Người Cuối Cùng

Lượt đọc: 36 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

❊ ❊ ❊

Tôi sống xa chốn đông đúc của loài người, và những lời đồn đại về chiến tranh hay biến động chính trị khi đến miền sơn cước của chúng tôi chỉ còn là những âm thanh mơ hồ, nhạt nhòa. Nước Anh từng trải qua những cuộc đấu tranh trọng đại trong những năm tháng đầu đời của tôi. Vào năm 2073, vị vua cuối cùng của đất nước, cũng là người bạn vong niên của cha tôi, đã thoái vị trước sức ép ôn hòa từ những lời can gián của thần dân, và một nền cộng hòa được thiết lập. Những điền trang rộng lớn được đảm bảo cho vị quân vương phế truất cùng gia quyến; ông nhận tước hiệu Bá tước xứ Windsor, còn Lâu đài Windsor, một chốn hoàng gia cổ xưa cùng các lãnh địa bao la của nó là một phần tài sản được phân định cho ông. Không lâu sau, ông qua đời, để lại hai người con, một trai một gái.

Cựu vương hậu, một công chúa thuộc dòng dõi hoàng gia Áo, từng thúc giục chồng mình chống lại sức ép của thời cuộc trong suốt một thời gian dài. Bà ngạo nghễ và không hề sợ hãi; bà mang trong mình khát khao quyền lực cùng sự khinh miệt cay đắng dành cho người đàn ông đã tự tước bỏ vương miện của chính mình. Chỉ vì tương lai của các con, bà mới đành nhượng bộ ở lại, dẫu đã mất đi ngai vàng, để trở thành một thành viên của nước cộng hòa Anh quốc. Khi trở thành góa phụ, bà dồn toàn tâm toàn ý vào việc giáo dục người con trai tên là Adrian, tức Bá tước xứ Windsor đời thứ hai, nhằm đạt được những mục đích đầy tham vọng của mình; và ngay từ sữa mẹ, cậu đã thấm nhuần, được định hướng lớn lên với quyết tâm kiên định là giành lại chiếc vương miện đã mất. Adrian lúc này đã tròn mười lăm tuổi. Cậu say mê học tập, sở hữu học thức và tài năng vượt trước tuổi: nhiều lời đồn cho hay cậu đã bắt đầu chống lại những mưu đồ của mẹ mình và nuôi dưỡng tư tưởng cộng hòa. Dù sự thật có ra sao đi nữa, vị Nữ bá tước kiêu hãnh tuyệt không hé lộ những bí mật về phương pháp giáo dục gia đình của mình với bất kỳ ai. Adrian lớn lên trong sự cô độc, bị tách biệt khỏi những người bạn đồng trang lứa và cùng đẳng cấp. Bỗng nhiên, một hoàn cảnh nào đó không rõ nguyên nhân đã thúc đẩy người mẹ đưa cậu rời khỏi sự kèm cặp trực tiếp của mình; và chúng tôi nghe tin cậu sắp đến thăm hạt Cumberland. Vô số câu chuyện được thêu dệt nhằm giải thích cho hành động của Nữ bá tước xứ Windsor; có lẽ chẳng câu chuyện nào là sự thật; nhưng ngày qua ngày, điều đó càng trở nên chắc chắn hơn rằng chúng ta sắp sửa đón nhận dòng dõi quý tộc của nhà cựu vương triều Anh đặt chân đến đây.

Gia đình này có một điền trang rộng lớn kèm theo một dinh cơ tọa lạc tại Ulswater. Một công viên thênh thang là một phần phụ của dinh cơ ấy, được kiến thiết với gu thẩm mỹ tinh tế và dồi dào các loài thú săn. Tôi từng nhiều lần đột nhập vào những khu bảo tồn này; và tình trạng hoang phế của tài sản càng tạo điều kiện cho các cuộc xâm nhập của tôi. Khi có quyết định rằng vị Bá tước trẻ tuổi xứ Windsor sẽ đến thăm Cumberland, những tốp thợ đã tới để sửa sang nhà cửa và khuôn viên nhằm chuẩn bị đón tiếp cậu. Các căn phòng được phục hồi lại vẻ lộng lẫy ban đầu, và công viên sau khi được tu sửa mọi hư hại đã được canh gác với sự cẩn mật chưa từng thấy.

Tôi vô cùng bất an trước tin tức này. Nó đánh thức mọi ký ức tưởng chừng đã ngủ quên trong tôi, những cảm giác uất hận bị kìm nén, đồng thời nhen nhóm lên một tâm cảm mới: lòng trả thù. Tôi chẳng thể bận tâm đến công việc của mình nữa; mọi kế hoạch và mưu tính đều trôi vào quên lãng; tôi có cảm giác như mình sắp bắt đầu lại cuộc đời, và điều đó chẳng lấy gì làm tốt đẹp. Cuộc chiến khốc liệt, tôi nghĩ, nay chuẩn bị bùng nổ. Cậu ta sẽ hiên ngang tiến bước đến vùng đất mà cha tôi từng phải chạy trốn trong cảnh tan nát cõi lòng; cậu ta sẽ bắt gặp những đứa con bất hạnh, những kẻ được phó thác với niềm tin hão huyền cho người cha hoàng gia của cậu, giờ đây đã trở thành những kẻ bần cùng thảm hại. Việc cậu ta biết đến sự tồn tại của chúng tôi, rồi ngay trước mắt sẽ đối xử với chúng tôi bằng sự khinh miệt y hệt như cách cha cậu từng làm khi ở nơi xa cách, đối với tôi là hệ quả tất yếu của mọi chuyện đã qua. Thế là tôi sẽ chạm trán với tên công tử bột mang tước hiệu này — đứa con trai của người bạn tri kỷ đời cha tôi. Cậu ta sẽ được vây quanh bởi kẻ hầu người hạ; giới quý tộc và con cháu các bậc vương tôn công tử sẽ là bầu bạn của cậu; cả nước Anh vang dội tên tuổi của cậu; và sự xuất hiện của cậu, tựa một trận cuồng phong, được nghe thấy từ tận phương xa: trong khi tôi, kẻ thất học và cục mịch, nếu có dịp giáp mặt cậu, qua con mắt của những kẻ bợ đỡ chốn triều đình ấy, sẽ mang chính thân xác này để làm bằng chứng cho sự hợp lý của thứ ân nghĩa bội bạc đã biến tôi thành một sinh thể đê tiện như hiện tại.

Với tâm trí bị chi phối hoàn toàn bởi những ý nghĩ ấy, tôi như kẻ bị thôi miên, cứ vảng vất quanh chốn ở tương lai của vị Bá tước trẻ tuổi. Tôi theo dõi tiến độ của công cuộc cải tạo, đứng bên những chiếc xe ngựa đang dỡ hàng, khi đủ loại vật phẩm xa xỉ từ London được mang ra và chuyển vào dinh cơ. Đó là một phần trong kế hoạch của cựu vương hậu, nhằm bao bọc con trai mình giữa sự nguy nga bậc nhất của chốn vương giả. Tôi tận mắt thấy những tấm thảm quý giá cùng màn cửa bằng lụa, những món đồ trang trí bằng vàng, kim loại chạm trổ tinh xảo, nội thất khảm huy hiệu, và tất cả những vật dụng của bậc quyền quý được bày biện sao cho không gì khác ngoài vẻ lộng lẫy hoàng gia có thể lọt vào mắt của một kẻ mang dòng máu đế vương. Tôi ngắm nhìn những thứ ấy; rồi cúi xuống nhìn bộ trang phục tồi tàn của chính mình.—Sự khác biệt này bắt nguồn từ đâu? Từ đâu ngoài sự bội bạc, sự dối trá, từ sự chối bỏ của người cha vị vương tử đối với mọi sự đồng cảm cao thượng và tình cảm hào hiệp. Chắc chắn rằng, chính kẻ mang dòng máu pha lẫn từ người mẹ kiêu kỳ ấy — hắn, tâm điểm được thừa nhận của sự giàu có và quý tộc trong vương quốc, cũng từng được dạy dỗ để thốt lên tên cha tôi với vẻ khinh miệt, và chế giễu những quyền đòi hỏi sự bảo vệ chính đáng của tôi. Tôi gượng nghĩ rằng tất cả sự tráng lệ này chẳng qua chỉ là một sự nhục nhã ê chòm hơn mà thôi, và rằng bằng cách giương cao lá cờ dệt vàng của hắn bên cạnh lá cờ phai màu rách rưới của tôi, hắn không hề tuyên bố sự vượt trội, mà chính là sự đồi trụy của bản thân. Thế nhưng tôi vẫn ganh tị với hắn. Đàn ngựa chiến đẹp đẽ của hắn, những thứ vũ khí được chế tác tốn kém, những lời ngợi ca dành cho hắn, sự tôn sùng, kẻ hầu người hạ sẵn sàng vâng lệnh, địa vị cao sang và sự kính trọng lớn lao,—tôi coi tất cả những thứ ấy là bị cướp đoạt một cách bạo ngược khỏi tay mình, và đem lòng ganh tị với một sự cay đắng mới mẻ đầy hành hạ.

Làm tột cùng thêm nỗi bực bội trong tâm hồn tôi, Perdita, nàng Perdita mơ mộng, dường như bừng tỉnh vào hiện thực với niềm hân hoan khôn tả khi báo cho tôi hay rằng Bá tước xứ Windsor sắp sửa đặt chân đến nơi này.

“Và điều này làm em vui mừng ư?” Tôi ủ rũ hỏi.

“Thật sự là vậy đấy, Lionel,” nàng đáp; “Em rất đỗi mong chờ được gặp mặt cậu ấy; cậu ấy là hậu duệ của các vị vua nước ta, là nhà quý tộc hàng đầu của xứ sở này: ai nấy đều ngưỡng mộ và yêu mến cậu ấy, và người ta bảo rằng tước hiệu chỉ là điểm nhỏ nhoi nhất trong số các đức tính của cậu ấy; cậu ấy rộng lượng, dũng cảm và niềm nở.”

“Em đã học được một bài học thật hay, Perdita,” tôi nói, “và lặp lại nó rập khuôn đến mức quên mất những bằng chứng rành rành mà chúng ta có về các đức tính của vị Bá tước; lòng rộng lượng của cậu ta đối với chúng ta được thể hiện rõ qua sự sung túc của chúng ta, sự dũng cảm qua sự bảo bọc mà cậu ta ban phát, sự niềm nở qua việc cậu ta chú ý đến chúng ta. Tước hiệu là điểm nhỏ nhoi nhất của cậu ấy, em nói vậy sao? Cha chả, mọi đức tính của cậu ta suy cho cùng đều xuất phát từ địa vị mà thôi; vì giàu có nên cậu ta được gọi là rộng lượng; vì có quyền lực nên mới dũng cảm; vì có kẻ hầu người hạ chu đáo nên mới niềm nở. Cứ để họ gọi cậu ta như thế, cứ để toàn thể nước Anh tin cậu ta là người như vậy đi — còn chúng ta thì tường tận về cậu ta — cậu ta chính là kẻ thù của chúng ta — kẻ thù keo kiệt, hèn nhát và ngạo ngược; nếu cậu ta được phú cho dẫu chỉ một phần nhỏ những đức tính mà em gọi tên ấy, cậu ta đã đối xử công bằng với chúng ta, dẫu chỉ để chứng tỏ rằng nếu cậu ta phải ra tay, thì đối tượng không nên là một kẻ thù đã gục ngã. Cha cậu ta từng xúc phạm cha tôi — cha cậu ta, kẻ đứng vững chãi bất khả xâm phạm trên ngai vàng, từng dám khinh miệt người vốn chỉ tự hạ thấp bản thân khi hạ mình giao du với kẻ vong ân bội nghĩa mang dòng máu hoàng tộc. Chúng ta, những hậu duệ của hai người ấy, cũng tất yếu phải là kẻ thù của nhau. Cậu ta sẽ phải nhận ra rằng tôi có thể cảm nhận nỗi đau do những tổn thương mà mình gánh chịu; cậu ta sẽ phải học cách khiếp sợ sự báo thù của tôi!”

Vài ngày sau, cậu ta đến. Từng cư dân ở túp lều khốn khổ nhất cũng đổ xô ra đường để hòa vào dòng người tuôn chảy đi chào đón cậu: ngay cả Perdita, bất chấp bài diễn văn hùng hồn vừa rồi của tôi, cũng lẩn ra sát vệ đường để được tận mắt chiêm ngưỡng thần tượng của muôn người. Bản thân tôi, phát điên lên một nửa khi chạm trán từng nhóm dân làng trong những bộ trang phục diện nhất đang xuôi đồi xuống, liền trốn lên những đỉnh núi mây phủ sương mờ, và nhìn vào những mỏm đá cằn cỗi xung quanh mà thét lên: “Họ đâu có tung hô vạn tuế vị Bá tước!” Và khi màn đêm buông xuống, kèm theo những hạt mưa phùn lạnh giá, tôi quyết định không quay về nhà; bởi tôi biết rằng từng căn túp lều đang râm ran những lời ca tụng Adrian; và khi cảm nhận chân tay mình dần tê cứng và lạnh giá, nỗi đau đớn ấy lại trở thành thứ nhiên liệu nuôi dưỡng sự căm ghét điên cuồng trong tôi; thậm chí, tôi gần như cảm thấy đắc thắng vì điều đó, bởi nó dường như ban cho tôi lý do cũng như cái cớ để căm thù kẻ đối địch đang phớt lờ sự tồn tại của mình. Mọi tội lỗi đều được quy trọn lên đầu cậu ta, bởi tôi đã đánh đồng hoàn toàn hình ảnh của người cha và người con, đến mức quên mất rằng người con có lẽ hoàn toàn không hay biết gì về sự thờ ơ mà đấng sinh thành dành cho chúng ta; và khi dùng tay đập mạnh lên cái đầu đang nhức buốt, tôi gào lên: “Cậu ta sẽ phải nghe về chuyện này! Ta sẽ trả thù! Ta sẽ không chịu đựng như một con chó săn ghẻ lạnh! Dù có nghèo hèn và cô độc thế nào đi nữa, ta cũng sẽ cho cậu ta biết rằng ta không hề cúi đầu khuất phục trước tổn nhục một cách dễ dãi đâu!” Từng ngày, từng giờ trôi qua càng làm chồng chất thêm những nỗi oan khiên phóng đại ấy. Những lời ca tụng dành cho cậu ta tựa hàng vạn mũi kim độc đâm phập vào lồng ngực dễ tổn thương của tôi. Nếu thoáng thấy cậu ta từ đằng xa, đang cỡi trên lưng một con ngựa tuấn mã, máu trong người tôi lại sôi sùng sục vì thị nộ; bầu không khí như thể bị đầu độc bởi sự hiện diện của cậu ta, và ngay cả tiếng Anh bản xứ của tôi cũng biến thành một thứ ngôn ngữ tạp nham thô tục, bởi bất kỳ cụm từ nào tôi nghe thấy cũng đều gắn liền với tên tuổi và sự vinh quang của cậu ta. Tôi khao khát khôn nguôi được giải tỏa cơn bứt rứt đau đớn trong lồng ngực này bằng một hành động ngông cuồng nào đó đủ sức khiến cậu ta phải bừng tỉnh nhận ra sự ác cảm của tôi. Tội lỗi lớn nhất của cậu ta chính là việc đã khơi gợi lên trong tôi những cảm giác không thể dung tha ấy, thế mà bản thân cậu ta lại chẳng thèm đưa ra bất kỳ biểu hiện nào cho thấy cậu ta biết rằng tôi vẫn đang tồn tại để mà cảm nhận chúng.

Chẳng mấy chốc, người ta râm ran tin rằng Adrian vô cùng yêu thích công viên và những khu bảo tồn của mình. Cậu chẳng bao giờ đi săn, mà thay vào đó dành hàng giờ liền để ngắm nhìn các loài động vật đáng yêu, gần như đã thuần hóa được nuôi dưỡng nơi đây, đồng thời ra lệnh phải chăm sóc chúng chu đáo hơn bao giờ hết. Đây chính là một cơ hội mở ra cho các kế hoạch phá hoại của tôi, và tôi đã tận dụng nó với toàn bộ sự bốc đồng hoang dã vốn thừa hưởng từ lối sống năng động của mình. Tôi đề xuất cuộc phiêu lưu săn trộm trong lãnh địa của cậu ta với vài chiến hữu còn sót lại, những kẻ gan lì và vô pháp vô thiên nhất trong đám; nhưng tất cả bọn họ đều chùn bước trước hiểm nguy; thế là tôi bị bỏ lại một mình để tự thực hiện hành động trả thù. Ban đầu, những chiến tích của tôi diễn ra suôn sẻ không bị phát hiện; lòng táo bạo của tôi ngày một tăng cao; những dấu chân trên thảm cỏ đẫm sương, những nhành cây gãy, cùng các dấu tích tàn sát cuối cùng đã tố cáo tôi với đám canh rừng. Bọn họ tăng cường canh gác; tôi bị tóm gọn và tống giام vào ngục tối. Tôi bước qua những bức tường u ám ấy trong một cơn hân hoan đắc thắng: “Giờ thì cậu ta đã cảm nhận được sự hiện diện của ta,” tôi thét lên, “và sẽ còn cảm nhận nữa, hết lần này đến lần khác!”—Tôi chỉ trải qua vỏn vẹn một ngày trong cảnh giam cầm; đến chiều tối, tôi được trả tự do, theo lời họ kể lại, là do chính lệnh của vị Bá tước. Tin tức này kéo phắt tôi rơi khỏi cái đỉnh cao danh dự mà tôi tự dựng lên cho chính mình. Cậu ta khinh miệt ta, tôi nghĩ bụng; nhưng cậu ta sẽ phải học cách nhận ra rằng ta cũng khinh miệt cậu ta, và coi thường như nhau cả những hình phạt lẫn lòng khoan dung của cậu ta. Vào đêm thứ hai sau khi được phóng thích, tôi lại bị đám canh rừng bắt giữ — lại bị giam ngục, rồi lại được thả ra; và thêm một lần nữa, với sự bướng bỉnh cùng cực ấy, vào đêm thứ tư, người ta lại bắt gặp tôi đang lai vãng trong khu công viên cấm địa. Đám canh rừng còn tức lồng lộn hơn cả chủ nhân của chúng trước sự ngoan cố của tôi. Họ đã nhận được chỉ thị rằng nếu tôi bị bắt lại lần nữa, tôi phải được giải đến trước mặt vị Bá tước; và sự nhân từ của cậu ta khiến họ trông đợi một kết cục mà họ cho là không hề xứng đáng với tội danh của tôi. Một tên trong số họ, kẻ giữ vai trò cầm đầu từ lần đầu tiên tóm được tôi, quyết định sẽ tự mình thỏa mãn cơn hận thù trước khi giao nộp tôi cho các thế lực cao hơn.

Việc mặt trăng lặn quá muộn, cùng sự cẩn trọng tột độ mà tôi buộc phải tuân thủ trong cuộc thám hiểm lần thứ ba này, đã ngốn quá nhiều thời gian, khiến một cảm giác tựa như nỗi sợ hãi bất chợt tràn ngập lấy tôi khi tôi nhận ra màn đêm đen kịt đang nhường chỗ cho ánh chạng vạng. Tôi luồn lách qua những khóm dương xỉ bằng cả bàn tay lẫn đầu gối, tìm kiếm những bụi rậm tối tăm che khuất, trong khi các loài chim cất tiếng hót chào ngày mới đầy chướng tai phía trên, và cơn gió ban mai tươi mát đùa nghịch giữa những tán cây khiến tôi tưởng như có tiếng bước chân ở mỗi khúc cua. Tim tôi đập loạn nhịp khi tiến sát đến hàng rào cọc; tay tôi đã đặt lên một thanh cọc, chỉ một cú nhảy là tôi có thể sang được phía bên kia, thì bấy giờ có hai tên canh rừng từ chỗ ẩn nấp lao bổ vào tôi: một tên đánh ngã tôi xuống đất, rồi tiếp tục quất roi da không thương tiếc. Tôi vùng đứng dậy — một con dao nằm gọn trong tay; tôi lao tới đâm thốc vào cánh tay phải đang giơ cao của hắn, khoét một vết thương sâu và rộng trên bàn tay hắn. Cơn thị nộ cùng những tiếng thét gào của kẻ bị thương, những lời nguyền rủa tru tréo của đồng bọn hắn mà tôi đáp trả bằng sự cay độc và điên cuồng tương đương, vang dội khắp thung lũng; ánh bình minh ngày một rạng rỡ hơn, hoàn toàn lạc lõng trong vẻ đẹp thiên thai của nó so với cuộc chiến thô thiển và ồn ào của chúng tôi. Tôi và kẻ thù vẫn đang quần thảo, thì tên bị thương bỗng thét lên: “Vị Bá tước!” Tôi vùng thoát khỏi cái ôm lực điền của tên canh rừng, thở dốc sau những hồi gắng sức; tôi trừng mắt nhìn những kẻ bức hại mình đầy căm phẫn, rồi xoay lưng tựa vào một thân cây, quyết tâm chiến đấu đến cùng. Y phục của tôi rách bươm, và chúng, cũng như đôi bàn tay tôi, đều vấy máu của kẻ mà tôi vừa đâm bị thương; một tay nắm chặt những con chiến kê đã chết — chiến lợi phẩm nhọc nhằn kiếm được, tay kia lăm lăm con dao; tóc tai rối bời; khuôn mặt lem luốc những vết tích tội lỗi cũng chính là thứ đang tố cáo tôi trên lưỡi dao nhỏ máu mà tôi nắm chặt; toàn bộ ngoại hình của tôi trông vô cùng tơi tả và nhếch nhác. Cao lớn và vạm vỡ như vóc dáng của tôi lúc bấy giờ, chắc hẳn trông tôi chẳng khác nào, và quả thực tôi đúng là như thế, tên côn đồ khốn kiếp nhất từng bước chân lên mặt đất này.

Cái tên vị Bá tước khiến tôi giật mình thon thót, và khiến toàn bộ dòng máu phẫn nộ đang sưởi ấm lồng ngực tôi dồn cả lên gò má; tôi chưa từng gặp mặt cậu ta bao giờ; trong tưởng tượng, tôi vẽ ra hình ảnh một tên thiếu niên ngạo mạn, trịch thượng, kẻ sẽ lên lớp tôi, nếu cậu ta hạ cố mở lời, bằng tất cả sự kiêu căng của kẻ bề trên. Lời đáp trả của tôi đã sẵn sàng; một lời quở trách mà tôi đinh ninh sẽ đủ sức đâm thủng tận đáy tim cậu ta. Đúng lúc ấy cậu ta tiến lại gần; và sự xuất hiện của cậu ta thổi bay đi, bằng làn gió nhẹ phương tây, cơn giận dữ đang vần vũ trong tôi: một thiếu niên cao ráo, mảnh khảnh, nước da trắng trẻo, với khuôn mặt biểu lộ sự nhạy cảm và tinh tế tột độ đang đứng trước mặt tôi; những tia nắng ban mai nhuộm vàng mái tóc lụa là của cậu, đồng thời rải ánh sáng và vẻ hào quang lên gương mặt rạng rỡ. “Thử hỏi đây là thế nào?” cậu cất tiếng hỏi. Bọn họ hăng hái bắt đầu phân bua; cậu phất tay ra hiệu cho họ lùi lại, rồi cất lời: “Hai người mà hội đồng một thiếu niên thế này — thật hổ thẹn làm sao!” Cậu tiến thẳng về phía tôi: “Verney,” cậu gọi, “Lionel Verney, có phải chúng ta gặp nhau trong hoàn cảnh thế này lần đầu tiên không? Định mệnh đã sinh ra chúng ta để làm bằng hữu của nhau; và dẫu cho cơ đồ bất hạnh có chia rẽ chúng ta, chẳng lẽ anh không chịu thừa nhận mối lương duyên bằng hữu truyền kiếp mà tôi tin rằng sẽ gắn kết chúng ta từ nay về sau hay sao?”

Khi cậu nói, ánh mắt kiên định dán chặt vào tôi như muốn đọc thấu tận tâm can tôi: trái tim tôi, trái tim đầy thù hận hoang dã ấy, cảm nhận được luồng ánh sáng ôn hòa ngọt ngào ngấm sâu vào lồng ngực; trong khi chất giọng truyền cảm của cậu, tựa khúc âm thanh ngọt ngào nhất, đánh thức một tiếng vang câm lặng trong tôi, khuấy động tận cội nguồn dòng máu đang chảy trong huyết quản. Tôi ao ước được đáp lời, được thừa nhận lòng tốt của cậu, được chấp nhận tình bạn mà cậu chủ động chìa ra; nhưng những từ ngữ, những lời lẽ cho phải phép, lại chẳng sẵn có trong tâm trí của một kẻ sơn cước thô lỗ; tôi đã muốn giơ tay ra nắm lấy, nhưng vết bẩn tội lỗi trên đôi tay ấy lại níu giữ tôi lại. Adrian động lòng trước vẻ ngập ngừng của tôi: “Hãy đi cùng tôi,” cậu nói, “Tôi có rất nhiều điều muốn nói với anh; hãy về nhà với tôi — anh biết tôi là ai chứ?”

“Có,” tôi thốt lên, “Tôi tin rằng giờ đây tôi đã biết ngài là ai, và rằng ngài sẽ tha thứ cho những lầm lỗi — tội ác của tôi.”

Adrian mỉm cười dịu dàng; và sau khi đưa ra những chỉ thị cho đám canh rừng, cậu bước đến bên tôi; khoác tay tôi, chúng tôi cùng nhau sánh bước về phía dinh cơ.

Đó không phải là vì tước vị của cậu — sau tất cả những gì tôi đã bộc bạch, chắc chắn sẽ chẳng ai nghi ngờ rằng chính tước vị của Adrian từ phút ban đầu đã khuất phục tận tâm can tôi, khiến toàn bộ tinh thần tôi phải tâm phục khẩu phục phủ phục dưới chân cậu. Và cũng chẳng phải riêng một mình tôi cảm nhận rõ rệt đến thế những sự hoàn mỹ ở cậu. Sự nhạy cảm và cung cách lịch thiệp của cậu làm say mê bất cứ ai. Sự hoạt bát, trí tuệ cùng tinh thần nhân ái năng nổ đã hoàn tất chiến thắng tuyệt đối ấy. Dù ở độ tuổi còn non trẻ như vậy, cậu đã uyên bác đọc sách vở và thấm nhuần tinh thần của triết học bậc cao. Tinh thần ấy thổi một âm hưởng thuyết phục không thể chối cãi vào cách giao tiếp của cậu với mọi người, khiến cậu trông giống như một nhạc công đầy cảm hứng, người đã gảy những phím đàn với độ chính xác tuyệt đối trên “bức liếp của tâm trí”, từ đó tấu lên những âm hưởng hòa tấu thần thánh. Về ngoại hình, cậu hầu như chẳng có vẻ gì thuộc về thế giới trần tục này; vóc dáng mảnh mai của cậu dường như bừng sáng bởi tâm hồn ngự trị bên trong; cậu chính là hiện thân của trí tuệ; “Loài người dẫu chỉ là một ngọn cỏ sậy áp vào” lồng ngực cậu, cũng đủ bị đánh gục sức mạnh; thế nhưng uy lực từ nụ cười của cậu lại có thể thuần hóa một con sư tử đói, hay khiến cả một binh đoàn mang giáp phải buông vũ khí phủ phục dưới chân cậu.

Tôi đã trải qua cả ngày bên cậu. Ban đầu cậu không hề đả động đến quá khứ, hay bất kỳ sự kiện cá nhân nào. Có lẽ cậu muốn truyền cho tôi sự tự tin, và cho tôi thời gian để thu gom lại những suy nghĩ đang tản mát của mình. Cậu trò chuyện về những chủ đề chung, và mang lại cho tôi những ý niệm mà trước đó tôi chưa từng tưởng tượng nổi. Chúng tôi ngồi trong thư phòng của cậu, và cậu nói về các bậc hiền triết Hy Lạp cổ đại, về sức mạnh mà họ từng đạt được đối với tâm trí con người chỉ bằng sức mạnh của tình yêu và sự thông thái. Căn phòng được trang trí bằng tượng bán thân của rất nhiều người trong số họ, và cậu miêu tả tính cách của từng vị cho tôi nghe. Khi cậu cất lời, tôi cảm thấy mình bị quy phục; và tất cả niềm kiêu hãnh cùng sức mạnh từng khiến tôi hênh hoang đều bị khuất phục bởi những lời lẽ ngọt ngào tựa mật của thiếu niên mắt xanh này. Khu lãnh địa văn minh được cắt tỉa ngăn nắp và giăng rào, nơi trước đây tôi từng ngắm nhìn từ khu rừng rậm hoang dã của mình với cảm giác không thể với tới, nay đã được cậu mở tung chiếc cửa nhỏ; tôi bước chân vào, và cảm nhận ngay khi đặt chân qua ngõ, rằng mình đang đặt bước trên chính mảnh đất chôn nhau cắt rốn.

Khi màn đêm buông xuống, cậu quay trở lại chuyện quá khứ. “Tôi có một câu chuyện để kể,” cậu nói, “cùng rất nhiều lời giải thích cần đưa ra liên quan đến dĩ vãng; có lẽ anh có thể giúp tôi rút ngắn nó lại. Anh có nhớ cha mình không? Tôi chưa từng có diễm phúc được gặp mặt ông, nhưng tên tuổi ông là một trong những ký ức sớm nhất trong tôi: hình ảnh ông khắc ghi trên bảng vàng tâm trí tôi như hình mẫu của mọi phẩm chất hào hiệp, đáng mến và lôi cuốn nhất ở một người đàn ông. Sự hóm hỉnh của ông cũng nổi bật không kém tấm lòng nhân hậu lai láng mà ông đã ban phát với mức độ trọn vẹn nhường ấy cho bạn bè, để rồi hỡi ôi, chẳng mảy may chừa lại bao nhiêu cho chính bản thân mình!”

Được khích lệ bởi lời ca tụng này, tôi tiếp lời, trả lời cho những câu hỏi của cậu, kể lại những gì tôi còn nhớ về đấng sinh thành; và cậu cũng tường thuật lại những hoàn cảnh đã dẫn đến việc bức thư trăn trối của cha tôi bị lãng quên. Về sau này, khi thân phụ của Adrian, lúc bấy giờ là quốc vương nước Anh, cảm thấy tình thế của mình ngày càng nguy ng hiểm hơn, đường lối hành xử của ông càng thêm bế tắc, ông lại khao khát khôn nguôi về người bạn thuở niên thiếu của mình, người có thể đứng ra làm bức tường thành chắn trước cơn giận dữ bốc đồng của vương hậu, làm nhân chứng hòa giải giữa ông và nghị viện. Kể từ thời điểm rời khỏi London trong đêm định mệnh thất trận trên sới bạc, nhà vua không hề nhận được bất kỳ tin tức nào về ông; và khi, sau nhiều năm trôi qua, ông nỗ lực tìm kiếm lại tung tích, thì mọi dấu vết đều đã bặt tăm. Mang theo niềm tiếc nuối khôn nguôi hơn bao giờ hết, nhà vua vẫn bám lấy ký ức ấy; và căn dặn người con trai rằng, nếu có ngày nào bắt gặp được người bạn trân quý này, hãy nhân danh ông ban phát mọi sự trợ giúp, đồng thời đảm bảo rằng cho đến tận phút cuối cùng, tình cảm gắn bó của ông vẫn chiến thắng mọi khoảng cách và sự im lặng.

Một thời gian ngắn trước chuyến viếng thăm Cumberland của Adrian, người thừa kế của vị quý tộc mà cha tôi từng gửi gắm lời kêu cứu cuối cùng đến vị bệ hạ hoàng gia của ông, đã trao bức thư ấy, với ấn triện vẫn còn nguyên vẹn, vào tay vị Bá tước trẻ tuổi. Nó đã được tìm thấy khi bị vứt xó cùng một đống tài liệu cũ kỹ, và chỉ nhờ tình cờ mới được đưa ra ánh sáng. Adrian đọc nó với niềm quan tâm sâu sắc; và tìm thấy ở đó cái linh hồn sống động của thiên tài và sự hóm hỉnh mà cậu từng nghe người ta ca tụng biết bao lần. Cậu khám phá ra tên của chốn thâm sơn cùng cốc nơi cha tôi lui về ẩn dật và qua đời; cậu hay biết về sự tồn tại của những đứa con mồ côi của ông; và trong khoảng thời gian ngắn ngủi giữa lúc đặt chân đến Ulswater và cuộc hội ngộ của chúng tôi trong công viên, cậu đã bận rộn thực hiện các cuộc thăm dò liên quan đến chúng tôi, đồng thời sắp xếp vô số kế hoạch nhằm mưu cầu lợi ích cho chúng tôi trước khi chính an diện kiến chúng tôi.

Cách thức cậu nhắc đến cha tôi khiến sự kiêu ngạo của tôi được thỏa mãn; lớp sương mù mà cậu khéo léo phủ lên lòng nhân ái của mình, khi viện cớ thực hiện trọn vẹn di nguyện cuối cùng của nhà vua, đã xoa dịu lòng tự ái của tôi. Những cảm xúc khác, ít mơ hồ hơn, được đánh thức bởi cung cách nhã nhặn cùng sự nồng nhiệt hào phóng của cậu: sự kính trọng vốn hiếm khi xuất hiện trước đó, sự ngưỡng mộ và tình yêu thương — cậu đã chạm đến trái tim cằn cỗi như đá của tôi bằng thứ quyền năng ma thuật, để rồi dòng suối tình cảm tuôn trào bất tận và tinh khiết. Khi chiều tà, chúng tôi chia tay; cậu siết chặt tay tôi: “Chúng ta sẽ còn gặp lại; hãy đến tìm tôi vào ngày mai.” Tôi nắm chặt bàn tay ân cần ấy; cố gắng thốt lên lời đáp; một câu “Chúa phù hộ ngài!” đầy thành kính là tất cả những gì sự ngô nghê của tôi có thể diễn tả thành lời, rồi tôi lao vút đi, ngập tràn trước những cảm xúc mới mẻ.

Tôi chẳng thể chợp mắt. Tôi tìm lên những ngọn đồi; một ngọn gió tây thổi qua đó và những vì sao lấp lánh trên cao. Tôi cắm cổ chạy, chẳng màng đến ngoại cảnh, mà chỉ cố gắng chế ngự tinh thần đang bấn loạn trong lồng ngực bằng sự kiệt quệ của thể xác. “Thế này,” tôi nghĩ bụng, “mới gọi là sức mạnh! Không phải là kẻ có tay chân vạm vỡ, trái tim chai sạn, hung hợn và táo bạo; mà là người nhân hậu, từ bi và dịu dàng.”—Dừng phắt lại, tôi đan chặt hai tay vào nhau, và với sự nhiệt thành của một tín đồ mới quy đạo, cất tiếng thề thốt: “Đừng hoài nghi tôi, hỡi Adrian, tôi rồi cũng sẽ trở nên khôn ngoan và tử tế!” rồi hoàn toàn gục ngã, tôi oà khóc nức nở.

Khi cơn bão tố cảm xúc ấy qua đi, tôi cảm thấy bình tâm hơn. Tôi nằm bẹp xuống đất, buông lỏng dây cương cho những suy nghĩ trôi đi, ngẫm lại cuộc đời trước kia của mình trong tâm tưởng; và bắt đầu từng lớp một, gỡ bỏ những lầm lỗi chất chồng trong tim, để nhận ra bấy lâu nay mình đã thô lỗ, hoang dã và vô tích sự đến mức nào. Tuy nhiên, vào khoảnh khắc ấy, tôi chưa thể cảm thấy sự ăn năn hối hận, bởi tôi ngỡ như mình vừa được tái sinh; tâm hồn tôi rũ bỏ gánh nặng của tội lỗi thuở trước, để bắt đầu một chặng đường mới trong sự ngây thơ và tình yêu thương. Chẳng còn chút gì khắc nghiệt hay thô ráp xóc nổi với những tình cảm dịu dàng mà những biến cố trong ngày vừa khơi gợi; tôi tựa như một đứa trẻ đang bập bẹ những lời cầu nguyện theo mẹ, và tâm hồn dễ uốn nắn của tôi được nhào nặn lại bởi một bàn tay đại sư, thứ mà tôi chẳng hề muốn cũng như chẳng thể nào kháng cự.

Đây là khởi đầu tiên cho tình bạn giữa tôi với Adrian, và tôi phải ghi nhớ ngày hôm nay như ngày may mắn nhất trong cuộc đời mình. Từ đây tôi bắt đầu được làm người. Tôi được bước qua cái ranh giới thiêng liêng phân định bản chất trí tuệ và đạo đức của con người với loài thú vật. Những tình cảm tốt đẹp nhất trong tôi được đánh thức để đáp lại một cách xứng đáng sự hào phóng, khôn ngoan và nhã nhặn của người bạn mới. Cậu ấy, với một bản tính lương thiện cao cả thuộc về riêng cậu, vô cùng đắm chìm trong việc ban phát một cách hào phóng những kho báu trí tuệ và tài sản của mình cho đứa con trai lâu ngày bị bỏ quên của người bạn tri kỷ, cho hậu duệ của con người tài hoa mà những đức tính và tài năng đã được cậu nghe ca tụng từ thuở lọt lòng.

Sau khi thoái vị, vị cựu vương đã rút lui khỏi vũ đài chính trị, thế nhưng vòng tròn gia đình chẳng mang lại cho ông mấy niềm vui. Cựu vương hậu chẳng sở hữu chút đức tính nào của đời sống gia đình, và những phẩm chất dũng cảm cùng sự táo bạo mà bà có lại bị triệt tiêu bởi quyết định rút lui của chồng: bà khinh miệt ông, và chẳng thèm che giấu những cảm xúc ấy. Chiếu theo những đòi hỏi của bà, nhà vua đã gạt bỏ những người bạn cũ, nhưng dưới sự dẫn dắt của bà, ông chẳng thu nạp thêm được người bạn mới nào. Giữa cơn hoang mạc thiếu thốn sự đồng cảm này, ông đành cậy nhờ vào đứa con trai hãy còn nhỏ tuổi; và sự phát triển sớm của tài năng cùng sự nhạy cảm đã khiến Adrian trở thành nơi gửi gắm sự tin tưởng vô cùng xứng đáng của cha mình. Cậu chẳng bao giờ mệt mỏi khi lắng nghe những câu chuyện được kể đi kể lại về thời xưa cũ, nơi cha tôi từng đóng một vai trò nổi bật; những nhận xét sắc sảo của ông được nhắc đi nhắc lại với đứa trẻ và được cậu khắc ghi; sự hóm hỉnh, vẻ lôi cuốn, thậm chí cả những khuyết điểm của ông đều được tôn nghiêm bởi sự tiếc nuối của tình cảm; sự ra đi của ông bị phàn nàn một cách chân thành. Ngay cả ác cảm của vương hậu đối với người sủng thần cũng bất thành trong việc tước đoạt sự ngưỡng mộ của con trai dành cho ông: nó mang màu sắc cay đắng, châm biếm, khinh miệt — nhưng vì bà trút những lời chỉ trích nặng nề như nhau lên cả đức tính lẫn lỗi lầm của ông, lên tình bạn tận tụy và những cuộc tình sai trái của ông, lên sự vô vị kỷ và tính phóng khoáng của ông, lên vẻ duyên dáng dễ mến cùng sự dễ dãi trước cám dỗ, cú đánh kép của bà cuối cùng lại quá nặng, và rơi hụt mục tiêu. Sự bất mãn giận dữ của bà cũng chẳng thể ngăn cản Adrian hình dung về cha tôi, như cậu từng thổ lộ, là hình mẫu của mọi phẩm chất hào hiệp, đáng mến và quyến rũ ở một người đàn ông. Thế nên chẳng có gì lạ khi hay tin về sự tồn tại của hậu duệ nhân vật lừng lẫy này, cậu đã vạch ra kế hoạch ban phát cho họ mọi lợi thế mà tước vị giàu có cho phép cậu rộng tay chi trả. Khi phát hiện tôi chỉ là một tên mục đồng lang thang nơi gò đồi, một kẻ săn trộm, một tên hoang dã thất học, lòng tốt của cậu vẫn không hề suyuy suyển. Ngoài quan điểm cho rằng cha mình phần nào mang tội lơ đễnh đối với chúng tôi và bản thân cậu có trách nhiệm phải đền bù mọi điều có thể, cậu còn nhã ý cho rằng ẩn sâu bên dưới vẻ xù xì của tôi vẫn thấp thoáng một khí phách cao thượng, thứ có thể tách biệt rõ ràng với lòng dũng cảm thuần túy của loài vật, và rằng tôi thừa hưởng những đường nét gương mặt tương tự cha mình, là minh chứng cho thấy không phải mọi đức tính và tài năng của ông đều đã mai mòn theo cái chết. Bất kể những thứ ấy có truyền lại cho tôi ra sao đi nữa, vị bằng hữu trẻ tuổi cao quý của tôi cũng quyết tâm không để chúng lụi tàn vì thiếu sự mài giũa.

Hành động theo kế hoạch này trong những lần tương tác tiếp theo, cậu dẫn dắt tôi khao khát được hòa mình vào sự mài giũa trí tuệ vốn tô điểm cho chính trí tuệ của cậu. Tâm trí năng động của tôi, một khi đã nắm bắt được ý tưởng mới mẻ này, liền bám chặt lấy nó với sự háo hức cùng cực. Ban đầu, mục tiêu lớn lao trong tham vọng của tôi là sánh ngang với những ưu điểm của cha mình, và khiến bản thân trở nên xứng đáng với tình bằng hữu của Adrian. Thế nhưng sự tò mò chẳng mấy chốc trỗi dậy, cùng với tình yêu kiến thức thiết tha đã khiến tôi trải qua bao ngày đêm vùi đầu vào sách vở và học tập. Tôi vốn đã quen thuộc với cái mà tôi có thể gọi là bức tranh toàn cảnh của tự nhiên, sự đổi thay của các mùa, cùng những diện mạo muôn màu của trời đất. Thế nhưng tôi vừa ngỡ ngàng vừa đê mê trước tầm nhìn bỗng chốc được mở rộng đột ngột, khi tấm màn che trước thế giới trí tuệ bị kéo phắt sang một bên, và tôi nhìn thấy vũ trụ, không chỉ qua những gì bày biện trước các giác quan bên ngoài, mà còn dưới lăng kính của những bậc trí giả uyên bác nhất. Thi ca cùng những tạo tác của nó, triết học cùng những cuộc nghiên cứu và phân loại của nó, đồng loạt đánh thức những ý tưởng hãy còn say ngủ trong tâm trí tôi và ban cho tôi những ý niệm hoàn toàn mới mẻ.

Tôi cảm thấy như người thủy thủ từ trên đài quan sát lần đầu tiên nhìn thấy bờ biển nước Mỹ; và hệt như anh ta, tôi vội vã kể cho các đồng bạn nghe về những phát hiện của mình ở những miền đất lạ chưa từng biết đến. Thế nhưng tôi chẳng tài nào khơi dậy được ở bất kỳ lồng ngực nào nỗi thèm khát kiến thức sục sôi như trong tôi. Ngay cả Perdita cũng không tài nào thấu hiểu nổi tôi. Tôi từng sống trong cái gọi là thế giới hiện thực, và việc bừng tỉnh trước một xứ sở mới để nhận ra rằng có một tầng ý nghĩa sâu xa hơn ẩn chứa trong mọi thứ ta thấy, bên cạnh những gì mắt thường truyền tải, quả là một điều kỳ diệu. Perdita mơ mộng chỉ nhìn thấy ở tất cả những điều này một lớp sơn hào nhoáng mới quét lên một cuốn sách cũ, và thế giới tưởng tượng của riêng nàng đã quá đủ phong phú để nàng thỏa mãn. Nàng lắng nghe tôi hệt như cách nàng từng nghe những câu chuyện kể về các cuộc phiêu lưu của tôi, và đôi khi cũng tỏ ra hứng thú với thể loại thông tin này; thế nhưng nàng không hề coi nó, như cách tôi đã làm, là một phần máu thịt không thể tách rời của bản thân, thứ mà một khi đã có được, tôi chẳng thể nào rũ bỏ được cũng như cảm giác xúc giác phổ quát trên cơ thể.

Cả hai chúng tôi đều đồng lòng yêu mến Adrian: dẫu rằng nàng, khi ấy vẫn chưa thoát khỏi tuổi nhi đồng, không thể đánh giá trọn vẹn như tôi tầm vóc những ưu điểm của cậu, hay cảm nhận sự đồng điệu tương tự trong các theo đuổi và quan điểm của cậu. Tôi gắn bó với cậu mãi không rời. Có một sự nhạy cảm và ngọt ngào trong bản tính của cậu, mang lại một âm hưởng dịu dàng và phi trần tục vào những cuộc trò chuyện của chúng tôi. Lúc ấy cậu vui tươi như một chú chim chiền chiện hót vang từ ngọn tháp mây trời, bay bổng trong tư tưởng tựa cánh đại bàng, ngây thơ như chú bồ câu hiền lành mắt biếc. Cậu có thể xua tan vẻ nghiêm nghị của Perdita, đồng thời rút đi cái nọc độc từ sự hiếu động đầy dằn vặt trong bản tính của tôi. Tôi nhìn lại những khao khát bất an và những cuộc đấu tranh đau đớn với đồng loại của mình như nhìn vào một giấc mơ đầy giông bão, và cảm nhận bản thân thay đổi nhiều đến mức tưởng như mình vừa chuyển sinh vào một thể xác khác, nơi hệ thần kinh và bộ máy cảm giác tươi mới đã biến đổi sự phản chiếu của vũ trụ hiện hữu trong chiếc gương tâm trí. Thế nhưng sự thật chẳng phải vậy; tôi vẫn nguyên vẹn sức mạnh ấy, vẫn cơn khát khao sự đồng cảm mãnh liệt ấy, vẫn nỗi nhớ nhung những hành động bộc phát ấy. Những phẩm chất nam tính của tôi không hề bỏ tôi mà đi, hệt như phù thủy Urania đã buông tha những lọn tóc của Samson trong lúc chàng nghỉ ngơi dưới chân nàng; thế nhưng tất cả đã trở nên mềm mại và mang đậm tình người hơn. Và Adrian không chỉ dạy tôi những chân lý lạnh lùng của lịch sử và triết học. Cùng lúc dùng những phương tiện ấy để thuần hóa tinh thần ngạo mạn và thiếu trau dồi của tôi, cậu còn mở rộng tầm mắt tôi trước trang sách sống động từ chính trái tim cậu, cho phép tôi cảm nhận và thấu hiểu bản chất kỳ diệu của nó.

Cựu vương hậu nước Anh từng, ngay từ thuở lọt lòng, tìm cách cấy ghép những mưu đồ táo bạo và đầy tham vọng vào tâm trí con người con trai. Bà nhận thấy cậu được phú bẩm thiên tài và tài năng trác việt; và bà mài giũa những điều ấy với mục đích sau này sẽ lợi dụng chúng để phục vụ cho các kế hoạch riêng của mình. Bà khích lệ cơn thát khát tri thức và lòng dũng cảm bốc đồng của cậu; bà thậm chí dung túng cho tình yêu tự do bất kham của cậu, với hy vọng rằng nó sẽ, như thường lệ, dẫn dắt đến niềm đam mê quyền lực. Bà nỗ lực nuôi dưỡng cậu trong sự căm phẫn và khao khát trả thù những kẻ từng nhúng tay vào việc ép buộc cha cậu thoái vị. Về điểm này thì bà không thành công. Những bản tường thuật được cung cấp cho cậu, dù bị bóp méo đến đâu chăng nữa, về một quốc gia vĩ đại và khôn ngoan đang xác lập quyền tự trị của chính mình, vẫn khơi dậy sự ngưỡng mộ trong cậu: từ thuở thiếu thời, cậu đã trở thành một người theo chủ nghĩa cộng hòa xuất phát từ nguyên tắc sống. Dẫu vậy, người mẹ vẫn không nản lòng. Bên cạnh lòng ái mộ quyền uy và niềm kiêu hãnh kiêu kỳ của dòng dõi, bà còn bồi đắp thêm tham vọng quyết liệt, sự kiên nhẫn và tính tự chủ. Bà dồn tâm huyết nghiên cứu tính khí của con trai mình. Bằng cách áp dụng những lời ngợi khen, chê bai cùng những lời khuyên răn, bà cố gắng dò dẫm và đánh trúng những phím đàn phù hợp; và dẫu cho khúc âm thanh vang lên sau những cái chạm của bà có vẻ chói tai đối với bà, bà vẫn đặt trọn hy vọng vào tài năng của cậu, và đinh ninh rằng cuối cùng mình sẽ thuần hóa được cậu. Kiểu lưu đày mà cậu đang phải trải qua thực chất xuất phát từ những nguyên nhân khác.

Cựu vương hậu còn có một người con gái, nay đã lên mười hai tuổi; một đứa em gái tựa tiên nữ, là cách mà Adrian thường gọi con bé; một sinh vật nhỏ bé đáng yêu, hoạt bát, ngập tràn sự nhạy cảm và chân thật. Cùng với hai đứa con này, người góa phụ quý tộc liên tục cư ngụ tại Windsor; và tuyệt đối không tiếp đón bất kỳ vị khách nào ngoài những kẻ thuộc phe cánh của chính bà, những du khách đến từ quê hương Đức của bà, và một vài vị ngoại giao nước ngoài. Nổi bật trong số đó, và được bà đặc biệt sủng ái, là Hoàng tử Zaimi, đại sứ tại Anh quốc của các Bang tự do Hy Lạp; và con gái của ông, nàng Công chúa trẻ Evadne, đã dành phần lớn thời gian sinh hoạt tại Lâu đài Windsor. Sánh bước bên cô thiếu nữ Hy Lạp lém lỉnh và thông minh này, Nữ bá tước thường trút bỏ đi vẻ uy nghiêm thường nhật. Những mưu đồ của bà nhắm vào các con mình khiến mọi lời nói và hành động của bà đối với chúng đều bị kìm kẹp trong sự kiềm chế; thế nhưng Evadne lại là một món đồ chơi mà bà chẳng hề phải bận tâm lo sợ; tài năng và sự hoạt bát của cô cũng chính là những liều thuốc xoa dịu không nhỏ cho sự đơn điệu trong cuộc đời của Nữ bá tước.

Evadne năm ấy mười tám tuổi. Dẫu rằng họ dành rất nhiều thời gian bên nhau tại Windsor, độ tuổi hãy còn quá trẻ của Adrian đã ngăn chặn mọi sự hoài nghi về bản chất mối quan hệ giữa họ. Thế nhưng cậu lại là một kẻ nồng nhiệt và đa cảm vượt qua cả khuôn mẫu thông thường của con người, và đã sớm học cách yêu đương, trong khi thiếu nữ Hy Lạp xinh đẹp mỉm cười đầy hiền hòa với chàng thiếu niên. Thật kỳ lạ đối với tôi, kẻ lớn tuổi hơn Adrian nhưng chưa từng biết yêu là gì, khi tận mắt chứng kiến sự hy sinh trọn vẹn cõi lòng của người bạn. Chẳng hề có chút ghen tuông, bất an hay hoài nghi nào trong tình cảm của cậu; đó là sự tôn sùng và đức tin tuyệt đối. Cuộc đời cậu hòa tan vào sự tồn tại của người thiếu nữ mình yêu; và trái tim cậu chỉ đập đồng điệu với những nhịp đập đang truyền sự sống cho nàng. Đó chính là quy luật ẩn giấu trong cuộc đời cậu — cậu yêu và được yêu. Vũ trụ đối với cậu chỉ là một ngôi nhà, để chung sống cùng người con gái mình chọn lựa; chứ không phải là một mô hình xã hội hay một chuỗi sự kiện ràng buộc có thể ban cho cậu hạnh phúc hay nỗi đau buồn. Cuộc đời và hệ thống giao tiếp xã hội có là một vùng hoang mạc, một khu rừng rậm đầy hổ báo thì đã sao! Băng qua giữa những lầm lạc ấy, trong những tầng sâu thẳm của chốn thâm sơn cùng cốc hoang dã ấy, vẫn có một lối đi rợp bóng hoa ngát hương, nơi họ có thể hành trình trong sự an toàn và hoan hỉ. Vết chân của họ sẽ tựa như cuộc vượt Biển Đỏ, nơi họ có thể bước qua với đôi chân khô ráo, dẫu cho bức tường hủy diệt đang chực chờ sụp xuống ở bất kỳ bên nào.

Hỡi ôi! Tại sao tôi lại phải ghi chép lại ảo tưởng khốn khổ của một tuyệt tác nhân loại không tì vết này? Có điều gì trong bản chất của chúng ta cứ mãi thúc đẩy chúng ta lao về phía nỗi đau và sự khốn cùng cơ chứ? Chúng ta vốn không được tạo ra để hưởng thụ, và dẫu cho tâm hồn ta có tinh tế đến đâu trong việc đón nhận những cảm xúc vui sướng, sự thất vọng vẫn luôn là tay hoa tiêu không bao giờ sai sót của con thuyền đời, tàn nhẫn đẩy chúng ta trôi dạt vào những vùng bãi cạn. Còn ai có thể thích hợp hơn thiếu niên tài hoa xuất chúng này để yêu và được yêu, để gặt hái niềm vui bất biến từ một mối tình không vấy vết bẩn? Giá như trái tim cậu có thể ngủ yên thêm vài năm nữa, có lẽ cậu đã được cứu rỗi; thế nhưng nó đã bừng tỉnh ngay khi hãy còn non trẻ; nó có sức mạnh, nhưng lại thiếu vắng sự khôn ngoan; và nó đã lụi tàn, hệt như một nụ hoa hé nở quá sớm bị bóp nghẹt bởi cái lạnh giết người của sương giá.

Tôi không hề buộc tội Evadne đạo đức giả hay có ý định lừa dối người tình của mình; thế nhưng bức thư đầu tiên của nàng mà tôi được mục kích đã thuyết phục tôi rằng nàng không hề yêu cậu; nó được viết với vẻ tao nhã, và dẫu là một người ngoại quốc, nàng lại thể hiện sự uyển chuyển tuyệt vời trong ngôn từ. Nét chữ của nàng đẹp đến mức tuyệt mỹ; có thứ gì đó toát lên từ chính chất giấy lẫn những nếp gấp của nó, mà ngay cả một kẻ không biết yêu và hoàn toàn mù tịt về những chuyện như thế như tôi cũng có thể nhận ra là mang đậm gu thẩm mỹ. Có rất nhiều sự ân cần, lòng biết ơn và sự ngọt ngào trong cách diễn đạt của nàng, nhưng hoàn toàn vắng bóng tình yêu. Evadne lớn hơn Adrian hai tuổi; và ở tuổi mười8, liệu có ai lại đem lòng yêu một kẻ nhỏ tuổi hơn mình ngần ấy? Tôi đem so sánh những bức thư bình lặng của nàng với những dòng chữ rực lửa của Adrian. Tâm hồn cậu như chưng cất thành từng từ ngữ cậu viết ra; và chúng phả hơi ấm lên trang giấy, mang theo một phần của sinh mệnh tình yêu, thứ vốn là cuộc đời của cậu. Chỉ riêng việc viết lứa thư từ ấy cũng đủ vắt kiệt sức lực của cậu; và cậu thường bật khóc nức nở bên những lá thư ấy, đơn giản chỉ vì dư âm cảm xúc quá đỗi dâng trào mà chúng khơi gợi trong tim cậu.

Tâm hồn của Adrian được phơi bày trọn vẹn trên khuôn mặt, và sự che đậy hay dối trá nằm ở thái cực đối lập hoàn toàn với sự thẳng thắn không biết sợ hãi trong bản tính của cậu. Evadne tha thiết khẩn nài rằng câu chuyện tình yêu của họ không được để lộ cho người mẹ biết; và sau một hồi giằng co tranh cãi, cậu đã nhượng bộ nàng. Một sự nhượng bộ vô ích; cung cách của cậu chẳng mấy chốc đã phản chủ tố cáo bí mật trước đôi mắt tinh tường của cựu vương hậu. Với sự thận trọng đầy cảnh giác vốn là đặc trưng trong toàn bộ hành động của mình, bà giấu nhẹm phát hiện của mình, nhưng ngay lập tức đẩy mạnh việc đưa con trai rời khỏi tầm ảnh hưởng của cô tiểu thư Hy Lạp thu hút ấy. Cậu được cử đi Cumberland; thế nhưng kế hoạch thư từ qua lại giữa hai người tình do chính Evadne sắp đặt lại được giấu kín một cách hoàn hảo trước mắt bà. Thế là sự vắng mặt của Adrian, vốn được dàn dựng nhằm mục đích chia rẽ, lại càng thắt chặt họ trong những mối liên kết bền chặt hơn bao giờ hết. Cậu không ngớt lời ca tụng với tôi về nàng tiểu thư người Ionia của mình. Quê hương nàng, những biên niên sử cổ đại, cùng những cuộc tranh đấu đáng nhớ gần đây của nơi ấy, tất cả đều được lồng ghép để chia sẻ phần vinh quang và sự ưu tú với nàng. Cậu chấp nhận xa cách nàng, bởi nàng ra lệnh cho sự phục tùng đó; nếu không vì sức ảnh hưởng của nàng, cậu đã sớm tuyên bố mối tình của mình trước toàn thể nước Anh, và hiên ngang chống lại sự phản đối của mẹ với một sự kiên định không gì lay chuyển nổi. Sự thận trọng mang tính nữ nhi của Evadne nhận thức rõ ràng rằng mọi lời tuyên bố về quyết định của cậu sẽ trở nên vô ích chừng nào tuổi đời chưa ban thêm sức nặng cho quyền lực của cậu. Có lẽ sâu thẳm bên trong còn ẩn chứa một sự miễn cưỡng thầm kín khi phải trói buộc bản thân trước thiên hạ với một kẻ mà nàng không hề yêu — ít nhất là không yêu bằng thứ đam mê cuồng nhiệt mà trái tim mách bảo nàng rằng có lúc nàng sẽ dành cho một người khác. Cậu vâng lời những lời dặn dò của nàng, và trải qua một năm lưu đày tại Cumberland.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.