Khi chúng tôi đến Windsor, tôi hay tin Raymond và Perdita đã lên đường đi đại lục. Tôi liền dọn vào ở trong ngôi nhà nhỏ của em gái, tự lấy làm may mắn vì được sống trong tầm nhìn trông ra Lâu đài Windsor. Thật là một nghịch lý trớ trêu khi vào thời điểm ấy, dù nhờ cuộc hôn nhân của Perdita mà tôi trở thành thông gia với một trong những kẻ giàu có nhất nước Anh, lại thêm mối thâm tình khăng khít với vị quý tộc bậc nhất chốn hoàng triều, tôi lại phải nếm trải cảnh nghèo túng khốn cùng nhất từ trước tới nay. Bản tính thực dụng của Lord Raymond thừa đủ để ngăn tôi không bao giờ ngửa tay xin xỏ ông ta, dẫu cho khốn khó có ngập đầu đi chăng nữa. Tôi hằng tự nhủ về Adrian rằng chiếc ví của anh ấy luôn rộng mở với tôi, rằng tâm hồn chúng ta là một, thì gia tài cũng phải chung đợt. Nhưng quả là vô ích, bởi hễ ở bên anh ấy là tôi chẳng thể nào nghĩ đến sự bố thí như một phương thuốc cứu đói, thậm chí tôi còn vội vã từ chối mọi nhã ý giúp đỡ, dối lòng rằng bản thân chẳng thiếu thốn gì. Làm sao tôi có thể thốt lên với con người hào hiệp ấy rằng: “Hãy nuôi tôi trong cảnh nhàn rỗi đi. Anh, người đã hiến dâng trí tuệ và sản nghiệp cho lợi ích nhân loại, lẽ nào lại đem sức lực đặt sai chỗ để dung dưỡng một kẻ đầu vuông tay quá, khỏe mạnh và thừa sức làm ăn trong vô ích?”
Thế mà tôi lại chẳng dám cậy nhờ anh dùng uy thế để mưu cầu cho mình một chức tus xứng đáng — bởi nếu vậy, tôi sẽ buộc phải rời xa Windsor. Tôi cứ quanh quẩn bên những bức tường thành và tán lá rợp bóng của lâu đài; bầu bạn duy nhất của tôi chỉ là sách vở và những nỗi niềm yêu đương. Tôi nghiền ngẫm tri thức của người xưa, ngắm nhìn những bức tường hạnh phúc che chở cho bóng hồng trân quý của tâm hồn tôi. Dù vậy, tâm trí tôi vẫn luẩn quẩn trong vô định. Tôi đắm chìm trong những vần thơ cổ, nghiên cứu triết học siêu hình của Plato và Berkeley. Tôi đọc sử Hy Lạp, La Mã lẫn lịch sử nước Anh thuở trước, đồng thời dõi theo từng nhịp sống của người thiếu nữ đã chiếm trọn trái tim tôi. Ban đêm, tôi có thể nhìn thấy bóng nàng hắt lên bức tường phòng; ban ngày, tôi ngắm nàng dạo chơi trong vườn hoa hoặc cưỡi ngựa qua công viên cùng những người bạn quen thuộc. Tôi cứ ngỡ phép màu sẽ tan vỡ nếu mình bị phát hiện, nhưng chỉ cần nghe được tiếng nói của nàng thôi là tôi đã mãn nguyện rồi. Tôi gán cho mỗi nữ anh hùng trong sách vẻ đẹp và phẩm chất tuyệt vời của nàng — nàng Antigone khi dìu người cha mù Œdipus đến lùm cây của các nữ thần Eumenides và cử hành tang lễ cho Polynices; nàng Miranda trong hang động hoang vu của Prospero; nàng Haidee trên bãi cát hòn đảo Ionian. Tôi phát dại vì sự sùng bái đầy cuồng nhiệt, nhưng lòng kiêu hãnh bướng bỉnh tựa ngọn lửa đã khóa chặt tâm can, ngăn tôi không để lộ nửa lời hay ánh mắt.
Trong lúc ấy, khi tôi tự nuông chiều bản thân bằng những bữa tiệc tinh thần thịnh soạn, thì ngay cả một bác nông dân cũng phải chê bai bữa ăn đạm bạc mà đôi khi tôi đi "thuổng" từ mấy chú sóc trong rừng. Thú thật, tôi không ít lần bị cám dỗ quay lại những trò nghịch ngợm thời thơ ấu, giơ tay đánh ngã những con gà lôi dạn dĩ đậu trên cành cây, đang chớp chớp đôi mắt sáng ngời nhìn tôi. Nhưng chúng là tài sản của Adrian, là vật cưng do một tay Idris chăm bẵm; thế nên, dẫu trí tưởng tượng bị cơn đói khát kích thích khiến tôi cho rằng chúng nằm trên vỉ nướng trong bếp nhà mình còn hợp lý hơn là chuyền trên tán lá xanh của rừng già,
Dẫu vậy,
Tôi nén lòng kiêu hãnh, chẳng dám ăn,
mà chỉ nuốt trọn những nỗi niềm cảm hoài, mộng mơ hão huyền về “những miếng ngon ngọt ngào” mà lúc tỉnh giấc chẳng thể nào với tới.
Nhưng rồi, vào giai đoạn ấy, toàn bộ quỹ đạo tồn tại của tôi sắp sửa đổi thay. Đứa con mồ côi bị bỏ quên của Verney đang đứng trước thềm được nối kết vào guồng máy xã hội bằng một sợi dây chuyền bằng vàng, để bước vào mọi bổn phận và ân tình của cuộc sống. Những phép màu sắp sửa diễn ra vì tôi, guồng máy của đời sống xã hội bị đẩy lùi lại bằng một nỗ lực khổng lồ. Hỡi độc giả, hãy lắng nghe tôi tường thuật câu chuyện kỳ diệu này!
Một ngày nọ, khi Adrian và Idris đang cưỡi ngựa qua khu rừng cùng mẹ và những người bạn quen thuộc, Idris kéo anh trai tách khỏi đoàn người, bất chợt hỏi: “Điều gì đã xảy ra với người bạn của anh, Lionel Verney vậy?”
“Ngay từ chỗ này,” Adrian đáp, vừa chỉ tay về phía ngôi nhà của em gái tôi, “em cũng có thể thấy nơi anh ấy ở.”
“Thật ư!” Idris nói, “và tại sao, nếu anh ấy ở gần thế, mà không đến thăm chúng ta, hay hòa mình vào hội của chúng ta chứ?”
“Anh vẫn thường sang thăm cậu ấy,” Adrian đáp; “nhưng em thừa đoán được những lý do ngăn cản cậu ấy đến chốn mà sự hiện diện của mình có thể làm phiền lòng bất cứ ai trong chúng ta.”
“Em đoán được chứ,” Idris nói, “và dẫu thế nào đi nữa, em cũng chẳng dám tranh chấp với những lý do ấy. Tuy nhiên, hãy nói cho em biết cậu ấy tiêu phí thời gian ra sao; trong chốn ẩn dật ấy, cậu ấy đang làm gì và suy nghĩ những gì?”
“Ôi, cô em ngọt ngào của anh,” Adrian đáp, “em đang hỏi anh nhiều hơn những gì anh có thể trả lời đấy; nhưng nếu em thực sự quan tâm đến cậu ấy, sao không thử đến thăm? Cậu ấy sẽ vô cùng vinh hạnh, và bằng cách đó, em có thể trả lại một phần ơn nghĩa mà anh nợ cậu ấy, cũng như bù đắp cho những bất công mà số phận đã giáng xuống đầu cậu ấy.”
“Em rất sẵn lòng cùng anh đến chỗ ở của cậu ấy,” nàng thiếu nữ đáp, “không phải vì em muốn cả hai chúng ta rũ bỏ món nợ kia—thứ vốn lớn bằng chính mạng sống của anh và chẳng bao giờ có thể trả hết. Nhưng thôi, chúng ta đi đi; ngày mai hãy sắp xếp cùng nhau cưỡi ngựa hướng về phía khu rừng đó để ghé thăm cậu ấy.”
Thế là vào chiều hôm sau, dẫu cho tiết trời mùa thu đã mang theo cái lạnh và những trận mưa phùn, Adrian và Idris vẫn bước vào ngôi nhà nhỏ của tôi. Họ bắt gặp tôi đang dùng bữa tối nghèo nàn bằng thứ quả héo úa chẳng khác nào Curius thuở xưa; nhưng những món quà họ mang theo lại quý giá hơn cả những tháp vàng hối lộ của người Sabine, và tôi chẳng tài nào từ chối kho báu vô giá gồm tình bạn và niềm hỷ lạc mà họ ban tặng. Chắc chắn cặp song sinh huy hoàng của Latona thuở hồng hoang thế giới chào đời để làm đẹp và soi rọi “mỏm đất cằn cỗi” này cũng chẳng được chào đón nồng nhiệt hơn cặp đôi thiên thần đến với mái tranh nghèo và tấm lòng biết ơn của tôi. Chúng tôi ngồi quây quần bên lò sưởi như một gia đình. Cuộc trò chuyện xoay quanh những chủ đề chẳng dính dáng gì đến cảm xúc đang hiện rõ trong lòng mỗi người; nhưng ai nấy đều thấu tỏ tâm can kẻ khác, và trong khi lời nói cất lên về những chuyện không đâu, thì đôi mắt qua thứ ngôn ngữ tĩnh lặng đã kể biết bao điều mà chẳng ngôn từ nào thốt nổi.
Họ rời đi sau đó một tiếng đồng hồ. Họ rời đi và để lại cho tôi niềm hạnh phúc—hạnh phúc không sao tả xiết. Chẳng cần đến những âm thanh đo đếm của ngôn ngữ loài người để diễn tả câu chuyện ngất ngây lòng tôi. Idris đã đến thăm tôi; Idris tôi sẽ còn được gặp lại mãi—tưởng tượng của tôi chẳng màng vươn xa hơn sự vẹn tròn của thực tế ấy. Tôi như đang bước đi trên mây; chẳng mảy may nghi ngờ, sợ hãi, thậm chí chẳng cần hy vọng, tôi thu trọn sự viên mãn vào tận sâu tâm hồn, thỏa thuê, vô dục, ngập tràn phúc lạc.
Suốt nhiều ngày liền, Adrian và Idris vẫn tiếp tục ghé thăm tôi như thế. Trong mối thâm tình quý giá ấy, tình yêu đội lốt một tình bạn nồng nhiệt đã ngấm sâu và lan tỏa thứ tinh thần vạn năng của nó. Idris cảm nhận được điều đó. Phải, hỡi vị thần của thế gian, anh đọc được những nét chữ tình yêu qua ánh mắt và cử chỉ của nàng; anh nghe thấy giọng ca du ngân của em được nàng ngân vọng lại—chính em đã dọn sẵn cho chúng tôi một lối đi êm đềm đầy hoa cỏ, được trang hoàng bởi muôn vàn dịu dàng ý nghĩ—tên của Người, hỡi Tình Yêu, không hề được thốt ra, nhưng Người vẫn đứng đó như Thần Hộ Mệnh của khoảnh khắc này, che mặt sau tấm màn, và chỉ có thời gian, chứ chẳng phải bàn tay phàm tục nào, mới có quyền vén lên. Những cơ quan phát âm không hề tuyên bố sự gắn kết của đôi tim; bởi hoàn cảnh trớ trêu chẳng cho phép bày tỏ những điều đang chực chờ trên đôi môi. Ôi ngòi bút của tôi! Hãy mau mau viết lại những gì đã diễn ra, trước khi nỗi niệm về hiện tại kịp níu giữ bàn tay đang dẫn dắt ngươi! Nếu tôi ngước nhìn mặt đất hoang vu, cảm nhận rằng đôi mắt thương yêu ấy đã tắt lịm ánh hào quang trần thế, và đôi môi mỹ lệ ấy đã lặng thím, với những "tờ hoa thắm" đã phai tàn vĩnh viễn, thì tôi sẽ câm nín ngàn thu!
Nhưng em vẫn sống, hỡi Idris của anh, thậm chí ngay lúc này em vẫn đang hiện diện trước mắt anh! Nơi đó có mộtảng rừng quang đãng, hỡi độc giả! Một khoảng cỏ xanh mướt trong rừng sâu; những hàng cây lùi lại nhường chỗ cho thảm nhung phẳng lì làm đền thờ cho tình ái; dòng sông Thames bạc đầu uốn lượn ôm lấy một bên, và một cành liễu rà xuống khỏa làn nước mái tóc rối bù như tiên nữ sông Naiad dưới bàn tay vô hình của gió. Những cội sồi xung quanh là chốn dung thân của một bầy sơn ca—và anh đang ở đó cùng em; Idris, trong độ tuổi xuân thì rực rỡ nhất, đang ở bên anh—hãy nhớ rằng, anh vừa tròn hai mươi hai, và mười bảy mùa hè vừa chớm qua đi trên người thiếu nữ anh yêu. Dòng sông dâng nước vì những trận mưa thu, tràn ngập cả vùng đất thấp, và Adrian trên chiếc thuyền ưa thích đang bận rộn với trò chơi mạo hiểm là với lấy cái cành cao nhất của một cây sồi ngập nước. Anh chán sống rồi sao, hỡi Adrian, mà lại đùa giỡn với hiểm nguy nhường ấy?—
Cậu ấy đã tóm được chiến lợi phẩm và chèo thuyền lướt qua dòng lũ; chúng tôi nín thở dán chặt mắt vào cậu ấy, nhưng dòng nước xiết đã cuốn cậu ấy trôi xa; cậu ấy buộc phải cập bờ ở đoạn xa phía dưới và đi đường vòng một đoạn khá xa mới nhập hội được với chúng tôi. “Cậu ấy an toàn rồi!” Idris nói khi nhảy lên bờ, tay vung vẩy cành cây trên đầu như dấu hiệu của chiến thắng; “chúng ta hãy đợi cậu ấy ở đây.”
Chúng tôi chỉ có hai người; mặt trời đã lặn; tiếng chim sơn ca bắt đầu cất lên; ngôi sao hôm tỏa sáng rực rỡ giữa dòng hào quang vẫn chưa phai nhạt nơi phương tây. Đôi mắt xanh thẳm của người thiếu nữ thiên thần của tôi đang dán chặt vào biểu tượng ngọt ngào ấy của chính nàng: “Ánh sáng từ sự sống của ngôi sao kia mới chao đảo làm sao,” nàng nói. “Vầng hào quang chập chờn của nó như muốn nói rằng thân phận của nó, cũng giống như chúng ta trên trần thế, thật mong manh và bất định; dường như nó vừa sợ hãi, lại vừa yêu thương.”
“Đừng ngắm ngôi sao ấy nữa, người bạn hiền hậu và rộng lượng,” tôi kêu lên, “đừng đọc lấy tình yêu trong những tia sáng run rẩy ấy; đừng nhìn vào những thế giới xa xôi; cũng đừng nói về thứ tình cảm chỉ có trong tưởng tượng. Anh đã im lặng quá lâu; khao khát được trò chuyện cùng em, được dâng hiến tâm hồn, cuộc sống và toàn bộ bản thể mình cho em đã khiến anh mệt mỏi đến cùng cực. Đừng nhìn ngôi sao ấy nữa, tình yêu của anh, hoặc nếu có nhìn, hãy để tia lửa vĩnh hằng ấy biện hộ cho anh; hãy để nó làm chứng nhân và trạng sư cho anh, lặng lẽ dẫu nó vẫn tỏa sáng—tình yêu đối với anh cũng tựa như ánh sáng đối với ngôi sao; chừng nào ánh sáng ấy chưa bị sự diệt vong vùi lấp, thì chừng đó anh vẫn mãi yêu em.”
Khoảnh khắc ngất ngây ấy sẽ mãi mãi bị che khuất trước ánh mắt chai sạn của thế gian. Trái tim trọn vẹn của tôi vẫn cảm nhận được vóc dáng uyển chuyển của nàng đang ép sát vào —tầm nhìn, nhịp đập và hơi thở vẫn lịm đi và chùng xuống mỗi khi nhớ về nụ hôn đầu tiên ấy. Chúng tôi chậm rãi và lặng lẽ bước đi đón Adrian đang đến gần.
Tôi nài nỉ Adrian quay lại gặp tôi sau khi đã đưa em gái về nhà. Và ngay tối hôm đó, rảo bước giữa những lối mòn trong rừng ngập ánh trăng, tôi đã bộc bạch toàn bộ cõi lòng, niềm ngất ngây cùng hy vọng của mình với người bạn. Cậu ấy thoáng vẻ đỗi bàng hoàng—“Lẽ ra tớ phải lường trước điều này,” cậu ấy nói, “sóng gió gì sẽ nổi lên đây! Xin lỗi cậu nhé Lionel, đừng ngạc nhiên khi viễn cảnh đối đầu với mẹ khiến tớ chao đảo, dẫu rằng trong thâm tâm tớ vô cùng sung sướng khi biết những kỳ vọng tốt đẹp nhất của mình đã thành hiện thực, đó là trao phó em gái cho sự bảo bọc của cậu. Nếu cậu chưa biết, thì chẳng mấy chốc cậu sẽ thấu hiểu nỗi căm hờn thấu xương mà mẹ tớ dành cho cái tên Verney. Tớ sẽ nói chuyện với Idris; sau đó, tất cả những gì một người bạn có thể làm, tớ sẽ làm; còn vai trò người tình, nếu đủ khả năng, đành phải giao cho em ấy vậy.”
Trong lúc hai anh em vẫn đang loay hoay tìm cách thuyết phục người mẹ về phe mình, thì bà, vốn đã hoài nghi những buổi hẹn hò của chúng tôi, liền đem chuyện đó ra tra vấn các con; mắng nhiếc cô con gái ngọc ngà vì tội dối trá và thói vương vấn không xứng đáng với một kẻ có độc một công trạng là làm con của tên sủng thần trác táng dưới trướng người cha bất cẩn; kẻ ấy chắc chắn cũng vô tích sự y hệt người sinh ra hắn. Đôi mắt Idris lóe lên giận dữ trước lời buộc tội này; nàng đáp: “Con không phủ nhận rằng mình yêu Verney; xin hãy chứng minh cho con thấy cậu ấy vô tích sự đi; và con sẽ chẳng bao giờ gặp lại cậu ấy nữa.”
“Thưa Mẫu thân,” Adrian lên tiếng, “xin ngài hãy gặp mặt cậu ấy, hãy vun đắp tình bạn với cậu ấy. Khi ấy, ngài sẽ phải kinh ngạc như con trước tài nghệ uyên bác và sự rực rỡ trong tài năng của cậu ấy.” (Xin lỗi độc giả hiền triết, đây không phải là thứ hư vinh vô bổ;—không vô bổ chút nào, bởi việc biết rằng Adrian đã nghĩ như thế vẫn mang lại niềm vui cho cõi lòng cô độc của tôi đến tận hôm nay).
“Đứa trẻ dại dột và cuồng trí!” người phụ nữ giận dữ thét lên, “ngươi đã chọn dùng những giấc mơ và lý thuyết để đập đổ những toan tính của ta nhằm mưu cầu sự thăng tiến cho chính ngươi; nhưng ngươi đừng hòng làm thế với những kế hoạch ta đã vạch ra cho em gái ngươi. Ta quá hiểu thứ bùa mê mà cả hai đứa đang vướng phải rồi; bởi ta từng phải trải qua cuộc đấu tranh y hệt với cha các ngươi, để ép ông ta rũ bỏ đấng sinh thành của tên thanh niên này—kẻ từng che đậy những bản tính đồi bại bằng lớp vỏ trơn tuột và xảo quyệt của loài rắn lục. Thuở ấy, ta đã nghe biết bao lần về sức hút, những cuộc chinh phục lan rộng, sự hóm hỉnh và phong thái tao nhã của hắn. Thật ổn thỏa khi chỉ có những con ruồi sa vào lưới nhện kiểu đó; nhưng há lại có chuyện những kẻ cao sang quyền quý lại cúi đầu trước thứ ách vô nghĩa và mỏng manh của những lời lẽ rỗng tuếch ấy ư? Nếu em gái ngươi thực sự là kẻ tầm thường xứng đáng với số phận đó, ta sẵn sàng để mặc nó trôi dạt vào cái kết bi thảm, làm vợ của một kẻ mà ngay cả vóc dáng gợi nhắc đến người cha khốn nạn của hắn cũng đủ để vạch trần thói ngu ngốc và đồi bại—nhưng hãy nhớ lấy, Lady Idris, dòng máu hoàng gia Anh thuở nào không chỉ tô điểm cho huyết quản con, con còn là một Công chúa nước Áo, và từng giọt máu trong người con đều có họ hàng với hoàng đế và các vị vua. Vậy con có phải là bạn đời xứng đáng cho một tên chăn cừu thất học, kẻ chẳng có gia tài nào ngoài cái danh tiếng đã vấy búa của cha hắn hay sao?”
“Con chỉ có một lời bào chữa duy nhất,” Idris đáp, “cũng chính là điều anh con từng nói; hãy gặp Lionel, hãy trò chuyện với tên chăn cừu của con”—Nữ Bá tước phẫn nộ ngắt lời nàng—“Của con ư!”—bà thét lên; rồi dằn lại những nét mặt đang hừng hực giận dữ thành một nụ cười khinh miệt, bà tiếp lời—“Chúng ta sẽ bàn chuyện này sau. Tất cả những gì ta đòi hỏi lúc này, tất cả những gì mẹ của con, hỡi Idris, yêu cầu, là con không được gặp tên kiêu ngạo mới phất này trong khoảng thời gian một tháng.”
“Con không dám tuân lệnh,” Idris đáp, “điều đó làm tổn thương anh ấy quá nhiều. Con không có quyền đùa giỡn với cảm xúc của anh ấy, chấp nhận tình yêu của anh ấy rồi lại giáng đòn phũ phàng hắt hủi.”
“Thế là quá lắm rồi đấy,” người mẹ đáp, đôi môi run rẩy và ánh mắt lại bùng lên lửa giận.
“Thưa Mẫu thân,” Adrian xen vào, “nếu em con không đồng ý vĩnh viễn không gặp lại cậu ấy, thì việc chia cắt họ trong một tháng chỉ là một cực hình vô nghĩa mà thôi.”
“Chắc chắn rồi,” cựu vương hậu mỉa mai đáp, “tình yêu của nó, tình yêu của hắn, và những trò bồng bột trẻ con của cả hai, lại được đặt lên bàn cân so sánh với bao năm tháng hy vọng và lo âu của ta, với bổn phận của dòng dõi đế vương, với phong thái cao quý mà một kẻ mang dòng máu như nó phải theo đuổi. Nhưng ta thật kém cỏi khi lại đi đôi co và phàn nàn. Có lẽ các người sẽ rủ lòng thương ban cho ta một lời hứa rằng sẽ không kết hôn trong khoảng thời gian đó chứ?”
Lời đề nghị ấy chỉ mang nửa phần châm biếm; và Idris tự hỏi tại sao mẹ mình lại phải ép cô thốt ra một lời thề long trọng để đời đời không làm cái điều mà cô chưa bao giờ dám mơ tới—nhưng lời hứa vẫn được yêu cầu và được trao đi.
Mọi chuyện giờ đây diễn ra thật suôn sẻ; chúng tôi gặp nhau như thường lệ, trò chuyện không mảy may lo lắng về những dự định tương lai. Nữ Bá tước bỗng trở nên dịu dàng, thậm chí có phần nhã nhặn hơn ngày thường với các con, khiến chúng bắt đầu nhen nhóm hy vọng về sự ưng thuận cuối cùng từ bà. Bà quá khác biệt với chúng, quá xa lạ với gu thẩm mỹ của chúng, nên chúng chẳng thể tìm thấy niềm vui khi ở bên bà hay trong viễn cảnh mối quan hệ ấy kéo dài, nhưng việc thấy bà ôn hòa và tử tế cũng đủ khiến chúng vui mừng. Thậm chí có lần, Adrian còn đánh bạo đề nghị bà cho phép tôi đến diện kiến. Bà từ chối với một nụ cười, nhắc nhở cậu rằng hiện tại em gái cậu đã hứa sẽ kiên nhẫn rồi.
Một ngày nọ, sau khi gần trọn một tháng trôi qua, Adrian nhận được thư từ một người bạn ở London, yêu cầu cậu có mặt ngay lập tức để giải quyết một việc quan trọng. V vốn là kẻ trong sáng vô tư, Adrian chẳng mảy may hoài nghi mưu mô gì. Tôi cưỡi ngựa tiễn cậu đến tận Staines: tâm trạng cậu rất phấn chấn; và vì tôi không thể gặp Idris trong thời gian cậu vắng nhà, cậu hứa sẽ mau chóng trở lại. Sự phấn khích tột độ của cậu lại vô tình khơi dậy trong tôi những cảm xúc trái ngược; một điềm gở cứ đeo bám lấy tôi; tôi nấn ná trên đường về; tôi đếm từng giờ trôi qua trước khi được gặp lại Idris. Tại sao lại thế nhỉ? Chuyện xấu gì có thể xảy ra trong khoảng thời gian này cơ chứ? Liệu mẹ cô ấy có chớp lấy thời điểm Adrian vắng mặt để ép uổng cô ấy đến mức cùng đường, hay thậm chí giăng bẫy cô ấy không? Tôi tự nhủ, dù chuyện gì xảy ra đi nữa, ngày mai tôi nhất định phải gặp và trò chuyện với nàng. Quyết định đó xoa dịu tôi. Ngày mai, người đẹp đẽ và tuyệt vời nhất, hy vọng và niềm vui của cuộc đời tôi, ngày mai anh sẽ được gặp em—Thật ngốc nghếch khi mơ mộng đến chuyện chần chừ dẫu chỉ một khắc!
Tôi đi ngủ. Quá nửa đêm, tôi bỗng giật mình tỉnh giấc bởi tiếng đập cửa dữ dội. Lúc này đang là giữa mùa đông; tuyết đã rơi và vẫn đang rơi; gió hú qua những tán cây trụi lá, thổi tung những bông tuyết trắng xóa đang rà rụng; tiếng rên rỉ thê lương của gió cùng tiếng đập cửa dồn dập hòa quyện kỳ lạ vào những giấc mơ của tôi—cuối cùng tôi hoàn toàn tỉnh giấc; vội vã mặc quần áo, tôi lao ra để tìm nguyên nhân của sự quấy rầy này và mở cửa đón vị khách không mời mà đến. Trắng bệch như lớp tuyết đang lả tả rơi quanh người, hai tay đan chặt vào nhau, Idris đang đứng trước mặt tôi. “Hãy cứu em!” nàng thốt lên, và suối suỵt ngã khuỵu xuống đất nếu tôi không kịp ôm lấy nàng. Tuy nhiên, chỉ một thoáng sau nàng đã tỉnh lại, và với sự cương quyết, gần như điên cuồng, nàng nài nỉ tôi hãy yên ngựa, đưa nàng đi, đi thẳng đến London—đến chỗ anh trai nàng—ít nhất là để cứu lấy nàng. Tôi không có ngựa—nàng vò võ bứt rứt hai bàn tay. “Em phải làm sao đây?” nàng kêu lên, “Em tiêu đời rồi—cả hai chúng ta đều tiêu đời vĩnh viễn rồi! Nhưng mau lên—mau đi với em, Lionel; em không thể ở lại đây được đâu—chúng ta có thể thuê xe ở trạm đổi ngựa gần nhất; may ra vẫn còn kịp! Đi đi, ôi xin hãy đi cùng em để cứu và bảo bọc cho em!”
Khi nghe những lời cầu xin thảm thiết ấy, trong lúc y phục xộc xệch, tóc tai bù xù và ánh mắt hoảng loạn, nàng cứ vò xé hai bàn tay—ý nghĩ lóe lên trong đầu tôi: liệu cô ấy cũng phát điên rồi sao?—“Em yêu,” tôi ôm chầm lấy nàng vào lòng, “nghỉ ngơi vẫn tốt hơn là tiếp tục lang thang;—nào, người anh yêu, hãy nghỉ đi, anh sẽ nhóm lửa—em đang lạnh cóng đây này.”
“Nghỉ ngơi cái gì!” nàng thét lên, “lại còn nghỉ ngơi! Anh điên rồi, Lionel! Chần chừ thêm là chúng ta tiêu đời đấy; đi thôi, em xin anh, trừ khi anh muốn vứt bỏ em mãi mãi.”
Việc Idris, cành vàng lá ngọc được nuông chiều trong nhung lụa, lại có thể vượt qua đêm đông bão bùng từ chốn cung điện hoàng gia, đứng trước mái tranh nghèo của tôi và van nài tôi cùng trốn chạy giữa màn đêm giông bão—chắc chắn chỉ là một giấc mơ—nhưng rồi những âm thanh nức nở cùng gương mặt đẹp đẽ của nàng lại đoan chắc rằng đây không phải ảo ảnh. Hướng mắt nhìn quanh đầy dè dặt, như thể sợ có người nghe lén, nàng thì thầm: “Em đã phát hiện ra—ngày mai—không, tức là hôm nay—ngày mai đã đến rồi đây—trước bình minh, những kẻ ngoại quốc, người Áo, đám tay sai của mẹ em, sẽ bắt cóc em sang Đức, nhốt vào ngục tối, ép gả chồng—làm gì cũng được, miễn là trừ em và anh trai ra—hãy đưa em đi, nếu không bọn chúng sẽ đến đây mất!”
Tôi hoảng sợ trước sự cuồng nhiệt của nàng, và tưởng rằng có sự nhầm lẫn nào đó trong câu chuyện chắp vá của nàng; nhưng tôi không còn chần chừ việc tuân lệnh nàng nữa. Nàng đã một mình rời khỏi lâu đài, đi bộ suốt ba dặm đường dài giữa đêm hôm khuya khoắt trong lớp tuyết dày; chúng tôi phải đến được Englefield Green, cách đó thêm một dặm rưỡi nữa, mới có thể thuê được xe ngựa. Nàng kể rằng cô đã cố gắng duy trì sức lực và lòng can đảm cho đến khi đặt chân đến ngôi nhà nhỏ của tôi, rồi sau đó mọi thứ mới sụp đổ. Giờ đây nàng hầu như không thể bước đi nổi nữa. Dù tôi đang dìu dắt, nàng vẫn lê lết từng bước; và chỉ cách đó nửa dặm, sau bao lần dừng lại, những cơn run lẩy bẩy và những cú ngất lịm nửa vời, nàng trượt khỏi cánh tay đang ôm đỡ của tôi ngã xuống lớp tuyết, vừa khóc ròng vừa quả quyết rằng mình sẽ bị bắt đi vì không thể lê bước thêm được nữa. Tôi bọc nàng lên trong tay; vóc dáng mỏng manh của nàng tựa vào ngực tôi.—Tôi chẳng hề thấy nặng nề, ngoại trừ sức nặng nội tại từ những cảm xúc trái chiều đang giằng xé. Niềm hỷ lạc trào dâng ngập tràn trong tôi. Đứa cơ thể giá lạnh của nàng chạm vào người tôi như một con cá đuối điện; và tôi rùng mình đồng điệu với nỗi đau đớn cùng hoảng sợ của nàng. Đầu nàng tựa lên vai tôi, hơi thở của nàng làm rối tung mái tóc tôi, nhịp đập trái tim nàng áp sát tim tôi, cơn ngất ngây khiến tôi run lẩy bẩy, mù lòa, tan biến—cho đến khi tiếng rên nghẹn ngào bật thốt từ đôi môi nàng, tiếng gõ lập cập của hàm răng mà nàng đang cố nén lại, cùng mọi dấu hiệu thống khổ nàng bày tỏ, kéo tôi bừng tỉnh về sự cấp bách của tốc độ và cứu viện. Cuối cùng tôi nói với nàng: “Kìa Englefield Green; quán trọ ở đằng kia. Nhưng, nếu em bị nhìn thấy trong hoàn cảnh lạ lùng này, hỡi Idris yêu dấu, kẻ thù của em có thể sẽ sớm hay biết cuộc trốn chạy; há chẳng phải tốt hơn nếu anh một mình đi thuê xe sao? Trong lúc đó anh sẽ đưa em đến nơi an toàn rồi lập tức quay lại với nàng.”
Nàng đáp rằng tôi nói đúng và tùy tôi định đoạt. Tôi nhìn thấy cánh cửa của một căn nhà kho nhỏ đang hé mở. Tôi đẩy bật cửa; lấy ít rơm rạ rải quanh để làm ổ cho nàng, đặt thân hình kiệt sức của nàng lên đó rồi trùm áo choàng kín người nàng. Tôi sợ phải rời xa nàng vì trông nàng quá nhợt nhạt và yếu ớt—nhưng chỉ thoáng chốc nàng đã lấy lại sức sống, và cùng với đó là nỗi sợ hãi; nàng lại khẩn khoản van nài tôi đừng chần chừ. Việc gọi người ở quán trọ dậy và thuê xe ngựa cùng phu xe, dù cho chính tay tôi có phải đóng ách đi nữa, cũng ngốn mất vô số phút giây; từng phút giây đều nặng trĩu sức nặng của cả một đời người. Tôi giục chiếc xe tiến lên một đoạn, đợi cho đến khi những người trong quán lui vào trong rồi mới ra hiệu cho tên đánh xe dừng hẳn lại ở chỗ Idris đang đứng chờ với vẻ nôn nóng nhưng sức khỏe đã hồi phục phần nào. Tôi bồng nàng lên xe; trấn an nàng rằng với bốn con ngựa này, chúng ta sẽ đến London trước năm giờ sáng, khoảng thời gian mà người ta sẽ tá hỏa nhận ra nàng mất tích và bắt đầu tìm kiếm. Tôi khẩn khoản xin nàng hãy bình tâm lại; những giọt nước mắt nghẹn ngào tuôn rơi đã giải tỏa bớt cho nàng, và dần dần nàng kể lại câu chuyện đầy sợ hãi và hiểm nguy của mình.
Đêm hôm đó, ngay sau khi Adrian rời đi, người mẹ đã gay gắt trách móc nàng về chuyện vương vấn tình cảm với tôi. Mọi luận điệu, mọi lời đe dọa, mọi câu mỉa mai giận dữ đều được đem ra nhưng chẳng đi đến đâu. Bà dường như đinh ninh rằng vì tôi mà bà đã mất đi Raymond; tôi chính là nguồn cơn tồi tệ trong cuộc đời bà; tôi thậm chí còn bị buộc tội là kẻ tiếp tay thổi bùng và củng cố sự phản bội điên rồ và đê tiện của Adrian đối với mọi viễn cảnh thăng hoa và vĩ đại; và giờ đây, tên sơn cước khốn khổ này lại còn tính cướp luôn cả cô con gái cưng của bà. Idris kể rằng, chưa bao giờ người phụ nữ giận dữ ấy hạ mình dùng đến sự dịu dàng và thuyết phục; nếu bà làm thế, nhiệm vụ kháng cự của nàng sẽ trở nên đau đớn tột cùng. Còn hiện tại, bản tính hào hiệp của cô thiếu nữ ngọt ngào đã bị thôi thúc đứng lên bảo vệ và đứng về phía lý tưởng bị khinh miệt của tôi. Người mẹ kết thúc câu chuyện bằng một ánh mắt khinh miệt lẫn sự đắc thắng ngấm ngầm, điều đó trong khoảnh khắc đã đánh thức sự hoài nghi ở Idris. Khi họ chúc nhau ngủ ngon vào tối hôm đó, Nữ Bá tước bảo: “Ngày mai ta tin là thái độ của con sẽ thay đổi: hãy bình tĩnh lại; ta đã làm con xáo trộn rồi; đi ngủ đi; ta sẽ sai người mang đến cho con một loại thuốc ta vẫn hay dùng mỗi khi trằn trọc không ngủ được—nó sẽ cho con một đêm yên giấc.”
Vừa lúc nàng đặt chiếc má hồng lên gối với đầy rẫy những suy nghĩ bất an, người hầu của mẹ đã mang đến một bát thuốc; mối hoài nghi lại trỗi dậy trước hành động lạ lùng này, đủ sức cảnh báo để ngăn nàng uống thứ nước đó; nhưng vì chán ghét sự đôi co và muốn tìm xem liệu những phỏng đoán của mình có căn cứ hay không, nàng nói rằng bản thân đã hành động gần như theo bản năng, trái ngược hoàn toàn với tính thẳng thắn thường ngày, vờ như đã uống cạn bát thuốc. Sau đó, dẫu tâm trí đang rối bời vì cơn thịnh nộ của mẹ, rồi lại thêm những nỗi sợ hãi bất thường, nàng trằn trọc không sao chợp mắt, giật mình thon thót trước mọi âm thanh. Chẳng mấy chốc cánh cửa phòng khẽ kẹt mở, và khi nàng chồm dậy, cô nghe thấy tiếng thì thầm: “Vẫn chưa ngủ à,” rồi cánh cửa lại khép lại. Với trái tim đập thình thịch, nàng chờ đợi một chuyến viếng thăm nữa, và khi căn phòng lại bị xâm nhập sau một khoảng thời gian, sau khi chắc chắn rằng những kẻ đột nhập là mẹ mình và một người hầu, nàng lại giả vờ chìm vào giấc ngủ. Tiếng bước chân tiến đến bên giường, nàng không dám nhúc nhích, cố gắng kìm nén nhịp đập đang dồn dập, và nó càng trở nên dữ dội hơn khi nghe tiếng người mẹ lầm bầm: “Con nhỏ ngốc nghếch, mày chẳng đời nào ngờ được ván bài của mày đã kết thúc vĩnh viễn rồi đấy.”
Trong chốc lát, cô thiếu nữ tội nghiệp cứ ngỡ rằng mẹ nghĩ mình đã uống thuốc độc: nàng suýt chồm dậy; nhưng Nữ Bá tước, lúc này đã đứng cách xa giường, cất giọng trầm thấp nói với kẻ tùy tùng, và Idris lại lắng tai nghe: “Mau lên,” bà bảo, “chẳng còn thời gian đâu—đã quá mười một giờ rồi; bọn chúng sẽ đến lúc năm giờ; chỉ lấy những y phục cần thiết cho chuyến đi và chiếc tráp đựng trang sức của nó thôi.” Người hầu tuân lệnh; cả hai nói năng nhỏ tiếng, nhưng từng từ ngữ đều được nạn nhân tương lai chộp lấy với sự thèm khát. Nàng nghe thấy tên người hầu phòng của mình được nhắc đến;—“Không, không,” mẹ nàng đáp, “nó không đi cùng chúng ta đâu; Lady Idris phải quên đi nước Anh và mọi thứ thuộc về nơi này.” Và nàng lại nghe thấy: “Nó sẽ không tỉnh dậy cho đến tận muộn ngày mai, và lúc đó chúng ta đã ở ngoài khơi rồi.”——“Mọi thứ đã sẵn sàng,” cuối cùng người đàn bà báo cáo. Nữ Bá tước lại tiến đến bên giường con gái: “Ít nhất là ở Áo,” bà nói, “con sẽ phải tuân lệnh. Ở Áo, nơi sự phục tùng có thể được áp đặt bằng vũ lực, và chẳng chừa cho con sự lựa chọn nào ngoài việc giữa một ngục thất danh giá và một cuộc hôn nhân xứng tầm.”
Cả hai sau đó lui ra; dẫu vậy, khi bước đi, Nữ Bá tước vẫn dặn với lại: “Nhẹ tay thôi; ai nấy đều ngủ rồi, dẫu chẳng phải ai cũng được chuẩn bị sẵn sàng để chìm vào giấc ngủ như nó. Ta không muốn bất kỳ ai hoài nghi, kẻo nó lại nổi giận kháng cự và biết đâu trốn mất. Hãy theo ta về phòng; chúng ta sẽ ở đó cho đến giờ hẹn.” Họ rời đi. Idris, dù hoảng loạn tột độ nhưng lại được tiếp thêm sức mạnh và sự kiên cường chính nhờ nỗi sợ hãi quá mức, vội vã mặc quần áo, lao xuống dãy cầu thang phía sau, né tránh khu vực phòng của mẹ để tìm cách trốn khỏi lâu đài qua một khung cửa sổ thấp, rồi vượt qua tuyết trắng, gió lốc và đêm tối mù mịt để đến ngôi nhà nhỏ của tôi; nàng chỉ đánh rơi lòng dũng cảm khi đã đặt chân đến nơi, và khi giao phó số phận vào tay tôi, nàng buông xuôi cho cơn tuyệt vọng và mệt mỏi đang nhấn chìm mình.
Tôi an ủi nàng hết sức có thể. Niềm vui sướng và hân hoan thuộc về tôi, khi được sở hữu và cứu rỗi nàng. Thế nhưng để tránh kích động thêm những xáo trộn trong lòng nàng, “per non turbar quel bel viso sereno,” tôi nén lại niềm hân hoan. Tôi cố khuấy động nhịp đập cuồng nhiệt trong tim; tôi quay mặt đi, kìm nén ánh mắt quá đỗi dịu dàng, và ngạo nghễ cất lời ca tụng niềm hỷ lạc với màn đêm u ám và thời tiết khắc nghiệt. Chúng tôi đến London, ngỡ như quá đỗi vội vã; thế nhưng tôi chẳng tài nào tiếc nuối cho chuyến đi tốc hành ấy, khi chứng kiến sự ngất ngây tột độ của người thiếu nữ tôi yêu khi thấy mình nằm gọn trong vòng tay người anh trai, an toàn trước mọi hiểm nguy, dưới sự bảo bọc hoàn toàn đường hoàng của cậu ấy.
Adrian viết một bức thư ngắn gửi mẹ, thông báo rằng Idris đang nằm dưới sự chăm sóc và bảo bọc của cậu. Vài ngày trôi qua, và cuối cùng hồi âm cũng đến, được gửi từ Cologne. “Thật vô ích,” vị phu nhân kiêu ngạo và thất vọng viết, “nếu Bá tước Windsor và em gái còn dám liên lạc với người đấng sinh thành bị tổn thương, kẻ mà niềm hy vọng duy nhất về sự bình yên chỉ có thể tìm thấy trong việc quên đi sự tồn tại của chúng. Những khát vọng của bà đã tiêu tan, những toan tính đã đổ vỡ. Bà không phàn nàn gì; ở triều đình của anh trai mình, bà sẽ tìm thấy, không phải sự bù đắp cho hành vi bất tuân (bởi sự bất hiếu của con cái chẳng gì bù đắp nổi), mà là một trạng thái và lối sống có thể giúp bà nguôi ngoai nhất với số phận của mình. Dưới hoàn cảnh ấy, bà dứt khoát từ chối mọi sự giao du với chúng.”
Đó chính là những sự kiện kỳ lạ và khó tin đã đưa đẩy tôi đến kết cục được chung đôi với em gái của người bạn chí cốt, với nàng Idris được tôi tôn thờ. Bằng sự giản dị và can đảm, nàng đã gạt sang một bên những thành kiến và sự chống đối vốn là chướng ngại cho hạnh phúc của tôi, chẳng chút ngần ngại trao gởi bàn tay nơi nàng đã trao trọn trái tim. Trở nên xứng đáng với nàng, tự vươn lên tầm cao của nàng thông qua sự nỗ lực của tài năng và đức hạnh, đền đáp tình yêu của nàng bằng sự tận tụy và dịu dàng không mỏi mệt—đó là tất cả những lời cảm tạ duy nhất tôi có thể dâng lên cho món quà vô giá này.