chung, xuất bản năm 1990) mang tính đột phá của bà, Ostrom đặt ra một loạt nguyên tắc quản lý của cải chung thành công. Chẳng hạn, một cộng đồng phải có một mức độ quyền tự trị tối thiểu, và một hệ thống giám sát hiệu quả. Nhưng bà cũng nhấn mạnh rằng không hề có kế hoạch chi tiết nào cho sự thành công, vì đặc điểm của tài sản chung lại thường do hoàn cảnh của từng địa phương định hình.

Theo thời gian, thậm chí khoa của Ostrom ở trường đại học cũng bắt đầu giống như một thứ tài sản chung. Năm 1973, bà và chồng mình tổ chức Hội thảo về Lý thuyết Chính trị và Phân tích chính sách tại Đại học Indiana, thu hút giới học thuật từ khắp thế giới tới nghiên cứu về đề tài: tài sản chung. Hội thảo này trở thành những buổi thảo luận và khám phá. Thực tế, nó phát triển thành một dạng cộng đồng hippie về học thuật, với những bữa tiệc trong đó chính Ostrom chỉ huy việc hát các bài dân ca.[2]

Và đến một ngày, nhiều năm sau, có một cuộc gọi đến từ Stockholm. Elinor Ostrom đoạt giải Nobel Kinh tế vào năm 2009, đây là người phụ nữ đầu tiên giành giải thưởng này.[3] Lựa chọn này phát đi một thông điệp mạnh mẽ. Sau khi Bức tường Berlin sụp đổ năm 1989 và khủng hoảng của Chủ nghĩa Tư bản năm 2008, cuối cùng cũng đến lúc quan tâm đến vấn đề tài sản chung – sự thay thế giữa nhà nước và thị trường – sự chú ý mà nó xứng đáng nhận được.

❀ ❀ ❀

[1] Tim Harford, “Do You Believe in Sharing?” Financial Times (ngày 30 tháng 8 năm 2013).

[2] Như trên.

[3] Chính thức: Giải thưởng Sveriges Riksbank về Giải thưởng của Ngân hàng Thụy Điển cho Khoa học Kinh tế để tường nhớ Nobel.

Nguyên tác Humankind: A Hopeful History - Người dịch Nguyễn Xuân Hồng
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.