Nhân Loại - Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng

Lượt đọc: 1293 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
04

❊ ❊ ❊

Nhiều tháng sau, tôi cố gắng tái hiện lại một cách chính xác nhất những gì đã xảy ra với các cậu bé khi họ bị dạt vào hòn đảo Ata. Phải nói là trí nhớ của Peter rất tốt, thậm chí dù đã 90 tuổi nhưng mọi điều ông kể đều khớp với các nguồn khác.[1]

Một nguồn thông tin rất hữu ích nữa đó là Mano Totau đang sống cách Peter vài tiếng lái xe. Mano Totau là một trong sáu cậu bé từng được Peter cứu. Mano, 15 tuổi vào thời điểm đó, giờ đã 70 tuổi, luôn coi thuyền trưởng là một trong số bạn thân nhất của mình. Vài ngày sau khi thăm Peter, tôi đã đến gặp Mano. Ông ấy đón tiếp hai vợ chồng tôi tại nhà ông ở vịnh Deception, phía bắc Brisbane.

Chúa Ruồi phiên bản đời thực được Mano kể lại cho chúng tôi nghe, câu chuyện bắt đầu vào tháng 6 năm 1965.

Đương nhiên vai chính là sáu cậu bé, học sinh trường St. Andrew’s, một trường nội trú Công giáo khá nghiêm khắc ở Nukualofa. Cậu lớn nhất 16 tuổi, nhỏ nhất 13, và cả sáu cậu bé đều có một điểm chung: chúng cảm thấy ngán trường học muốn chết! Các cậu choai này thèm những chuyến phiêu lưu hơn là việc làm bài tập, thèm cuộc sống tự do hơn là bị nhốt trong trường.

Cho nên các cậu nảy ra một kế hoạch bỏ trốn: tới Fiji, cách đó khoảng 500 dặm, hoặc nếu có thể thì đi thẳng một mạch tới New Zealand. Mano nhớ lại: “Rất nhiều bạn khác trong trường biết chuyện này, nhưng họ lại cho là chúng tôi đang đùa.”

Chỉ một trở ngại duy nhất, không ai trong số các cậu bé sở hữu một con thuyền, cho nên các cậu đã “mượn tạm” chiếc thuyền của ông Taniela Uhila, một ngư dân mà tất cả các cậu đều không ưa.

Các cậu chẳng chuẩn bị gì nhiều: hai bao chuối, vài quả dừa và một mỏ hàn khí đốt nhỏ, đó là tất cả nhu yếu phẩm các cậu gói ghém được. Còn chẳng ai nghĩ đến việc mang theo một tấm bản đồ chứ đừng nói gì đến la bàn. Đặc biệt nhất là không ai trong số các cậu có kinh nghiệm đi biển hay từng là thủy thủ. Chỉ có cậu bé nhỏ tuổi nhất, David, biết cách điều khiển một con thuyền, mà theo cậu thì đó “chính là lý do họ muốn tôi đi cùng.”[2]

Chuyến đi bắt đầu mà chẳng gặp trở ngại gì. Chẳng ai chú ý đến con thuyền nhỏ vừa rời cảng vào buổi tối hôm đó. Bầu trời quang đãng, chỉ có làn gió nhẹ mơn man, biển cả yên tĩnh.

Nhưng ngay đêm đó các cậu bé đã phạm phải sai lầm nghiêm trọng. Các cậu đã ngủ quên. Vài tiếng sau, các cậu bị đánh thức bởi nước mưa đang ào ạt trút xuống. Trời tối đen như mực. Tất cả những gì chúng thấy là những con sóng ngầu bọt cuộn lên tứ phía. Các cậu giương buồm nhưng lập tức bị gió xé tan tành. Tiếp theo là vỡ bánh lái. Cậu bé lớn nhất là Sione còn đùa: “Khi chúng ta về nhà, chúng ta phải nói với ông Taniela rằng, đúng là người làm sao của chiêm bao làm vậy – chiếc thuyền này quá già cỗi và xộc xệch!”[3]

Thế nhưng những ngày tiếp theo, chẳng có nhiều chuyện để mà bông đùa. Mano nhớ lại: “Chúng tôi lênh đênh trên biển tám ngày liền. Không thức ăn. Không nước uống.” Các cậu bé cố gắng bắt cá. Chúng tìm cách hứng lại ít nước mưa trong những gáo dừa và chia nhau thật công bằng, mỗi người nhấp một ngụm buổi sáng và một ngụm nữa vào buổi tối. Sione thử đun nước biển bằng chiếc mỏ hàn khí đốt nhưng nó chao đi và khiến cậu bị bỏng một vệt lớn ở chân.

Đến ngày thứ tám, một phép lạ hiện ra nơi đường chân trời. Đất liền. Chính xác hơn là một hòn đảo nhỏ. Đó không phải một thiên đường nhiệt đới với những hàng cọ xanh tươi vẫy chào, những bãi biển cát trắng kéo dài, mà là một khối đá xù xì, nhô lên khỏi đại dương chừng hơn 300 mét.

Tám ngày lênh đênh trên Thái Bình Dương

Hành trình sáu cậu bé đi tới Ata

Hồi ấy, một nhà thám hiểm người Tây Ban Nha đã tìm thấy Ata chỉ vài năm trước, và nó bị coi là nơi con người không thể sinh sống. Ông nghĩ, đó là nơi lý tưởng dành cho những chuyến thám hiểm xác tàu đắm mà công ty ông thường tổ chức cho đám nhà giàu với những nhu cầu khác thường nào đó. Ông ấy đã đích thân đến và kiểm tra, tuy nhiên chỉ 9 ngày sau, con người tội nghiệp đó đã phải từ bỏ ý định. Khi một phóng viên hỏi liệu công ty của ông có định mở các dịch vụ kinh doanh trên hòn đảo không, ông không do dự mà trả lời thẳng thừng rằng: “Không bao giồ. Hòn đảo quá khắc nghiệt.”[4]

Tuy nhiên, nhóm thiếu niên lại có một trải nghiệm khác hẳn với nhà thám hiểm người Tây Ban Nha. Thuyền trưởng Warner viết trong hồi kí rằng: “Thời điểm chúng tôi đến, các cậu bé đã thiết lập được một hệ sinh thái nhỏ gồm có vườn thực vật nhỏ, những thân cây khoét rỗng để trữ nước mưa, khu vực tập thể thao với những khối tạ kì lạ, một khoảng đất bằng phẳng để chơi quần vợt, một chuồng gà nhỏ và một đống lửa không bao giờ tắt, tất cả đều do các cậu bé tự làm, bằng hai bàn tay, một lưỡi dao cũ cộng thêm quyết tâm cao độ.”[5]

Chính Stephen – sau này là một kĩ sư – sau vô số thất bại, đã tìm cách tạo ra lửa nhờ sử dụng hai chiếc que. Trong khi các cậu bé trong câu chuyện Chúa Ruồi tưởng tượng đánh nhau vì lửa thì những cậu bé trong Chúa Ruồi đời thực lại chăm chút cho ngọn lửa để nó không bao giờ tắt, suốt hơn một năm.

Các cậu bé nhất trí làm việc theo nhóm hai người, phân công nhiệm vụ rõ ràng: làm vườn, làm bếp và cảnh giới. Thỉnh thoảng các cậu cũng cãi nhau, nhưng bất cứ khi nào chuyện đó xảy ra thì các cậu sẽ giải quyết bằng cách áp dụng một khoảng thời gian tạm nghỉ (time-out). Những người cãi nhau, mỗi người một ngả đi đến hai đầu hòn đảo cho đến khi hạ hỏa, và theo như lời Mano kể: “Khoảng bốn tiếng sau, họ sẽ trở lại nơi ở và cùng nói xin lỗi nhau. Đó là cách chúng tôi áp dụng để duy trì tình bạn.”[6]

Mỗi ngày đều bắt đầu và kết thúc bằng những bài hát và lời nguyện ngắn. Kolo tự làm một cây ghita đơn giản từ một mảnh ván mà cậu tìm được, nửa cái gáo dừa và sáu sợi thép lấy từ con thuyền vỡ nát của họ – cây đàn này đã được Peter giữ gìn mãi về sau – và cậu ấy chơi đàn để khích lệ tinh thần của cả nhóm.

Cũng nhờ nó mà tinh thần của cả nhóm được khích lệ rất nhiều. Cả mùa hè dài, trời ít mưa khiến các cậu bé khát đến mức muốn phát rồ. Các cậu cũng cố gắng đóng một chiếc bè để rời khỏi đảo, nhưng vừa mới xuống nước nó đã bị sóng đánh tan thành từng mảnh[7]. Rồi một trận bão quét qua đảo và quật một cái cây đổ trúng vào túp lều của các cậu.

Tệ nhất là lần Stephen không may bị trượt ngã xuống vách đá và bị gãy một chân. Các cậu bé khác lần xuống tìm rồi đưa cậu lên. Cái chân gãy của Stephen được cố định bằng cành và lá cây. “Đừng lo,” Sione đùa. “Chúng tớ sẽ phụ trách công việc của cậu, còn cậu chỉ việc nằm đó nghỉ ngơi giống như Đức vua Taufa‘ahau Tupou!”[8]

Sau đó, người ta phát hiện ra các cậu bé và cứu thoát các cậu vào Chủ Nhật ngày 11 tháng 9 năm 1966. Về thể chất, các cậu hoàn toàn khỏe mạnh, không mắc bất cứ bệnh gì. Bác sĩ địa phương, Posesi Fonua, hết sức kinh ngạc trước vóc người, cơ bắp của từng cậu bé và nhất là cái chân hoàn toàn lành lặn của Stephen.

Nhưng đây chưa phải là đoạn kết cho cuộc phiêu lưu của các cậu, bởi vì khi về đến Nukualofa, có rất nhiều cảnh sát đang chờ gặp các cậu. Những cậu bé đang hi vọng rằng hẳn là có rất nhiều người, kể cả cảnh sát sẽ rất xúc động trước sự trở về của sáu chàng trai bị lạc. Nhưng sự thật thì không phải vậy. Cảnh sát đã lên tàu của thuyền trưởng Peter, bắt giữ sáu cậu bé và giam chúng vào tù. Ông Taniela Uhila, người có chiếc thuyền bị các cậu bé “mượn tạm” 15 tháng trước, vẫn rất giận dữ và quyết định kiện các cậu.

May thay, Peter đã nảy ra một kế hoạch hoàn hảo. Ông chợt nghĩ ra rằng câu chuyện đắm tàu của các cậu bé có thể là chất liệu hoàn hảo cho Hollywood. Sáu cậu bé bị bỏ lại trên một hòn đảo… đó là một câu chuyện mà mọi người sẽ bàn tán trong nhiều năm nữa. Là kế toán trong công ty của cha mình, đồng thời Peter cũng quản lý cả truyền thông của công ty nên ông có quen biết nhiều người làm trong ngành truyền hình.[9]

Viên thuyền trưởng biết chính xác ông cần phải làm gì. Đầu tiên, từ Tonga, ông gọi cho những người quản lý Channel 7 ở Sydney và nói với họ: “Các vị có thể sở hữu bản quyền phát hành phim ở Úc, và giao cho tôi quyền phát hành phim trên toàn thế giới. Sau đó tôi sẽ cứu những đứa trẻ này ra khỏi tù và đưa chúng trở lại đảo.” Tiếp đó, Peter tìm tới gặp ông Uhila và trả cho ông ta 150 bảng tiền chiếc thuyền cũ, giúp các cậu bé được thả với điều kiện các cậu phải hợp tác để quay bộ phim này.

Vài ngày sau, một nhóm từ Channel 7 bay đến trong chiếc DC-3 cổ, chuyên bay dịch vụ một chuyến mỗi tuần xuất phát từ Tonga. Khi mô tả lại cảnh đó với Maartje và tôi, Peter cười khùng khục. “Bước ra khỏi chiếc máy bay đó là ba người của đài truyền hình khoác những bộ vest cùng đôi giày mũi nhọn.”

Lúc đoàn đến đảo Ata, sáu cậu bé cũng theo đến đó, nhóm người từ Channel 7 ai nấy đều mặt xanh nanh vàng. Tệ hơn, họ không biết bơi, ông Peter phải trấn an họ: “Đừng lo. Những cậu bé này sẽ cứu các anh.”

Thuyền trưởng lái thuyền đưa mấy người đàn ông run như cầy sấy ra chỗ sóng vỗ mạnh nhất và hướng dẫn: “Đây là chỗ các anh cần nhảy ra.”

Thậm chí 50 năm sau, kí ức đó vẫn khiến mắt ông Peter ướt nhèm – lần này do cười. “Tôi đẩy họ ra, và đám người truyền hình đến từ Úc này chìm xuống, còn mấy cậu Tonga thì lặn xuống, kéo họ lên, vượt qua sóng biển, đẩy họ vào phía những tảng đá.”

Tiếp đó, đoàn phải leo lên vách đá, mất rất nhiều thời gian để leo lên được đến nơi. Cuối cùng khi họ lên đến đỉnh, cả nhóm khuỵu xuống vì kiệt sức. Không có gì ngạc nhiên khi bộ phim tài liệu về những cậu bé trên hoang đảo Ata đã không thành công. Những cảnh quay không chỉ tệ mà hầu hết cuộn phim 16 mm đều mất, chỉ còn tổng cộng khoảng 30 phút. “Thực tế nó chỉ được 20 phút, cộng với quảng cáo,” Peter đính chính.

Theo lẽ tự nhiên, ngay khi tôi nghe nói về phim tài liệu của Channel 7, tôi đã muốn được xem nó. Peter không giữ bản nào cho nên ngay khi trở lại Hà Lan, tôi đã liên hệ với một đại lý chuyên tìm và phục chế các bản ghi cũ. Nhưng cho dù họ tìm kiếm thế nào thì cũng không thể tìm thấy nó.

Sau đó, Peter lại can thiệp, ông giúp tôi liên hệ với một nhà làm phim độc lập có tên Steve Bowman từng tới thăm “các cậu bé” vào năm 2006. Steve rất thất vọng bởi câu chuyện về những cậu bé này chưa bao giờ nhận được sự chú ý đúng tầm. Bộ phim tư liệu của ông chưa bao giờ được phát sóng vì đơn vị phát hành phim bị phá sản, tuy nhiên ông vẫn giữ các cuộn phim phỏng vấn thô của mình. Ông rất tốt bụng đề nghị chia sẻ những tư liệu đó với tôi và cũng để tôi liên hệ với Sione, người lớn tuổi nhất trong các “cậu bé”. Rồi ông nói rằng ông có bản sao duy nhất của bộ phim tư liệu 16 mm ấy.

“Tôi có thể xem nó được không?” Tôi hỏi Steve.

“Dĩ nhiên rồi,” ông trả lời tôi.

Và vậy là sau nhiều tháng trời mò mẫm từ một câu chuyện mơ hồ trên blog kể về sáu cậu bé bị đắm tàu, hôm nay tôi đã được xem đoạn phim nguyên gốc năm 1966 trên máy tính của mình. Bộ phim mở đầu với lời thoại: “Tôi là Sione Fataua cùng năm bạn học khác đến từ trường Trung học St Andrew’s và chúng tôi bị dạt lên hòn đảo này vào tháng 6 năm 1965.”

Các cậu rất hân hoan khi được trở về với gia đình mình ở Tonga. Gần như tất cả mọi người trên hòn đảo Ha’afeva – dân số 900 người – đổ ra đường để chào đón các cậu bé sống sót trở về nhà.

“Bữa tiệc này chưa kết thúc thì đã chuẩn bị cho bữa tiệc khác,” giọng thuyết minh phim tài liệu năm 1966 vang lên.

Thuyền trưởng Peter được phong là anh hùng dân tộc. Chẳng bao lâu sau ông nhận được một bức thư từ đích thân Vua Taufa‘ahau Tupou IV, mời vị thuyền trưởng này đến triều kiến một lần nữa. Đức vua nói: “Cảm ơn ngài vì đã cứu sáu thần dân của ta. Giờ, có điều gì ta có thể làm cho ngài không?”

Vị thuyền trưởng không chút suy nghĩ mà trả lời luôn: “Tôi muốn được bắt tôm hùm ở vùng biển này và khởi nghiệp kinh doanh ở đây.”

Lần này nhà vua đã đồng ý. Peter trở về Sydney, rút khỏi công ty của cha mình và đặt đóng một con tàu mới. Sau đó ông mời sáu cậu bé tới và dành tặng cho các cậu điều đã khơi nguồn tất cả: cơ hội được thấy thế giới bên ngoài Tonga, ông thuê Sione, Stephen, Kolo, David, Luke và Mano làm thủy thủ trên con tàu đánh cá mới của mình.

Tên con tàu là gì ư? Là Ata.

❀ ❀ ❀

[1] Đặc biệt xem Keith Willey, Naked Island – and Other South Sea Tales (London, 1970).

[2] Steve Bowman, một nhà làm phim người Úc, phỏng Vấn David năm 2007 và chia sẻ đoạn phim (chưa công bố) của ông với tôi. Câu trích này được lấy từ phim tài liệu của Bowman.

[3] Willey, Naked Island, tr. 6.

[4] Trích trong Scott Hamilton, “In remote waters”, readingthemaps.blogspot.com (ngày 18 tháng 11 năm 2016).

[5] Peter Warner, Ocean of Light. 30 years in Tonga and the Pacific (Keerong, 2016), tr. 19.

[6] Đây là cách Sione nhớ đến sự việc, ông đã kể với tôi qua điện thoại “Chúng tôi ở rất gần nhau. Bất kì lúc nào xảy ra cãi vã, tôi đều cố gắng xoa dịu các cậu bé. Rồi chúng khóc, chúng xin lỗi, và thế là hết. Lần nào cũng vậy.”

[7] Thực tế, điều này rất may mắn. Tin rằng họ ở gần Samoa, các cậu bé vạch một lộ trình đi về phía Nam, trong khi thực tế họ sẽ phải đi lên phía Bắc.

[8] Willey, Naked Island, tr. 33.

[9] Warner, Ocean of Light, tr. 89.

Nguyên tác Humankind: A Hopeful History - Người dịch Nguyễn Xuân Hồng
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.