Nhân Loại - Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng

Lượt đọc: 1264 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
04

❊ ❊ ❊

Khi đọc về những phát hiện khảo cổ gần đây, suy nghĩ của tôi trở lại với Jean-Jacques Rousseau. Những cây viết tự nhận là theo “hiện thực chủ nghĩa” thường phớt lờ và coi ông như một người lãng mạn ngây thơ. Nhưng tôi dần nhận thấy có vẻ như Rousseau lại chính là một nhà hiện thực chủ nghĩa thực sự.

Triết gia người Pháp này bác bỏ quan niệm về sự tiến bộ của nền văn minh. Ông bác bỏ ý tưởng – vẫn được dạy trong trường học ngày nay – đó là chúng ta khởi đầu như những cư dân hang động, chuyên nện vào đầu nhau. Rằng nông nghiệp và tài sản tư hữu là thứ mang lại cho chúng ta hòa bình, an toàn và thịnh vượng. Và những món quà này được tổ tiên chúng ta háo hức nhận lấy, bởi họ đã chán việc phải lang thang với cái bụng đói và thường xuyên chém giết lẫn nhau.

Điều Rousseau tin chẳng có gì hơn ngoài sự thật. Ông cho rằng chỉ khi chúng ta định cư ở một nơi thì mọi chuyện bắt đầu tan rã, và đó là những gì mà ngành khảo cổ hiện nay đang chứng minh cho chúng ta thấy. Rousseau cho rằng việc phát minh ra nông nghiệp là một thất bại lớn, và chúng ta ngày càng có nhiều bằng chứng thuyết phục về điều này.

Ngoài ra còn một điều nữa đó là, các nhà nhân chủng học phát hiện rằng những cư dân săn bắt hái lượm đã có một cuộc sống khá an nhàn, họ chỉ làm việc từ 20 đến 30 giờ một tuần. Tại sao lại ít như vậy? Tự nhiên chu cấp cho họ mọi thứ họ cần, nên bấy giờ có rất nhiều thời gian để thư giãn, rong chơi và kết nối.

Ngược lại, nông dân phải vất vả cấy cày trên ruộng đồng, chẳng còn mấy thời gian rảnh rỗi. Đắng cay lắm mới có quả ngọt. Thậm chí, một số nhà thần học còn ngờ rằng câu chuyện về sự Sa Ngã[1] ám chỉ sự chuyển đổi sang nông nghiệp có tổ chức, được mô tả rõ ràng trong sách Sáng Thế kí Chương 3: “Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn.”[2]

Cuộc sống định cư gây ra rất nhiều thiệt thời cho loài người, đặc biệt là phụ nữ. Sự xuất hiện của tài sản tư hữu và nông nghiệp chấm dứt thời đại mẫu quyền. Những người con trai bám trụ trên mảnh đất của cha để chăm nom đất đai và gia súc, nghĩa là giờ đây cô dâu phải được đưa tới trang trại gia đình chồng. Qua nhiều thế kỉ, các cô con gái đến tuổi kết hôn bị xem thường và không khác gì một món hàng hóa, bị trao đổi như bò hay cừu.[3]

Trong gia đình nhà chồng, những cô dâu bị nhìn với thái độ đầy khinh thường, và chỉ sau khi sinh một đứa con trai thì người phụ nữ này mới được chấp nhận. Một đứa con trai mới có giá trị. Ngoài ra, không phải ngẫu nhiên mà trinh tiết của phụ nữ biến thành một nỗi ám ảnh. Nếu ở thời tiền sử, phụ nữ được tự do tùy ý đến hoặc đi thì giờ đây họ bị giấu diếm, bắt ép, trói buộc. Chế độ phụ quyền ra đời.

Và mọi thứ ngày càng trở nên tệ hơn. Rousseau lại đúng khi ông nói rằng những nông dân định cư không còn mạnh khỏe như những cư dân du mục săn bắt hái lượm. Là dân di cư, chúng ta phải luyện tập rất nhiều và hưởng một chế độ dinh dưỡng giàu vitamin và chất xơ. Nhưng khi là nông dân, chúng ta bắt đầu tiêu thụ thực đơn đơn điệu với các loại hạt trong bữa sáng, bữa trưa và bữa tối.[4]

Chúng ta cũng bắt đầu sống trong những không gian khép kín hơn, gần rác thải của chính mình. Chúng ta thuần hóa động vật như bò và dê rồi bắt đầu uống sữa của chúng. Việc này biến các thị trấn thành những chiếc đĩa Petri[5] khổng lồ cho các loại vi khuẩn và virus biến dị.[6] Rousseau nhận xét: “Khi nói đến lịch sử xã hội dân sự, chúng ta cũng phải nói đến lịch sử bệnh tật của loài người.”[7]

Trước đây các loại bệnh lây nhiễm như sởi, đậu mùa, lao, giang mai, sốt rét, tả và dịch hạch đều chưa từng xuất hiện cho đến khi chúng ta đánh đổi lối sống du mục lấy nền nông nghiệp. Vậy bệnh tật từ đâu mà ra? Từ các vật nuôi được thuần dưỡng mới của chúng ta – hay cụ thể hơn, từ các loại vi khuẩn của chúng. Chúng ta bị lây bệnh sởi qua bò, trong khi bị cúm từ một cuộc tình tay ba (ménage à trois) giữa con người, lợn và vịt, với những biến chủng mới vẫn liên tục xuất hiện.

Tương tự với các loại bệnh lây nhiễm qua đường tình dục. Các bệnh này, gần như không hề được biết đến trong thời du mục, đã bắt đầu lan tràn trong cộng đồng những người chăn cừu. Tại sao? Lý do khá xấu hổ, đó là khi con người bắt đầu nuôi gia súc, họ cũng sinh ra thú tính. Đúng hơn là: thú dâm. Khi thế giới ngày càng trở nên căng thẳng, gã nông dân kì quái lén lút làm điều không tưởng, bức hiếp gia súc của mình.[8]

Và đó cũng là tia lửa thứ hai khiến đàn ông bị ám ảnh về trinh tiết của người phụ nữ. Ngoài vấn đề hậu duệ hợp pháp, đó còn là nỗi sợ các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục. Các vị vua và hoàng đế, những người có hậu cung rộng lớn tùy ý sử dụng, ra sức bảo đảm bạn tình của họ phải “trinh bạch”. Vậy là nảy sinh suy nghĩ – vẫn được cả triệu người ủng hộ ngày nay – tình dục trước hôn nhân là một tội nghiêm trọng.

Nạn đói, lũ lụt, dịch bệnh – ngay khi con người định cư tại một nơi thì chúng ta cũng thấy mình phải vật lộn với chu kì bất tận của tai ương. Một vụ mùa thất bát hay một loại virus bùng phát cũng đủ để giết sạch toàn bộ dân số. Với giống loài Homo puppy, đây hẳn là một khúc cua gây ra nỗi hoang mang lớn. Tại sao điều này lại xảy ra? Ai đứng đằng sau nó?

Các học giả đều nhất trí rằng con người luôn tin vào các thần linh và cả ma quỷ.[9] Nhưng các vị thần của tổ tiên du mục chúng ta thờ cúng đôi khi còn không quan tâm đến cuộc đời của những kẻ phàm trần thì nói gì đến việc trừng phạt những tội lỗi của họ. Các tôn giáo du mục tương đồng với những điều mà một nhà nhân chủng học người Mỹ đã dành nhiều năm sống với bộ lạc du mục Hadza ở Tanzania mô tả:

Tôi nghĩ có thể cho rằng người Hadza thực sự có tôn giáo, chắc chắn là một vũ trụ luận, nhưng nó lại ít có sự tương đồng với những gì hầu hết chúng ta trong các xã hội phức tạp (với Kitô giáo, Hồi giáo, Ân Độ giáo,…) cho là tôn giáo. Không có các nhà thờ, cha giảng đạo, thủ lĩnh hay vệ binh tôn giáo, không có thánh tượng hay hình ảnh thần thánh, không có các cuộc hội họp được tổ chức đều đặn, không có đạo đức tôn giáo, không có niềm tin vào một cõi âm – tôn giáo của họ không hề giống với các tôn giáo ngày nay.[10]

Sự xuất hiện của các khu định cư lớn đầu tiên đã kích hoạt một sự chuyển đổi mang tính bản lề trong đời sống tôn giáo. Khi tìm cách giải thích những tai họa đột nhiên ập xuống, chúng ta bắt đầu tin vào luật nhân quả và những thế lực với quyền năng vô hạn, tin vào các vị thần biết nổi giận vì điều xấu chúng ta làm.

Cả một tầng lớp tăng lữ tham gia vào việc nghĩ ra lý do tại sao các vị thần lại nổi giận như vậy. Phải chăng chúng ta đã ăn thứ gì đó cấm kị? Hay nói điều gì đó sai? Có một suy nghĩ bị cấm?[11] Lần đầu tiên trong lịch sử, chúng ta hình thành quan niệm về tội lỗi. Và chúng ta bắt đầu tìm tới các thầy tu để “kê đơn” cách chúng ta sám hối. Đôi khi cầu nguyện hoặc hoàn thành một loạt nghi thức nghiêm ngặt là đủ, nhưng thường chúng ta phải hi sinh những của cải thân thương – đồ ăn, động vật hoặc thậm chí con người.

Chúng ta hãy xem xét việc hiến tế của người Aztec, những người đã thiết lập cả một ngành công nghiệp hiến tế con người ở thủ đô Tenochtitlan của họ. Khi những kẻ chinh phục người Tây Ban Nha tiến quân vào thành phố năm 1519 và bước vào ngôi đền lớn nhất ở đây, họ đã sững sờ thấy những cái giá khổng lồ và những ngọn tháp chất hàng nghìn chiếc sọ người. Giờ đây các học giả tin rằng, mục đích của những cuộc hiến tế người này không chỉ là làm hài lòng các vị thần. Một nhà khảo cổ nhận xét: “Việc giết hại những kẻ bị bắt như một nghĩ thức, là một tuyên bố chính trị mạnh mẽ […] đó là cách để người đứng đầu kiểm soát dân số.”[12]

Trong khi suy ngẫm về sự khốn khổ này – nạn đói, dịch bệnh, sự áp bức – rất khó để không đặt ra câu hỏi: Tại sao lại vậy? Tại sao chúng ta cho rằng việc định cư ở một chỗ là ý tưởng hay? Tại sao chúng ta lại đánh đổi cuộc sống du mục nhàn nhã và sức khỏe để lấy một cuộc sống nhọc nhằn và phiền phức của nông dân?

Các học giả có thể xâu chuỗi thành một bức tranh khá hoàn chỉnh về những gì đã xảy ra. Những nơi định cư đầu tiên có lẽ quá hấp dẫn: một thiên đường cõi tục nơi cây cối trĩu quả và những đàn linh dương, tuần lộc đang thảnh thơi gặm cỏ, có điên mới không ở lại nơi đây.

Với nông nghiệp, cũng hệt như vậy. Không hề có khoảnh khắc vỡ òa vui sướng khi ai đó hét lên: “Eureka! Chúng ta bắt đầu trồng cây nào!” Mặc dù trong hàng vạn năm, tổ tiên của chúng ta đã nhận thức được rằng họ có thể trồng mọi thứ và thu hoạch, nhưng họ không đi theo con đường đó. Một thành viên bộ lạc !Kung từng thốt lên với một nhà nhân chủng học rằng: “Tại sao chúng tôi cần trồng cây trong khi có rất nhiều hạt mắc ca trên thế giới?”[13]

Lời giải thích hợp lý nhất là chúng ta đã bị rơi vào một cái bẫy. Đó là vùng đồng bằng phì nhiêu màu mỡ nằm giữa sông Tigris và Euphrates, nơi cây trồng mọc lên mà không tốn nhiều công sức. Ở đó chúng ta có thể gieo hạt xuống lớp đất phủ đầy phù sa sau mỗi đợt nước rút hằng năm. Mẹ Thiên nhiên đã làm phần lớn công việc, thậm chí ngay cả giống loài Homo puppy vốn ngại việc cũng sẵn lòng thử làm nông nghiệp.[14]

Nhưng điều tổ tiên chúng ta không thể tiên liệu được là con người sinh sôi phát triển quá nhanh. Khi các khu định cư của họ đông đúc hơn, số lượng động vật hoang dã giảm đi. Để bù lại, diện tích đất canh tác phải được mở rộng sang các vùng không được ban cho lớp đất màu mỡ. Càng ngày nông nghiệp càng không còn dễ dàng như trước. Chúng ta phải cày bừa và gieo hạt từ tờ mò sáng đến tối mịt. Cơ thể chúng ta không được hình thành để làm loại công việc này nên bắt đầu xuất hiện nhiều kiểu đau đớn. Cơ thể chúng ta tiến hóa đề thu lượm các loại quả mọng và chống chọi qua cái lạnh, còn hiện giờ cuộc sống của chúng ta chỉ toàn lao động nặng nhọc.

Vậy tại sao chúng ta lại không quay lại lối sống tự nhiên của mình? Vì đã quá muộn. Không chỉ có quá nhiều miệng ăn, mà đến lúc này chúng ta cũng đã đánh mất kĩ năng sở trường săn bắt hái lượm. Bên cạnh đó, chúng ta không thể chỉ đơn giản là gói ghém hành trang và lên đường tới những đồng cỏ xanh tươi hơn, bởi vì chúng ta bị bao bọc trong những khu định cư liền nhau, và chúng không chào đón những kẻ xâm phạm. Chúng ta bị mắc kẹt.

Không bao lâu, nông dân đã áp đảo dân du mục săn bắt hái lượm. Các khu định cư nông nghiệp có thể thu hoạch được nhiều lương thực hơn, điều đó có nghĩa chúng cũng có thể nuôi được đội quân đông đảo hơn. Các bộ lạc du mục duy trì lối sống truyền thống của mình phải chống trả những kẻ thực dân xâm lược và những căn bệnh lây nhiễm của họ. Cuối cùng, các bộ lạc không chịu khuất phục một bạo chúa thì đều bị đàn áp bằng vũ lực.[15]

Sự xuất hiện của những va chạm đầu tiên này báo hiệu sự khởi đầu của cuộc chạy đua sẽ định hình lại lịch sử thế giới. Các ngôi làng bị các thị trấn chinh phục, các thị trấn bị sáp nhập bởi các thành phố, các thành phố lại bị các tỉnh nuốt gọn khi các xã hội điên cuồng mở rộng quy mô để đáp ứng những nhu cầu không thể thiếu trong chiến tranh. Việc này bị đẩy lên cực điểm và dẫn đến tai họa cuối cùng mà Rousseau than vãn.

Sự ra đời của nhà nước.

❀ ❀ ❀

[1] Câu chuyện Sa Ngã kể về việc Adam và Eva đã ăn trái cấm, sau đó họ bị Thiên Chúa trừng phạt.

[2] Sáng thế kí 3:19-24. Xem thêm Van Schaik và Michel, The Good Book of Human Nature, tr. 44-5.

[3] Như trên, tr. 50-51.

[4] Jared Diamond là tác giả bài viết kinh điển về việc chúng ta kém đi như thế nào do phát minh ra nông nghiệp. Xem Jared Diamond, ‘The Worst Mistake in the History of the Human Race’, tạp chí Discover (tháng 5 năm 1987).

[5] Đĩa Petri là đĩa dùng để nuôi cấy tế bào vi khuẩn, nấm… trong phòng thí nghiệm.

[6] James C. Scott, Against the Grain. A Deep History of the Earliest States (New Haven, 2017), tr. 104-5.

[7] Jean-Jacques Rousseau, A Dissertation On the Origin and Foundation of The Inequality of Mankind and is it Authorised by Natural Law? Xuất bản lần đầu năm 1754.

[8] Van Schaik và Michel, The Good Book of Human Nature, tr. 52-4.

[9] Hervey C. Peoples, Pavel Duda và Frank w. Marlowe, “Hunter-Gatherers and the Origins of Religion”, Human Nature (tháng 9 năm 2016).

[10] Frank Marlowe, The Hadza. Hunter-Gatherers of Tanzania (Berkeley, 2010), tr. 61.

[11] Như trên, tr. 90-93.

[12] Lizzie Wade, “Feeding the gods: Hundreds of skulls reveal massive scale of human sacrifice in Aztec capital”, Science (ngày 21 tháng 6 năm 2018).

[13] Richard Lee, “What Hunters Do for a Living, or, How to Make Out on Scarce Resources”, Man the Hunter (Chicago, 1968), tr. 33.

[14] James C. Scott, Against the Grain, tr. 66-7.

[15] Turchin, Ultrasociety, tr. 174-5.

Nguyên tác Humankind: A Hopeful History - Người dịch Nguyễn Xuân Hồng
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.