Tôi đã nán lại quá lâu bên bờ vực thẳm, bãi cạn tiêu điều trải dài vào dòng đời, đùa giỡn với bóng tối của cái chết. Bấy lâu nay, tôi đã ấp ủ trái tim mình trong hoài niệm về hạnh phúc thuở xưa, khi hy vọng hãy còn. Sao không cứ thế này mãi mãi? Tôi đâu phải bậc bất tử; và sợi chỉ cuộc đời tôi hoàn toàn có thể kéo dài đến tận cực hạn của sự tồn tại. Thế nhưng, chính tâm tình từng thôi thúc tôi phác họa lại những khung cảnh đong đầy ký ức dịu dàng ấy, nay lại giục giã tôi phải mau chóng bước đi. Cùng một nỗi khát khao từ trái tim nồng nàn, thổn thức này — thứ đã khiến tôi dùng câu chữ để ghi lại tuổi trẻ lang bạt, thời trai trẻ bình yên, và những niềm đam mê của tâm hồn — nay lại khiến tôi chùng lòng trước sự trì hoãn thêm nữa. Tôi phải hoàn thành công trình của mình.
Nơi đây, tôi đang đứng bên dòng nước cuồn cuộn của những năm tháng trôi qua như tôi đã nói, và giờ thì lên đường thôi! Hãy căng buồm, gièo mái chèo, lướt nhanh qua những vách đá hiểm trở âm u, xuôi theo dòng thác xiết, để đến với biển cả điêu tàn mà tôi đã chạm tới. Nhưng xin hãy cho tôi thêm một khoảnh khắc, một khoảng lặng ngắn ngủi trước khi rời bến — một lần, lại một lần nữa, hãy để tôi tưởng tượng mình đang ở năm 2094 trong chốn điền viên tại Windsor, hãy để tôi nhắm mắt lại và mường tượng rằng những tán cây sồi rộng ngút ngàn vẫn đang che bóng mát cho tôi, với những bức tường lâu đài ở ngay gần bên. Hãy để trí tưởng tượng vẽ lại khung cảnh vui tươi của ngày hai mươi tháng Sáu, dẫu cho ngay lúc này, trái tim đang nhức nhối của tôi vẫn đang hoài niệm về nó.
Nhiều biến cố đã gọi tôi đến Luân Đôn; và tại đây, tôi nghe người ta bàn tán rằng những triệu chứng của bệnh dịch hạch đã xuất hiện trong các bệnh viện của thành phố ấy. Tôi quay trở lại Windsor; trán tôi u ám, lòng nặng trĩu; tôi bước vào Công viên Nhỏ qua cổng Frogmore như thường lệ trên đường đến Lâu đài. Phần lớn khu đất này đã được chuyển thành đất canh tác, với những mảnh ruộng trồng khoai tây và lúa mì nằm rải rác đây đó. Đàn quạ kêu vang lảnh lót trên những ngọn cây phía trên; hòa lẫn với tiếng kêu khàn khàn của chúng là một khúc nhạc rộn ràng. Hôm đó là sinh nhật của Alfred.
Những người trẻ tuổi, học sinh trường Eton, và con cái của các gia đình quý tộc lân cận đã tổ chức một hội chợ giả định, mời tất cả dân làng đến tham gia. Công viên rải rác những lều trại với màu sắc sặc sỡ và cờ hoa rực rỡ bay phần phật trong ánh nắng, làm tăng thêm vẻ vui tươi cho khung cảnh. Trên một b sân khấu dựng lên dưới phần sân hiên, một nhóm thanh niên nam nữ đang khiêu vũ. Tôi tựa lưng vào một thân cây để ngắm nhìn họ. Ban nhạc tấu lên giai điệu phương Đông hoang dã của Weber trong vở Abon Hassan; những nốt nhạc rộn ràng ấy chắp cánh cho bước chân của các vũ công, trong khi những người đứng xem vô thức nhịp theo điệu nhạc. Ban đầu, nhịp điệu dồn dập ấy nâng bổng tâm hồn tôi theo, và trong khoảnh khắc, mắt tôi hân hoan dõi theo những bước nhảy lắt léo. Sự đảo lộn của tư duy ập đến sắc lạnh như lưỡi dao cắm vào tim tôi. Tất cả các người đều sắp chết, tôi thầm nghĩ; nấm mồ của các người đã được dựng lên sẵn quanh mình rồi. Thoạt nhìn, vì được trời phú cho sự dẻo dai và sức mạnh, các người tưởng rằng mình đang sống: nhưng cái “tổ ấm bằng da thịt” bao bọc lấy sự sống ấy thật mỏng manh biết bao; sợi chỉ bạc trói buộc các người vào đó thật dễ đứt gãy. Tâm hồn vui sướng, được chở che từ niềm vui này sang niềm vui khác bởi cơ chế uyển chuyển của những chi cân đối, sẽ bất ngờ cảm thấy trục xe gãy sụp, để rồi lò xo và bánh xe tan rã thành tro bụi. Không một ai trong số các người, ôi đám đông bị thần chết định đoạt kia, có thể trốn thoát — không một ai! Kể cả những người thân yêu của tôi! Kể cả Idris và những đứa con của tôi! Thật là kinh hoàng và khốn khổ! Ngay lập tức, điệu nhảy vui tươi biến mất, bãi cỏ xanh rải rác những thây ma, bầu không khí xanh ngắt bên trên trở nên nồng nặc những uế khí tử thần. Hỡi những chiếc kèn đồng, hãy gào thét lên! Hỡi những tiếng kèn vang dội, hãy tru tréo lên! Hãy chất chồng khúc điệu buồn này lên khúc điệu buồn khác; hãy đánh thức những hợp âm tang tóc; hãy để không gian vang vọng tiếng than khóc thảm thiết; hãy để sự bất hòa hoang dại lao đi trên đôi cánh gió! Tôi đã nghe thấy tiếng ấy rồi, trong khi những thiên thần hộ mệnh đang dõi theo nhân loại, khi nhiệm vụ của họ đã hoàn thành, vội vã rời đi, và sự ra đi của họ được báo hiệu bằng những khúc ca u sầu; những gương mặt nhăn nhó đầm đìa nước mắt, dùng sức cạy mở đôi mắt tôi; từng nhóm người với vẻ mặt sầu thảm ấy càng lúc càng kéo đến đông nghịt xung quanh, bày đủ mọi vẻ khốn cùng — những gương mặt quen thuộc hòa lẫn với những tạo hình méo mó do trí tưởng tượng sinh ra. Trắng bệch như tơi, Raymond và Perdita ngồi tách biệt, dõi theo với những nụ cười buồn bã. Gác-xê của Adrian lướt qua, vấy bẩn hơi thở cái chết — Idris, với đôi mắt khép hờ mệt mỏi và đôi môi tím tái, đang sắp trượt xuống huyệt mộ sâu thẳm. Sự hỗn loạn ngày càng gia tăng — vẻ mặt đau buồn của họ chuyển thành chế giễu; họ gật đầu nhịp theo tiếng nhạc, thứ âm thanh đinh tai nhức óc đến phát cuồng.
Tôi cảm thấy mình sắp phát điên — tôi chồm lên để xua đi cảm giác ấy; tôi lao thẳng vào giữa đám đông. Idris nhìn thấy tôi: nàng bước tới với bước chân nhẹ nhàng; khi tôi ôm gọn nàng vào lòng, cảm nhận rõ ràng rằng mình đang ôm trọn cả thế giới, thế nhưng lại mong manh tựa giọt nước bị ánh nắng ban trưa hút cạn khỏi đóa súng nước; nước mắt ngập tràn khóe mi tôi, vốn chẳng mấy khi ướt đẫm thế này. Sự chào đón vui mừng của các con trai tôi, lời chúc tụng ngọt ngào của Clara, cái siết tay của Adrian, tất cả đã góp phần làm tôi suy sụp. Tôi cảm thấy họ đang ở gần, rằng họ vẫn an toàn, thế nhưng tôi lại nghĩ đây chỉ là một trò lừa dối; — mặt đất chao đảo, những gốc cây bám sâu vào lòng đất chuyển động — cơn chóng mặt ập đến — tôi ngã gục xuống đất.
Những người bạn yêu quý của tôi hoảng hốt — phải, họ bày tỏ sự hoảng hốt ấy lo lắng đến mức tôi không dám thốt lên từ bệnh dịch đang chực chờ trên đôi môi, sợ rằng họ sẽ hiểu những nét mặt bấn loạn của tôi là triệu chứng bệnh, và nhìn thấy sự lây nhiễm trong vẻ bơ phờ của tôi. Tôi vừa mới hồi phục, và với vẻ vui tươi gượng gạo, tôi đã mang nụ cười trở lại vòng tròn nhỏ của mình, thì chúng tôi nhìn thấy Ryland đang tiến lại gần.
Ryland trông hơi giống một người nông dân lực điền; của một người mà cơ bắp và tầm vóc vạm vỡ đã được tôi luyện qua những bài tập thể lực cường độ cao và sự khắc nghiệt của thời tiết. Quả thực là vậy: bởi vì, dẫu là một địa chủ lớn, nhưng là một người thích lập kế hoạch, có bản tính hăng hái và siêng năng, ông ta đã tự mình lao vào công việc đồng áng trên chính điền trang của mình. Khi đi sứ sang các bang miền Bắc nước Mỹ, ông ta từng có thời gian lên kế hoạch di cư toàn bộ; và thậm chí còn đi rất xa về phía Tây trên lục địa bao la đó để chọn địa điểm cho chốn dung thân mới. Lòng tham vọng đã hướng suy nghĩ của ông ta khỏi những dự định ấy — tham vọng, sau khi trải qua bao thăng trầm trắc trở, giờ đây đã đưa ông ta lên đỉnh cao hy vọng khi phong ông ta làm Lord Protector (Bảo Hộ Công) của nước Anh.
Khuôn mặt ông ta thô ráp nhưng thông minh — vầng trán rộng và đôi mắt xám sắc sảo dường như đang phóng tầm nhìn vượt qua cả những kế hoạch của chính mình lẫn sự chống đối của kẻ thù. Giọng ông ta vang như sấm: cánh tay giơ ra trong các cuộc tranh luận, với vẻ ngoài khổng lồ và lực bắp, dường như muốn cảnh báo người nghe rằng lời nói không phải là vũ khí duy nhất của ông ta. Ít ai phát hiện ra sự hèn nhát tiềm ẩn và sự thiếu kiên định trầm trọng đằng sau vẻ bề ngoài uy nghi ấy. Không ai có thể nghiền nát một “con bướm bằng chiếc bánh xe” một cách hiệu quả hơn; cũng không ai che đậy một cuộc rút lui chớp nhoáng trước kẻ thù hùng mạnh tốt hơn ông ta. Đó chính là bí quyết đằng sau việc ông ta rút lui vào thời điểm cuộc bầu cử của Lord Raymond. Trong ánh nhìn bất định của đôi mắt, trong mong muốn tột cùng muốn dò la ý kiến của tất cả mọi người, trong nét chữ yếu ớt, những phẩm chất này có thể phần nào bị che giấu, nhưng chúng không phải là điều xa lạ với công chúng. Giờ đây, ông ta là Lord Protector của chúng tôi. Ông ta đã vận động tranh cử rất hắt cho chiếc ghế này. Chế độ nhiếp chính của ông ta đáng lẽ phải nổi bật bởi mọi hình thức đổi mới đối với giới quý tộc. Nhưng nhiệm vụ đã chọn ấy lại bị thay thế bởi một nhiệm vụ hoàn toàn khác: đối phó với sự tàn phá do những chấn động của tự nhiên gây ra. Ông ta bất lực trước những tệ nạn này bằng bất kỳ hệ thống toàn diện nào; ông ta chỉ biết dùng hết giải pháp này đến giải pháp khác, và không bao giờ chịu đưa một biện pháp khắc phục nào vào thực tế cho đến khi quá muộn để có thể hữu dụng.
Chắc chắn là Ryland đang tiến về phía chúng tôi lúc này chẳng còn mấy nét tương đồng với kẻ vận động tranh cử hùng mạnh, mỉa mai và có vẻ bất sợ cho vị thế hàng đầu trong số những người Anh nữa. Cây sồi bản địa của chúng tôi, theo cách gọi của những người ủng hộ ông ta, quả thực đang hứng chịu một đợt giá rét cắt da cắt thịt. Ông ta trông chưa nổi một nửa chiều cao thường ngày; các khớp xương rã rời, đôi chân không còn trụ nổi; khuôn mặt co rút, ánh mắt láo liên; sự yếu đuối trong ý chí và nỗi sợ hãi hèn nhát hiện rõ trong từng cử chỉ.
Đáp lại những câu hỏi đầy sốt sắng của chúng tôi, chỉ một từ duy nhất thốt ra, như thể bật ra vô thức từ đôi môi co giật của ông ta: Bệnh dịch.—“Ở đâu?”—“Khắp nơi — chúng ta phải trốn chạy — tất cả phải trốn chạy — nhưng trốn đi đâu? Không ai biết được — chẳng có nơi nương náu nào trên trái đất này, nó ập đến với chúng ta như hàng ngàn bầy sói — tất cả chúng ta phải trốn chạy — các người sẽ đi đâu? Bất kỳ ai trong chúng ta có thể đi đâu?”
Những lời ấy được thốt ra trong sự run rẩy bởi con người sắt đá đó. Adrian đáp lời: “Thực ra ngài muốn trốn đi đâu? Tất cả chúng ta phải ở lại; và làm hết sức mình để giúp đỡ những đồng loại đang chịu khổ đau.”
“Giúp đỡ!” Ryland thốt lên, “chẳng có sự giúp đỡ nào cả! — lạy Chúa vĩ đại, ai lại đi nói chuyện giúp đỡ chứ! Cả thế giới đều mắc dịch rồi!”
“Vậy để tránh nó, chúng ta phải rời bỏ thế giới này,” Adrian nhận xét với một nụ cười dịu dàng.
Ryland rên rỉ; những giọt mồ hôi lạnh túa ra trên trán ông ta. Thật vô ích khi đối đầu với cơn hoảng loạn tột độ của ông ta: nhưng chúng tôi đã xoa dịu và khích lệ ông ta, để rồi sau một lúc, ông ta phần nào bình tĩnh hơn để giải thích cho chúng tôi nguyên nhân nỗi sợ hãi của mình. Nó đã ập đến quá gần ông ta. Một trong những người hầu của ông ta, trong lúc đang hầu hạ, bỗng ngã qu่ lăn ra chết. Bệnh viện tuyên bố rằng người đó chết vì bệnh dịch hạch. Chúng tôi cố gắng trấn an ông ta — nhưng trong lòng chúng tôi cũng chẳng hề bình yên. Tôi thấy ánh mắt của Idris rời khỏi tôi, nhìn mấy đứa con với vẻ cầu cứu đầy lo lắng hướng về phán đoán của tôi. Adrian chìm đắm trong suy tư. Về phần mình, tôi thú nhận rằng những lời của Ryland cứ vang mãi bên tai tôi; cả thế giới đã bị lây nhiễm; — liệu tôi có thể tìm được chốn thâm sơn cùng cốc nào không bị vấy bẩn để cứu lấy những báu vật yêu thương của mình, cho đến khi bóng tối của tử thần trôi qua khỏi trái đất? Chúng tôi chìm vào im lặng: một sự im lặng nuốt chửng những lời kể và tiên tri thảm sầu của vị khách. Chúng tôi đã lùi khỏi đám đông; và bước lên những bậc thềm của sân hiên, tiến vào Lâu đài. Sự thay đổi sắc mặt của chúng tôi đã đập vào mắt những người đứng gần nhất; và qua những người hầu của Ryland, tin đồn nhanh chóng lan ra rằng ông ta đã trúng dịch hạch mà bỏ trốn khỏi Luân Đôn. Các nhóm người đang vui vẻ bỗng giải tán — họ tụ tập thành từng nhóm thì thầm bàn tán. Tinh thần vui tươi vụt tắt; tiếng nhạc ngừng hẳn; những người trẻ tuổi rời bỏ các trò chơi và quây quần bên nhau. Sự nhẹ nhõm trong tâm hồn từng khoác lên họ những bộ trang phục hóa trang, trang hoàng lều trại và tập hợp họ thành những nhóm kỳ ảo, giờ đây tựa như một tội lỗi chống lại, và là thứ khiêu khích đối với định mệnh khủng khiếp đang đặt bàn tay làm tê liệt lên hy vọng và sự sống. Niềm vui của giờ phút ấy chính là sự nhạo báng bất kính đối với nỗi đau của con người. Những người nước ngoài sống chung với chúng tôi, những kẻ từng trốn chạy dịch hạch từ chính quê hương họ, nay nhìn thấy nơi trú ẩn cuối cùng của mình bị xâm chiếm; và nỗi sợ hãi khiến họ trở nên ba hoa, họ miêu tả cho những đôi mắt háo hức nghe về những nỗi thống khổ mà họ từng chứng kiến ở các thành phố bị tai ương tàn phá, đồng thời kể lại những câu chuyện đáng sợ về bản chất âm thầm và vô phương cứu chữa của căn bệnh này.
Chúng tôi đã bước vào Lâu đài. Idris đứng bên cửa sổ nhìn xuống công viên; đôi mắt người mẹ tìm kiếm những đứa con của mình giữa đám đông thanh thiếu niên. Một thiếu niên Ý đang vây quanh bởi một nhóm khán giả, và với những cử chỉ hoạt bát, cậu ta đang miêu tả cảnh tượng kinh hoàng nào đó. Alfred đứng bất động trước mặt cậu ta, toàn bộ sự chú ý bị cuốn hút hoàn toàn. Cậu bé Evelyn đã cố gắng kéo Clara đi chơi cùng mình; nhưng câu chuyện của thiếu niên Ý đã thu hút con bé, nó rón rén lại gần, đôi mắt sáng rực dán chặt vào người kể chuyện. Hoặc đang dõi theo đám đông trong công viên, hoặc chìm đắm trong những suy ngẫm đau đớn, tất cả chúng tôi đều im lặng; Ryland đứng một mình trong hốc cửa sổ; Adrian sải bước trong sảnh lớn, xoay trở trong đầu một ý tưởng mới mẻ và áp đảo — đột nhiên anh dừng lại và nói: “Tôi đã mong đợi điều này từ lâu; liệu chúng ta có thể lý trí khi hy vọng rằng hòn đảo này sẽ được miễn dịch khỏi cơn đại dịch toàn cầu? Thảm họa đã giáng xuống tận cửa nhà chúng ta, và chúng ta không được lùi bước trước số phận của mình. Các kế hoạch của ngài là gì, thưa Lord Protector, vì lợi ích của đất nước chúng ta?”
“Vì tình yêu thiêng liêng! Windsor,” Ryland kêu lên, “đừng chế nhạo tôi bằng cái tước hiệu đó. Cái chết và bệnh tật cào bằng tất cả mọi người. Tôi chẳng màng bảo vệ hay cai quản một cái bệnh viện — nước Anh sẽ nhanh chóng biến thành một nơi như thế thôi.”
“Vậy ngài có ý định, ngay trong thời điểm hiểm nghèo này, thoái thác các nhiệm vụ của mình sao?”
“Nhiệm vụ! Hãy nói chuyện một cách lý trí, thưa ngài! — khi tôi đã là một cái thây ma mang mụn dịch hạch, thì nhiệm vụ của tôi nằm ở xó xỉnh nào chứ? Ai lo thân người nấy! Quỷ tha ma bắt cái ghế bảo hộ công đi, tôi nói thế đấy, nếu nó đẩy tôi vào nguy hiểm!”
“Con người nhát gan!” Adrian phẫn nộ kêu lên —“Đồng bào đặt trọn niềm tin vào ngài, vậy mà ngài lại phản bội họ!”
“Tôi phản bội họ ư!” Ryland nói, “bệnh dịch đang phản bội tôi. Nhát gan ư! Thật hay ho làm sao khi được cuộn mình trong lâu đài, tránh xa hiểm nguy, để mà khoác lác là mình không sợ hãi. Ai muốn làm Lord Protector thì cứ việc lấy đi; trước mặt Chúa, tôi xin từ bỏ nó!”
“Và trước mặt Chúa,” đối thủ của ông ta đáp lời một cách tha thiết, “tôi xin đón nhận nó! Sẽ chẳng ai thèm vận động tranh cử cho vinh dự này nữa đâu — chẳng ai ganh tỵ với mối hiểm nguy hay sự nhọc nhằn của tôi. Hãy trao lại quyền lực của ngài vào tay tôi. Từ lâu tôi đã chiến đấu với tử thần, và rất nhiều” (anh giơ bàn tay gầy gò của mình lên) “rất nhiều lần tôi đã chịu đau khổ trong cuộc đấu tranh này. Chúng ta chỉ có thể chiến thắng bằng cách đối đầu với kẻ thù chứ không phải trốn chạy. Nếu trận chiến cuối cùng của tôi sắp sửa diễn ra, và tôi phải chịu thua — thì cứ để nó xảy ra đi!”
“Nhưng thôi nào, Ryland, hãy trấn tĩnh lại đi! Mọi người bấy lâu nay vẫn nghĩ ngài là kẻ hào hiệp và khôn ngoan, lẽ nào ngài lại vứt bỏ những danh xưng ấy? Hãy nghĩ đến sự hoảng loạn mà sự ra đi của ngài sẽ gây ra. Hãy quay lại Luân Đôn. Tôi sẽ đi cùng ngài. Hãy khích lệ người dân bằng sự hiện diện của ngài. Tôi sẽ gánh chịu mọi hiểm nguy. Thật xấu hổ! Thật nhục nhã làm sao nếu vị quan tòa đầu tiên của nước Anh lại là kẻ đứng đầu trong việc từ bỏ các nhiệm vụ của mình.”
Trong khi đó, giữa những vị khách của chúng tôi trong công viên, mọi ý nghĩ về lễ hội đã phai nhạt. Tựa như những con thiêu thân mùa hè bị mưa tạt tán loạn, hội đồng này, dạo trước còn ồn ào và hạnh phúc, nay trong nỗi buồn sầu và những tiếng thì thầm thảm não đã giải tán, lác đác tản mác đi nhanh chóng. Khi mặt trời lặn và màn đêm buông xuống, công viên gần như trống hoác. Adrian và Ryland vẫn đang thảo luận căng thẳng. Chúng tôi đã chuẩn bị một bữa tiệc cho các vị khách ở sảnh dưới của lâu đài; và Idris cùng tôi đã lui về đó để tiếp đón và an ủi số ít những người còn ở lại. Không có gì thảm sải hơn một buổi họp mặt vui vẻ lại biến thành tang tóc: những bộ trang phục dạ hội — những vật trang trí, dẫu có rực rỡ đến thế nào đi nữa, cũng mang một vẻ đẹp trang nghiêm và tang thương. Nếu sự thay đổi đó đã đau đớn từ những nguyên nhân nhẹ nhàng hơn, thì nó lại đè nặng một cách nặng nề đến không thể chịu nổi với nhận thức rằng kẻ tàn phá trái đất cuối cùng cũng đã, tựa như một đại ác ma, nhẹ nhàng vượt qua những ranh giới mà các biện pháp phòng ngừa của chúng ta dựng lên, và ngay lập tức ngự trị vào tận trái tim đang đập rộn ràng của đất nước chúng ta. Idris ngồi ở vị trí chủ tọa trong căn sảnh vắng hoe một nửa. Xanh xao và đẫm lệ, nàng gần như quên mất bổn phận của một người chủ nhà; đôi mắt nàng dán chặt vào các con. Vẻ mặt nghiêm nghị của Alfred cho thấy cậu bé vẫn đang nghiền ngẫm câu chuyện bi thương do thiếu niên Ý kể lại. Evelyn là sinh vật vui tươi duy nhất có mặt: nó ngồi trong lòng Clara; và, tự tìm niềm vui từ những tưởng tượng của chính mình, nó cười lớn. Mái vòm cao lại vang vọng âm thanh trẻ thơ của nó. Người mẹ tội nghiệp, kẻ từng ấp ủ lâu ngày và kìm nén nỗi đau đớn của mình, giờ đây bùng nổ thành tiếng khóc, và ôm gọn đứa con vào lòng, vội vã rời khỏi sảnh. Clara và Alfred đi theo sau. Trong khi phần lớn những vị khách còn lại, trong tiếng thì thầm hỗn loạn ngày càng lớn dần, đã cất lên nỗi sợ hãi muôn hình vạn trạng của mình.
Những người trẻ tuổi vây quanh tôi để xin lời khuyên; và những ai có người thân ở Luân Đôn càng vô cùng lo lắng để xác định quy mô hiện tại của dịch bệnh tại đô thị lớn. Tôi khích lệ họ bằng những suy nghĩ lạc quan xuất hiện trong đầu. Tôi bảo họ rằng số ca tử vong do dịch bệnh gây ra cho đến nay vẫn vô cùng ít ỏi, và thắp lên hy vọng cho họ rằng, vì chúng ta là nơi bị ghé thăm sau cùng, nên thảm họa có lẽ đã suy giảm bớt phần nào sức mạnh độc địa nhất trước khi kịp lan đến đây. Sự sạch sẽ, thói quen ngăn nắp, và kiến trúc xây dựng của các thành phố chúng ta đều đang đứng về phía chúng ta. Vì đây là một bệnh dịch lan truyền, sức mạnh chủ yếu của nó bắt nguồn từ những phẩm chất độc hại trong không khí, và nó có lẽ sẽ ít gây hại hơn ở những nơi có bầu không khí tự nhiên trong lành. Ban đầu, tôi chỉ nói chuyện với những người đứng gần mình nhất; nhưng toàn bộ đám đông đã xúm lại quanh tôi, và tôi nhận ra mình đang được tất cả mọi người lắng nghe. “Hỡi các bạn,” tôi nói, “nguy cơ của chúng ta là chung; những biện pháp phòng ngừa và nỗ lực của chúng ta cũng sẽ phải chung tay. Nếu lòng dũng cảm và sự kháng cự của nam nhi có thể cứu chúng ta, chúng ta sẽ được cứu. Chúng ta sẽ chiến đấu với kẻ thù đến cùng. Bệnh dịch sẽ không tìm thấy ở chúng ta một con mồi dễ dãi; chúng ta sẽ tranh giành từng tấc đất; và bằng những luật lệ ngăn nắp, cứng rắn, chúng ta sẽ dựng lên những bức tường chắn bất khả chiến bại trước bước tiến của kẻ thù. Có lẽ chẳng có nơi nào trên thế giới mà nó vấp phải sự kháng cự có hệ thống và kiên quyết đến thế. Có lẽ không có quốc gia nào được thiên nhiên bảo vệ tốt trước kẻ xâm lược của chúng ta đến vậy; thiên nhiên cũng chưa từng ở đâu được trợ giúp tốt đến thế bởi bàn tay con người. Chúng ta sẽ không tuyệt vọng. Chúng ta không phải là những kẻ hèn nhát hay những tín đồ định mệnh; nhưng với niềm tin rằng Chúa đã đặt những phương tiện để bảo tồn vào trong chính đôi tay chúng ta, chúng ta sẽ tận dụng những phương tiện ấy đến mức tối đa. Hãy ghi nhớ rằng sự sạch sẽ, sự điều độ, và thậm chí cả sự vui vẻ cùng lòng nhân ái, chính là những thứ thuốc tốt nhất của chúng ta.”
Tôi chẳng thể thêm thắt được gì nhiều vào bài diễn thuyết chung này; bởi vì bệnh dịch, dẫu đã có mặt ở Luân Đôn, vẫn chưa hoành hành giữa chúng ta. Do đó, tôi cho phép các vị khách lui bước; và họ ra về trong nỗi trầm ngâm nhiều hơn là buồn bã, để chờ đợi những sự kiện đang chờ đón họ phía trước.
Tôi liền đi tìm Adrian, lòng đầy sốt ruột muốn nghe kết quả cuộc thảo luận của anh với Ryland. Anh đã phần nào chiến thắng; vị Lord Protector đã đồng ý quay lại Luân Đôn trong vài tuần; trong khoảng thời gian đó, mọi việc sẽ được sắp xếp ổn thỏa để giảm bớt sự kinh hoàng do sự ra đi của ông ta gây ra. Adrian và Idris đang ở cùng nhau. Nỗi buồn mà người bạn thân từng có khi lần đầu nghe tin dịch bệnh đã bùng phát ở Luân Đôn nay đã biến mất; nguồn năng lượng từ mục đích sống đã truyền sức mạnh cho thân thể anh, niềm vui trang nghiêm của sự nhiệt huyết và tinh thần tự hiến đã làm bừng sáng khuôn mặt anh; và sự yếu đuối về thể xác dường như đã rời bỏ anh, giống như đám mây phàm trần trong câu chuyện thần thoại cổ xưa đã rời bỏ người tình thần thánh của Semele. Anh đang cố gắng khích lệ người em gái, hướng dẫn nàng nhìn nhận ý định của anh theo một lăng kính ít bi thương hơn so với những gì nàng chuẩn bị sẵn tâm lý; và bằng sự hùng biện đầy cảm xúc, anh bày tỏ những dự định của mình với nàng.
“Hãy để tôi nói ngay từ đầu,” anh nói, “giải tỏa tâm trí em khỏi mọi nỗi sợ hãi về phần tôi. Tôi sẽ không vắt kiệt sức mình vượt quá giới hạn, cũng sẽ không dại dột đi tìm hiểm nguy. Tôi cảm thấy mình biết rõ những gì cần phải làm, và vì sự hiện diện của tôi là cần thiết để hoàn thành các kế hoạch của mình, tôi sẽ đặc biệt cẩn trọng để bảo toàn mạng sống của bản thân.”
“Giờ đây tôi sắp sửa đảm nhận một chức vụ hoàn toàn phù hợp với mình. Tôi không tài nào mưu mô, hay luồn lách qua mê cung những thói hư tật xấu và dục vọng của con người; nhưng tôi có thể mang sự kiên nhẫn, sự đồng cảm, và những sự trợ giúp mà y học đem lại đến bên giường bệnh; tôi có thể vực dậy những đứa trẻ mồ côi khốn khổ từ bùn đất, và khơi dậy những hy vọng mới trong trái tim khép kín của kẻ tang chế. Tôi có thể kìm hãm dịch dịch trong những giới hạn, và đặt ra thời hạn cho sự khốn khổ mà nó có thể gây ra; lòng dũng cảm, sự nhẫn nại và sự cảnh giác chính là những sức mạnh mà tôi mang đến cho công trình vĩ đại này.”
“Ôi, giờ đây tôi sẽ trở thành một con người có ích! Ngay từ khi sinh ra, tôi vẫn luôn khao khát vươn cao tựa loài đại bàng — thế nhưng, không giống như đại bàng, đôi cánh của tôi đã gãy và tầm nhìn đã bị che khuất. Sự thất vọng và bệnh tật bấy lâu nay đã thống trị tôi; sinh ra cùng tôi, ý chí ‘tôi muốn’ của tôi luôn bị trói buộc bởi lời ‘ngươi không được phép’ của những bạo chúa này. Một chú bé chăn cừu dắt đàn cừu ngờ nghệch trên núi cao còn có vị thế hơn tôi trong xã hội. Vậy hãy chúc mừng tôi đi, vì tôi cuối cùng đã tìm thấy một không gian xứng tầm cho năng lực của mình. Tôi từng nhiều lần nghĩ đến việc dâng hiến sức mình cho những thị trấn đang oằn mình vì dịch bệnh ở Pháp và Ý; nhưng nỗi sợ làm tổn thương em, cùng kỳ vọng về thảm họa này, đã kìm chân tôi lại. Tôi xin dâng hiến bản thân cho nước Anh và cho người dân Anh. Nếu tôi có thể cứu lấy một trong những linh hồn vĩ đại của đất nước khỏi mũi tên chết chóc; nếu tôi có thể xua đuổi bệnh dịch khỏi dù chỉ một mái tranh ngập tràn tiếng cười, thì tôi đã không hoài phí một đời sống.”
Thật là một hoài bão kỳ lạ! Thế nhưng Adrian chính là như thế. Anh có vẻ đắm chìm trong trầm mặc, xa lánh những kích động, chỉ là một học giả khiêm nhường, một con người của những ảo ảnh — thế nhưng hễ trao cho anh một sứ mệnh xứng đáng, thì —
Tựa như chim chiền chiện cất cánh lúc ban mai,
Từ mặt đất ủ dột, cất tiếng ca vang cổng trời.[7]
cách ấy, anh đã chồm dậy từ sự uể oải và những tư duy vô bổ, vươn lên đỉnh cao chót vót của hành động cao cả.
Đi cùng anh là sự nhiệt huyết, quyết tâm mãnh liệt, và ánh mắt không một chút chùng lòng khi đối mặt với cái chết. Người ta thường bảo, theo Lord Bacon, kẻ có vợ con chính là đã giao nộp con tin cho số phận. Mọi lý lẽ triết học đều trở thành vô nghĩa — mọi sự kiên cường đều hóa vô ích — mọi niềm tin vào những điều tốt đẹp có lẽ xảy ra đều chỉ là công cốc. Tôi có thể chất chồng lên bàn cân logic, lòng dũng cảm và sự nhẫn nhịn — thế nhưng chỉ cần một nỗi sợ dành cho Idris và các con bước lên bàn cân đối trọng, thì nó sẽ lập tức trĩu nặng và bật ngược lên.
Bệnh dịch đã đến Luân Đôn! Thật ngốc nghếch làm sao khi từ lâu chúng ta đã không lường trước được điều này. Chúng ta từng rơi nước mắt trước sự tàn phá của những lục địa bao la ở phương Đông, và sự điêu tàn của thế giới phương Tây; trong khi lại ảo tưởng rằng eo biển nhỏ bé ngăn cách giữa hòn đảo của chúng ta với phần còn lại của thế giới sẽ giúp chúng ta sống sót giữa chốn hoang tàn. Chắc chẳng phải cú nhảy gì quá lớn từ Calais sang Dover. Mắt người có thể dễ dàng nhận ra vùng đất anh em; chúng từng chung một dải; và con đường nhỏ bé chạy giữa nhìn trên bản đồ chẳng khác nào một lối mòn bước qua đám cỏ cao. Thế nhưng khoảng cách nhỏ hẹp ấy lại được kỳ vọng sẽ cứu chúng ta: biển khơi sẽ trỗi dậy thành một bức tường kim cương — bên ngoài là bệnh dịch và khốn khổ — bên trong là chốn dung thân tránh khỏi hiểm họa, là một góc vườn địa đàng — một hạt bụi cõi tiên mà không tà ác nào xâm nhập nổi — quả thật chúng ta quá đỗi khôn ngoan khi tưởng tượng ra tất cả những điều đó!
Thế nhưng giờ đây chúng ta đã tỉnh giấc. Bệnh dịch đã có mặt ở Luân Đôn; bầu không khí của nước Anh đã bị vấy bẩn, và những người con trai, con gái của xứ sở này đang rải rác khắp mặt đất ô trọc. Và giờ đây, biển khơi, vốn từng là phòng tuyến bảo vệ của chúng ta, nay lại hiện hình thành bức tường ngục tù; bị kìm kẹp bởi những vũng vịnh của nó, chúng ta sẽ chết như những cư dân đói khát của một thị trấn bị vây hãm. Các quốc gia khác còn có sự đồng cam cộng khổ trong cái chết; còn chúng ta, bị cô lập khỏi mọi chòm xóm, sẽ phải tự chôn cất những người đã khuất của chính mình, và một nước Anh nhỏ bé sẽ biến thành một nấm mồ mênh mông, rộng lớn.
Cảm giác về nỗi khốn khổ bao trùm ấy càng trở nên tập trung và rõ hình hài khi tôi nhìn vào vợ và các con mình; và ý nghĩ về hiểm họa rình rập họ đã chiếm trọn tâm can tôi bằng nỗi sợ hãi. Làm sao tôi có thể cứu lấy họ? Tôi đã nghiền ngẫm hàng ngàn lần các kế hoạch. Họ không được phép chết — thà rằng tôi biến thành hư vô trước đã, còn hơn để sự lây nhiễm bén mảng đến những thần tượng của tâm hồn tôi. Tôi thà đi chân trần khắp thế giới để tìm một chốn không bị vấy bẩn; tôi thà dựng nhà trên một mảnh ván trôi dạt bập bềnh giữa đại dương hoang vắng, không bờ bến. Tôi thà cùng họ ẩn náu trong hang của một con mãnh thú, nơi những con non của hổ dữ — mà tôi sẽ tiêu diệt — từng lớn lên khỏe mạnh. Tôi thà tìm đến tổ đại bàng trên đỉnh núi, và sống nhiều năm cheo leo trong một góc khuất hiểm trở nào không bóng người của vách đá sát biển — chẳng có công sức nào là quá lớn, chẳng có kế hoạch nào là quá điên rồ, miễn là nó hứa hẹn sự sống cho họ. Ôi! Những thớ thịt trong tim tôi ơi, các ngươi có thể bị xé toạc ra mà linh hồn tôi không cạn kiệt trong dòng nước mắt đẫm máu vì đau thương hay sao!
Idris, sau cú sốc ban đầu, đã lấy lại được một phần sự kiên cường. Nàng chủ động khép lại mọi viễn cảnh về tương lai, và ấp ủ trái tim mình trong những phúc lành của hiện tại. Nàng không một phút giây nào rời mắt khỏi các con. Nhưng khi chúng quây quần vui đùa quanh nàng với cơ thể khỏe mạnh, nàng vẫn có thể nuôi dưỡng sự mãn nguyện và hy vọng. Một sự bất an kỳ lạ và hoang dại trùm lấy tôi — càng trở nên khó chịu đựng hơn vì tôi buộc phải che giấu nó. Nỗi sợ hãi của tôi dành cho Adrian là vô tận; tháng Tám đã đến; và các triệu chứng của bệnh dịch lan rộng với tốc độ chóng mặt ở Luân Đôn. Nơi đây đã bị bỏ hoang bởi tất cả những ai có khả năng di dời; và anh, người anh em của tâm hồn tôi, lại đang dấn thân vào chốn hiểm nguy mà tất cả mọi người, trừ những kẻ nô lệ bị trói buộc bởi hoàn cảnh, đều tìm cách trốn chạy. Anh ở lại để chiến đấu với ác ma — sườn bên không người bảo vệ, công việc không ai sẻ chia — sự lây nhiễm thậm chí có thể chạm tới anh, và anh sẽ chết trong cô độc chẳng một ai chăm sóc. Ngày cũng như đêm, những suy nghĩ ấy cứ bám riết lấy tôi. Tôi quyết định đến Luân Đôn, để gặp anh; để xoa dịu những cơn quằn quại bứt rứt này bằng liều thuốc ngọt ngào của hy vọng, hoặc thứ thuốc phiện của sự tuyệt vọng.
Phải đến khi đặt chân đến Brentford, tôi mới nhận thấy rõ sự thay đổi lớn trên diện mạo của vùng đất này. Những ngôi nhà khang trang hơn đều đã đóng cửa; hoạt động buôn bán nhộn nhịp của thị trấn bị tê liệt; phảng phất một bầu không khí lo âu trên gương mặt của vài hành khách tôi gặp dọc đường, và họ nhìn chiếc xe ngựa của tôi với ánh mắt kinh ngạc — chiếc xe đầu tiên họ thấy chạy hướng về Luân Đôn kể từ khi dịch bệnh ngự trị trên những nương rẫm cao và chiếm lĩnh những con phố sầm uất của nó. Tôi bắt gặp vài đám tang; chúng có rất ít người đưa tang, và bị những người đứng xem coi là điềm báo vô cùng xấu xa. Vợ chồng nhìn những đoàn người ấy với sự háo hức cuồng nhiệt — kẻ khác thì rụt rè tháo chạy — có người bật khóc lớn.
Nỗ lực lớn nhất của Adrian, bên cạnh việc cứu trợ trực tiếp cho người bệnh, chính là che giấu các triệu chứng và tiến triển của dịch bệnh khỏi những cư dân Luân Đôn. Anh biết rằng sự sợ hãi và những điềm báo u sầu là những thứ trợ lực đắc lực cho căn bệnh; rằng sự chán chường và nỗi lo âu gặm nhấm sẽ khiến thể chất con người trở nên đặc biệt dễ bị lây nhiễm hơn. Do đó, không có những cảnh tượng tang tóc nào lọt vào tầm mắt: các cửa hàng nhìn chung vẫn mở cửa, dòng người qua lại ở mức độ nào đó vẫn được duy trì. Thế nhưng, dẫu cho vẻ bề ngoài của một thị trấn nhiễm bệnh đã được né tránh, thì đối với tôi — kẻ chưa từng chứng kiến nó kể từ khi cơn đại dịch bùng phát — Luân Đôn trông vẫn đã thay đổi quá nhiều. Chẳng còn bóng dáng chiếc xe ngựa nào, và cỏ mọc cao um tùm giữa các con phố; những ngôi nhà mang vẻ hoang tàn; hầu hết các ô cửa chớp đều đóng kín; và phảng phất một ánh mắt đờ đẫn, sợ hãi trên gương mặt của những người tôi gặp, khác hẳn tác phong bận rộn thường ngày của người dân Luân Đôn. Chiếc xe ngựa cô độc của tôi thu hút mọi ánh nhìn khi nó lóc cóc lăn bánh hướng về Cung điện Bảo Hộ — và những con phố thời thượng dẫn đến đó càng mang một vẻ tiêu điều, hoang vắng hơn nữa. Tôi thấy tiền sảnh của Adrian đông nghịt người — đó là giờ tiếp kiến của anh. Tôi không đành lòng làm gián đoạn công việc của anh, bèn đứng đợi, quan sát dòng người ra vào xin tấu trình. Họ bao gồm những người thuộc tầng lớp trung lưu và hạ lưu trong xã hội, những người có kế sinh nhai tiêu tan cùng sự đình trệ của thương mại và tinh thần kiêm tiền bận rộn trên mọi lĩnh vực vốn là đặc trưng của đất nước chúng ta. Phảng phất một vẻ lo âu, đôi khi là kinh hoàng trên gương mặt những kẻ mới đến, đối lập hoàn toàn với vẻ mặt điềm tĩnh, thậm chí mãn nguyện của những người đã hoàn tất buổi tiếp kiến. Tôi có thể đọc được ảnh hưởng từ người bạn của mình qua những bước chân gấp gáp và những khuôn mặt rạng rỡ của họ.
Đồng điểm hai giờ đánh lên, sau thời điểm đó sẽ không ai được vào nữa; những kẻ đến muộn mà thất vọng đành lủi thủi bỏ đi trong hậm hực hoặc buồn rầu, trong khi tôi bước vào phòng tiếp kiến.
Tôi vô cùng kinh ngạc trước sự cải thiện về mặt sức khỏe của Adrian. Anh không còn còng lưng sát đất nữa, giống như một đóa hoa xuân được chăm bón quá kỹ, vươn cao quá sức để rồi bị chính vương miện những cánh hoa của nó kéo trĩu xuống. Đôi mắt anh sáng ngời, khuôn mặt điềm tĩnh, bầu không khí năng lượng tập trung lan tỏa khắp con người anh, khác xa vẻ uể oải trước kia. Anh ngồi bên bàn làm việc cùng vài thư ký, những người đang sắp xếp các đơn từ hoặc ghi chép lại những chú thích trong buổi tiếp kiến ngày hôm đó. Vẫn còn hai ba người thỉnh cầu đang chờ đợi. Tôi vô cùng ngưỡng mộ sự công bằng và kiên nhẫn của anh. Những ai có khả năng rời khỏi Luân Đôn, anh khuyên họ hãy lập tức rời đi, đồng thời cung cấp phương tiện cho họ làm điều đó. Những người khác, có nghề nghiệp mang lại lợi ích cho thành phố hoặc không có nơi nương náu nào khác, được anh truyền đạt những lời khuyên để né tránh dịch bệnh tốt hơn; cứu trợ cho những gia đình đang quá tải, bù đắp những khoảng trống do cái chết để lại ở những gia đình khác. Trật tự, sự thoải mái, và thậm chí cả sức khỏe, trỗi dậy dưới tầm ảnh hưởng của anh, tựa như từ cái chạm của chiếc đũa thần.
“Tôi rất vui vì anh đã đến,” anh nói với tôi khi cuối cùng chúng tôi chỉ còn lại hai người; “Tôi chỉ có thể dành ra vài phút ngắn ngủi và phải kể cho anh nghe rất nhiều điều trong khoảng thời gian đó. Bệnh dịch hiện đang lan rộng — thật vô nghĩa khi cứ nhắm mắt làm ngơ trước thực tế đó — số ca tử vong tăng lên từng tuần. Tôi không thể đoán trước điều gì sẽ xảy ra. Cho đến nay, tạ ơn Chúa, tôi vẫn đủ sức cai quản thị trấn này; và tôi chỉ nhìn vào hiện tại. Ryland, kẻ mà tôi đã giữ chân quá lâu, đã đưa ra điều kiện rằng tôi phải cho phép ông ta rời đi trước khi tháng này kết thúc. Phó quan do nghị viện bổ nhiệm đã chết; do đó phải chọn một người khác thay thế; tôi đã tiến cử tên mình, và tôi tin rằng mình sẽ không có đối thủ. Tối nay vấn đề sẽ được quyết định, vì quốc hội đã triệu tập phiên họp toàn thể cho mục đích đó. Anh phải đề cử tôi, Lionel; Ryland vì sự xấu hổ nên không thể lộ diện; nhưng anh, người bạn của tôi, sẽ làm giúp tôi dịch vụ này chứ?”
Sự tận tụy thật đẹp đẽ biết bao! Nơi đây có một người trẻ tuổi mang dòng dõi hoàng gia, lớn lên trong nhung lụa, theo bản tính vốn xa lánh những cuộc đấu tranh chốn quan trường thông minh, nay giữa thời điểm nguy khốn, vào thời kỳ mà được sống chính là mục đích tối thượng của kẻ tham vọng, chính anh — Adrian anh hùng và đáng yêu — đã dâng hiến một cách đầy giản dị để hy sinh bản thân vì lợi ích công cộng. Bản thân ý tưởng đó đã rất hào hiệp và cao cả — thế nhưng, vượt lên trên điều đó, thái độ khiêm nhường không khoe khoang, sự hoàn toàn thiếu vắng vẻ tự phụ về một đức tính đã khiến hành động của anh trở nên cảm động hơn gấp mười lần. Tôi đã định phản đối thỉnh cầu của anh; nhưng tôi đã tận mắt chứng kiến những điều tốt đẹp mà anh lan tỏa; tôi cảm thấy rằng những quyết định của anh là không thể lay chuyển, thế nên với một trái tim nặng trĩu, tôi đành đồng ý làm theo những gì anh yêu cầu. Anh siết chặt tay tôi đầy trìu mến: — “Cảm ơn anh,” anh nói, “anh đã giải cứu tôi khỏi một tình thế tiến thoái lưỡng nan đầy đau đớn, và vẫn mãi là người bạn tốt nhất của tôi như thuở nào. Tạm biệt — giờ tôi phải rời anh trong vài tiếng. Anh hãy đi và trò chuyện với Ryland đi. Dù ông ta có bỏ trốn khỏi vị trí ở Luân Đôn, thì ông ta vẫn có thể cống hiến những dịch vụ to lớn ở miền Bắc nước Anh bằng cách tiếp đón và hỗ trợ lữ khách, đồng thời góp phần cung cấp lương thực cho thủ đô. Hãy đánh thức ông ta dậy, tôi nài xin anh, để ông ta nhận thức được phần nào bổn phận của mình.”
Adrian rời bỏ tôi, như tôi được biết sau đó, để tiếp tục công việc hằng ngày là thăm nom các bệnh viện và thị sát những khu vực đông đúc ở Luân Đôn. Tôi tìm gặp Ryland và thấy ông ta thay đổi quá nhiều so với lúc đến thăm Windsor. Nỗi sợ hãi thường trực đã làm cho nước da của ông ta ngả màu vàng vọt và làm teo tóp toàn bộ con người ông ta. Tôi kể cho ông ta nghe về công việc diễn ra vào buổi tối, và một nụ cười thoáng hiện làm dãn ra những cơ bắp đang co rút của ông ta. Ông ta bày tỏ mong muốn được đi; mỗi ngày ông ta đều nơm nớp lo sợ bị lây nhiễm dịch bệnh, mỗi ngày ông ta đều không thể chống lại sự giam giữ nhẹ nhàng nhưng kiên quyết của Adrian. Ngay khoảnh khắc Adrian được bầu hợp pháp làm phó quan của ông ta, ông ta sẽ tẩu thoát đến nơi an toàn. Dưới ấn tượng đó, ông ta lắng nghe mọi điều tôi nói; và được nâng bổng gần như thành niềm vui trước triển vọng sắp được rời đi, ông ta bước vào một cuộc thảo luận xoay quanh những kế hoạch mà ông ta sẽ áp dụng tại điền trang của chính mình, tạm thời quên đi quyết tâm ấp ủ bấy lâu là tự giam mình khỏi mọi giao tiếp trong căn biệt thự và khuôn viên điền trang của mình.
Vào buổi tối, Adrian và tôi tiến về Westminster. Trên đường đi, anh nhắc nhở tôi những điều cần nói và cần làm, thế nhưng, thật kỳ lạ làm sao, tôi bước vào phòng họp mà chưa một lần suy ngẫm về mục đích của mình. Adrian ở lại phòng pha chế, trong khi tôi, tuân theo mong muốn của anh, tìm một chỗ ngồi trong phòng họp của St. Stephen. Nơi đây bao trùm một sự im lặng bất thường. Tôi đã không đặt chân tới đây kể từ thời kỳ nhiếp chính của Raymond; một giai đoạn nổi bật với sự tham gia đông đảo của các nghị viên, sự hùng biện của các diễn giả, và sự nồng nhiệt của các cuộc tranh luận. Những chiếc ghế dài hầu như trống trơn, những chiếc ghế vốn dĩ thuộc về các thành viên thế tập đều bỏ trống; chỉ có các nghị viên đại diện cho thành phố — các đại biểu của các thị trấn thương mại, rất ít địa chủ, và không nhiều những kẻ bước chân vào nghị trường chỉ vì muốn theo đuổi hoạn lộ. Chủ đề đầu tiên chiếm lấy sự chú ý của viện là một bản thỉnh nguyện từ Lord Protector, cầu xin họ bổ nhiệm một phó quan trong thời gian ông ta vắng mặt vì những lý do bắt buộc.
Một sự im lặng bao trùm, cho đến khi một trong các nghị viên bước đến chỗ tôi, thì thầm rằng Bá tước xứ Windsor đã nhắn lại rằng tôi phải đứng lên đề cử ông ta đắc cử, trong sự vắng mặt của người đã được chọn cho chức vụ này ban đầu. Giờ đây, lần đầu tiên tôi mới nhận ra toàn bộ quy mô của nhiệm vụ mình đang gánh vác, và tôi choáng ngợp bởi những gì mình tự chuốc lấy. Ryland đã đào nhiệm vị trí của mình vì sợ dịch bệnh: và cũng vì nỗi sợ đó mà Adrian không có đối thủ nào tranh cử. Còn tôi, người họ hàng gần nhất của Bá tước xứ Windsor, lại phải đứng ra đề cử ông ta đắc cử. Tôi sẽ đẩy người bạn được chọn lựa và không gì sánh bằng này vào chốn hiểm nguy — điều đó là không thể! ván bài đã lật ngửa — tôi sẽ tự đứng ra ứng cử.
Vài nghị viên có mặt hôm đó đến đây chủ yếu để kết thúc công việc bằng cách đảm bảo đủ số lượng thành viên hợp pháp, hơn là mang tâm lý tham gia một cuộc tranh luận. Tôi đứng lên theo phản xạ — đôi cứ chân run lẩy bẩy; sự lưỡng lự bủa vây giọng nói của tôi khi tôi thốt lên vài lời về sự cần thiết phải chọn ra một người đủ năng lực cho nhiệm vụ nguy hiểm đang đặt ra trước mắt. Thế nhưng, khi ý tưởng tự xưng ứng cử thay cho người bạn của mình len lỏi vào đầu, gánh nặng của sự hoài nghi và đau đớn bỗng tan biến khỏi tôi. Lời lẽ của tôi tuôn trào một cách tự nhiên — giọng điệu của tôi đanh thép và dứt khoát. Tôi nhắc lại những gì Adrian đã từng làm — tôi hứa hẹn sẽ duy trì sự cảnh giác tương tự trong việc thúc đẩy mọi tầm nhìn của anh. Tôi phác họa một bức tranh đầy cảm động về thể trạng bấp bênh của anh; tôi khoe khoang về sức mạnh của chính mình. Tôi khẩn cầu họ hãy cứu lấy hạt giống của dòng tộc cao quý nhất nước Anh này khỏi chính bản thân anh. Mối quan hệ thông gia của tôi với anh chính là lời cam kết cho sự chân thành của tôi, liên minh của tôi với người em gái của anh, và những đứa con của tôi — những người thừa kế dự khuyết của anh — chính là những con tin bảo chứng cho sự thật của tôi.
Bước ngoặt bất ngờ trong cuộc tranh luận này nhanh chóng được truyền tai đến Adrian. Anh vội vã bước vào và chứng kiến hồi kết của bài diễn văn đầy nhiệt huyết của tôi. Tôi không nhìn thấy anh: tâm hồn tôi đang đặt trọn vào từng lời nói — đôi mắt tôi không tài nào nhận thức được thực tại trước mắt; trong khi một ảo ảnh về bóng dáng của Adrian, bị vấy bẩn bởi bệnh dịch và đang chìm dần trong cái chết, cứ lơ lửng trước mắt tôi. Anh chộp lấy tay tôi ngay khi tôi vừa dứt lời — “Thật nhẫn tâm!” anh kêu lên, “anh đã phản bội em rồi!” — rồi chồm người lao về phía trước, với phong thái của một kẻ có quyền ra lệnh, anh đòi lại chiếc ghế phó quan cho chính mình. Anh đã đổi lấy nó, anh nói thế, bằng hiểm nguy, và trả giá cho nó bằng mồ hôi nước mắt. Hoài bão của anh dừng lại ở đó; và sau một khoảng thời gian cống hiến cho lợi ích của đất nước, lẽ nào tôi lại chen chân vào để hốt trọn thành quả? Hãy nhớ lại xem Luân Đôn trông như thế nào khi anh đặt chân đến: sự hoảng loạn ngự trị đã mang theo nạn đói, trong khi mọi ràng buộc đạo đức và pháp lý đều bị nới lỏng. Anh đã khôi phục lại trật tự — đó là một công việc đòi hỏi sự kiên trì, nhẫn nại và năng lượng; và anh chưa từng ngủ hay thức mà không vì lợi ích của đất nước. — Lẽ nào họ lại dám đối xử bất công với anh như thế? Lẽ nào họ lại tước đoạt phần thưởng nhọc nhằn của anh để ban phát cho một kẻ chưa từng dấn thân vào chốn quan trường, một kẻ tay mơ bước vào nghề mà anh đã là một bậc thầy. Anh đòi hỏi vị trí phó quan như một quyền lợi chính đáng của mình. Ryland đã cho thấy rằng ông ta ưu ái anh. Chưa bao giờ trong đời, một người sinh ra đã mang dòng dõi thừa kế ngai vàng nước Anh, chưa bao giờ anh phải đi xin xỏ bất kỳ ân huệ hay vinh dự nào từ những kẻ giờ đây là đồng đẳng nhưng lẽ ra có thể là thần dân của anh. Lẽ nào họ lại từ chối anh? Lẽ nào họ có thể đẩy lùi khỏi con đường danh vọng và hoài bão cao đẹp người thừa kế của các vị vua đời xưa, để rồi chất chồng thêm một nỗi thất vọng nữa lên một gia tộc đã sa cơ.
Chưa từng có ai trước đó nghe Adrian đả động đến những quyền lợi thuộc về tổ tiên anh. Chưa ai từng nghi ngờ rằng quyền lực hay lá phiếu của số đông lại có thể trở nên đáng giá đối với anh theo bất kỳ cách nào. Anh bắt đầu bài phát biểu của mình bằng sự phẫn nộ mãnh liệt; anh kết thúc nó bằng sự nhún nhường khiêm tốn, đưa ra lời khẩn cầu với sự khiêm nhường hệt như thể anh đang xin được làm kẻ đứng đầu về tài sản, vinh quang và quyền lực trong số những người Anh, chứ không phải, như thực tế phũ phàng, là kẻ đứng đầu trong hàng ngũ của những công việc nhọc nhằn gớm ghiếc và cái chết không thể tránh khỏi. Một tiếng thì thầm tán thành vang lên sau bài phát biểu của anh. “Ôi, xin đừng lắng nghe anh ấy,” tôi kêu lên, “anh ấy nói sai sự thật — sai với chính bản thân mình,” — tôi bị ngắt lời; và khi sự im lặng được lập lại, chúng tôi được lệnh phải lui ra ngoài trong lúc quốc hội tiến hành bỏ phiếu theo phong tục. Tôi tưởng rằng họ đang do dự và vẫn còn chút hy vọng cho tôi — tôi đã lầm — vừa mới bước khỏi phòng họp, Adrian đã được triệu hồi và được sắc phong vào chức vụ Phó vương kiêm đại diện của Lord Protector.
Chúng tôi cùng nhau trở về cung điện. “Này Lionel,” Adrian cất lời, “anh có ý định gì thế? Anh chẳng thể hy vọng chiến thắng nổi đâu, vậy mà anh vẫn nỡ mang lại cho em nỗi đau đớn khi phải chiến thắng chính người bạn thân thiết nhất của mình.”
“Đây là một trò hề,” tôi đáp lời, “cậu tự hiến dâng bản thân mình — cậu, người em trai được Idris yêu quý, là sinh vật trân quý nhất trên đời trong trái tim chúng tôi — cậu tự hiến mình cho một cái chết yểu. Tôi đã muốn ngăn chặn điều này; cái chết của tôi chỉ là một mất mát nhỏ — hoặc đúng hơn là tôi sẽ chẳng chết; trong khi cậu thì chẳng thể hy vọng trốn thoát.”
“Còn về khả năng trốn thoát,” Adrian điềm nhiên nói, “mười năm nữa những vì sao lạnh lẽo rồi cũng sẽ chiếu rọi lên nấm mồ của tất cả chúng ta thôi; nhưng về phần nguy cơ dễ nhiễm bệnh đặc thù của tôi, tôi hoàn toàn có thể chứng minh một cách logic lẫn y học rằng, ngay giữa tâm dịch, tỷ lệ sống sót của tôi còn cao hơn anh.”
“Đây chính là vị trí của tôi: tôi sinh ra là vì điều này — để trị vì nước Anh trong cảnh hỗn loạn, để cứu rỗi đất nước trong cơn hiểm nghèo — để dâng hiến bản thân vì tổ quốc. Dòng máu của tổ tiên đang gào thét trong huyết quản của tôi, thôi thúc tôi phải đứng đầu trong số những đồng bào của mình. Hoặc nếu cách nói này làm anh chướng tai, thì hãy để tôi nói rằng mẹ tôi, vị hoàng hậu kiêu hãnh, đã sớm vun đắp trong tôi tình yêu với danh vọng, cùng tất cả những thứ đó — nếu như sự yếu đuối về thể xác và những quan điểm kỳ lạ của tôi không ngăn cản một dự định như vậy — đã có thể khiến tôi từ lâu tranh đấu cho di sản đã mất của dòng tộc mình. Nhưng giờ đây mẹ tôi, hoặc nếu anh thích, những bài học của mẹ tôi, đang bừng tỉnh bên trong tôi. Tôi không thể lãnh đạo ra trận; tôi không thể thông qua mưu mô và sự bội tín để dựng lại ngai vàng trên đống đổ nát của tinh thần công cộng Anh quốc. Nhưng tôi có thể là kẻ đầu tiên đứng lên hỗ trợ và bảo vệ tổ quốc mình, ngay lúc những thảm họa kinh hoàng và sự điêu tàn đang đặt bàn tay sắt lên đất nước.”
“Đất nước ấy và người chị yêu dấu là tất cả những gì tôi có. Tôi sẽ bảo vệ điều đầu tiên — còn điều sau tôi xin phó thác vào tay anh. Nếu tôi sống sót mà nàng bỏ mạng, thà tôi chết đi còn hơn. Hãy bảo vệ nàng — tôi biết anh sẽ làm thế vì chính bản thân nàng — nếu anh cần thêm bất kỳ sự thúc đẩy nào, hãy nghĩ rằng, khi bảo vệ nàng, anh đang bảo vệ chính tôi. Bản chất hoàn mỹ của nàng, tổng hòa của mọi sự tuyệt vời, đều được gói gọn trong tình cảm của nàng — nếu chúng bị tổn thương, nàng sẽ héo úa như một đóa hoa thiếu nước, và tổn thương nhỏ nhất mà chúng gánh chịu cũng tựa như một đợt sương giá cắt da cắt thịt đối với nàng. Nàng đã bắt đầu lo lắng cho chúng ta rồi. Nàng lo cho những đứa con mà nàng tôn thờ, và cho anh, người cha của những đứa trẻ ấy, người tình, người chồng, người bảo vệ của nàng; và anh phải ở bên cạnh nàng để nâng đỡ và khích lệ nàng. Vậy hãy trở về Windsor đi, người anh em của tôi; bởi anh chính là như thế qua mọi mối liên kết — hãy lấp đầy vị trí kép mà sự vắng mặt của tôi áp đặt lên anh, và hãy để tôi, trong mọi đớn đau ở chốn này, được hướng đôi mắt về chốn thâm sơn cùng cốc thân thương ấy và tự nhủ rằng — Nơi đó có sự bình yên.”
[7] Các bản sonnet của Shakespeare.