Trải qua biết bao gian khổ, một khẩu hỏa súng bằng đồng mới tinh cuối cùng cũng xuất hiện trước mặt Dương Thông.
Khẩu hỏa súng bằng đồng này đã khác biệt rất nhiều so với hỏa súng trước đây. Xét về ngoại quan, hỏa súng kiểu mới trông dày dặn hơn hẳn so với loại cũ, trọng lượng cũng nặng hơn nhiều. Hỏa súng cũ nói trắng ra chỉ là một ống súng làm bằng sắt mỏng cuộn lại, cùng lắm cũng chỉ nặng một hai cân; còn hỏa súng kiểu mới, riêng phần nòng súng phía trước đã hơn một hai cân rồi, tổng trọng lượng lên tới năm sáu cân.
Nói một cách trực quan, hỏa súng cũ cầm trong tay nhẹ bẫng, tựa như cầm một thanh đao gỗ đồ chơi vậy. Còn hỏa súng kiểu mới cầm trong tay lại giống như đang cầm một thanh đao dày dặn, vô cùng có cảm giác chắc chắn.
Vậy, hỏa súng kiểu mới này rốt cuộc có dễ dùng hay không?
Tất nhiên phải thử mới biết được.
Vẫn là thao trường cũ, vẫn là tên lính hỏa súng cũ, vẫn là một đám người vây quanh. Mẫu hỏa súng bằng đồng kiểu mới vừa được chế tạo xong, Dương Thông liền không thể chờ đợi thêm được nữa mà bắt đầu thử nghiệm ngay.
Trong ánh mắt mong chờ của mọi người, tên lính hỏa súng nhanh chóng nạp đạn vào vỏ đạn, rồi thuần thục ấn viên đạn vào trong khóa nòng, sau đó đẩy khóa nòng về phía trước, quá trình nạp đạn thế là hoàn tất.
Ngay sau đó là châm lửa khai hỏa, một tiếng "bạch" vang lên, đạn rời khỏi nòng, trên tấm ván gỗ ở phía xa lập tức truyền đến một tiếng động trầm đục.
Dương Thông tự mình chạy đến trước tấm ván gỗ xem xét, đạn đang găm chặt trên tấm ván, quả có thể nói là nhập mộc tam phân.
Điều này có nghĩa là hỏa súng kiểu mới đã chế thử thành công, ít nhất về sát thương lực thì đã tương đương với hỏa súng cũ, còn tốc độ nạp đạn thì hỏa súng cũ hoàn toàn không thể sánh bằng.
Tiếp đó, Dương Thông lại lệnh cho tên lính hỏa súng thử thêm vài phát nữa, hiệu quả vô cùng tốt, chỉ là nòng súng hơi nóng lên một chút, tình trạng nổ nòng hoàn toàn không hề xuất hiện.
Đến lúc này, trên mặt Dương Thông cuối cùng cũng lộ ra nụ cười.
Đừng xem thường tốc độ nạp đạn này, phải biết rằng hỏa súng cũ khi đối mặt với kỵ binh nhiều nhất cũng chỉ có thể bắn được một phát, còn hỏa súng hiện tại, chỉ cần phối hợp với đủ vỏ đạn, kỵ binh cứ tiến tới khoảng năm mươi bước là có thể bắn một phát.
Nghĩa là, một khẩu hỏa súng kiểu mới trong một trận tao ngộ chiến ít nhất có thể bắn ra ba viên đạn, một vạn người chính là ba vạn viên. Nếu thêm cả Hỏa Long chiến xa, Oanh Thiên Lôi, thủ nỗ và hỏa pháo, một vạn tinh nhuệ biên quân trang bị đầy đủ hoàn toàn có thể ngăn chặn sự tấn công của năm vạn kỵ binh Thát Đát.
Đây vẫn là ở ngoài dã ngoại, nếu như quân địch công thành, thì chẳng khác nào là tấm bia cho lính hỏa súng tập bắn, một vạn tinh nhuệ biên quân ngăn chặn mười vạn quân Thát Đát tấn công cũng không thành vấn đề.
Việc chế thử hỏa súng kiểu mới cuối cùng đã thành công, tiếp theo chính là khai thác mỏ đồng, chế tạo các loại công cụ sản xuất và thiết bị để tiến hành sản xuất hàng loạt. Tuy nhiên, còn một vấn đề quan trọng nữa, đó là chờ đợi quan giám sát mỏ do Gia Tĩnh phái tới.
Quan giám sát mỏ Gia Tĩnh phái tới nếu không đến, mỏ đồng này không thể khai thác, sản xuất hàng loạt hỏa súng kiểu mới đương nhiên là chuyện không thể.
Cũng may, Gia Tĩnh không để Dương Thông phải chờ đợi quá lâu. Hỏa súng kiểu mới vừa thử nghiệm xong, ngày hôm sau phía Cư Dung quan đã truyền tin tới, quan giám sát mỏ do trong cung phái tới đã tiến vào trong cảnh nội Tuyên Phủ trấn.
Vị quan giám sát mỏ này rốt cuộc là ai, không lẽ lại là tâm phúc của Trần Hồng chứ?
Dương Thông mang tâm trạng thấp thỏm chờ đợi thêm một ngày nữa, sáng ngày thứ ba, đội ngũ hộ tống quan giám sát mỏ cuối cùng đã tới.
Những tên giám sát mỏ này tuy phần lớn không ra gì, nhưng Dương Thông cũng không dám làm mất mặt họ, dù sao nếu họ không phối hợp thì việc khai thác mỏ sẽ gặp rắc rối. Chàng vẫn như lần trước, dẫn theo văn thần võ tướng dưới quyền ra ngoài thành nghênh đón.
Đội ngũ hộ tống lần này xem chừng không được hùng tráng như lần trước, đội ngũ lưa thưa trông nhiều nhất cũng chỉ có hơn trăm người. Có lẽ là do Dương Thông đã đại thắng kỵ binh Thát Đát, triều đình cho rằng Tuyên Phủ trấn coi như khá an toàn; hoặc có lẽ tên thái giám này không "ngầu" bằng Lý Phương và Mạnh Xung nên số người hộ tống ít hơn. Tóm lại, đội ngũ hộ tống lần này hoàn toàn không thể so sánh với lần trước.
Dương Thông cũng không để tâm đến những chuyện này. Sau khi hai bên gặp nhau, chàng chủ động thúc ngựa tiến lên, hạ thấp tư thế, chờ đợi trước xe ngựa, chỉ hy vọng tên thái giám này đừng đối đầu với mình là được.
Không ngờ, chàng vừa dừng chiến mã, mành kiệu đã vén lên, một thái giám vẻ mặt non nớt nhanh nhẹn nhảy từ trên xe ngựa xuống, chạy đến trước mặt chàng, chắp tay hành lễ nói: "Hạ quan Phùng Bảo, bái kiến Tuần phủ đại nhân, làm phiền Tuần phủ đại nhân đích thân nghênh đón, hạ quan thực sự hoảng sợ."
Hạ quan?
Phùng Bảo!
Quản sự thái giám cũng tính là một chức quan đi. Tuy nhiên, thái giám bình thường không bàn về quan giai với người khác, vì quan giai của thái giám quá thấp. Ngay cả Chưởng ấn thái giám của Nhị thập tứ giám trong cung, tức cái gọi là Đại thái giám, quan giai thực tế cũng chỉ là chính ngũ phẩm, căn bản không thể so sánh với văn quan. Quản sự thái giám ra ngoài làm giám sát mỏ nhiều nhất cũng chỉ là thất phẩm, thậm chí bát phẩm, cửu phẩm đều có thể, cho nên thái giám bình thường sẽ không bàn về quan giai với người ta.
Lúc này, điều Dương Thông để ý lại không phải là quan giai của tên thái giám này, mà là tên của hắn.
Phùng Bảo, đó chính là đại thái giám lưu danh sử xanh. Hơn nữa, ông ta không giống như những thái giám bình thường để lại tiếng ác, ông ta lưu lại tiếng hiền. Vì ông ta và Trương Cư Chính liên thủ cải cách, tạo nên cục diện Vạn Lịch trung hưng, cho nên trong lịch sử thường gọi ông ta là một đời hiền hoạn.
Không ngờ, lần này người Gia Tĩnh phái tới lại là một nhân tài như vậy.
Lúc này vị nhân tài này tuổi tác xem chừng không lớn lắm, nhìn dáng vẻ hình như chưa đầy hai mươi thì phải.
Dương Thông khẽ đánh giá một phen, lúc này mới nhảy xuống ngựa, nắm lấy cánh tay Phùng Bảo, đỡ ông ta dậy, rồi niềm nở nói: "Phùng công công khách khí rồi, ông là Khâm sai do Hoàng thượng phái tới, hạ quan với chả không hạ quan gì chứ, bản quan không dám nhận đâu."
Choáng váng, vị Tuần phủ đại nhân này có ý gì vậy?
Không chỉ Phùng Bảo đầy mặt ngơ ngác, mà ngay cả văn thần võ tướng đi theo phía sau cũng sững sờ.
Thời buổi này, mọi người tuy ngoài mặt không nói, nhưng trong lòng đều hiểu rõ. Văn quan và thái giám phần lớn đều không ưa nhau, vì Hoàng thượng muốn lợi dụng những thái giám này để kiềm chế văn quan. Hai bên có thể giữ thái độ hòa nhã ngoài mặt đã là tốt rồi, thân thiết như vậy là có ý gì?
Phùng Bảo sững sờ một chút, lúc này mới cung kính nói: "Đại nhân khách khí rồi, hạ quan chỉ là một quản sự nhỏ trong cung, ra ngoài giám sát mỏ cũng chỉ là việc bình thường, sao dám mạo nhận danh xưng Khâm sai."
Gã này được đấy, ít nhất không giống những thái giám khác vênh váo tự đắc bày đặt làm cao. Xem ra, cái danh "hiền hoạn" của ông ta cũng không phải tự nhiên mà có, ít nhất về mặt đối nhân xử thế thì hơn hẳn những thái giám khác.
Dương Thông vốn đã muốn lôi kéo vị nhân tài nổi danh trong lịch sử này, lúc này sự thể hiện của Phùng Bảo càng khiến chàng thấy trong lòng dễ chịu. Chàng không khỏi mỉm cười nói: "Được thôi, ông và ta đừng khách sáo nữa, mời Phùng công công lên xe, đợi đến nơi chúng ta sẽ trò chuyện kỹ hơn."
Phùng Bảo đảo mắt một vòng, lập tức hiểu ra, giữa chốn đông người xem ra không tiện nói chuyện.
Ông ta vội vàng chắp tay nói: "Được, được, mời đại nhân lên ngựa, chúng ta đến nơi rồi trò chuyện tiếp."
Dứt lời, ông ta lại xoay người bước nhanh trở lại, thoăn thoắt bước lên xe ngựa.
Chẳng bao lâu sau, đoàn người liền đến khu sân vườn trước kia Mạnh Xung từng ở. Lúc này Mạnh Xung đã được triệu hồi về cung, nơi này tự nhiên lại bỏ trống.
Dương Thông vốn định quay về lấy số bạc đã chuẩn bị sẵn, rồi mới tới trò chuyện với tân giám sát mỏ. Nhưng vừa thấy giám sát mỏ là Phùng Bảo, chàng lại đổi ý.
Chàng dứt khoát gọi hai anh em Lý Kiến Giang và Lý Kiến Lâm tới, ghé tai dặn dò vài câu, lệnh cho họ về phủ lấy bạc tới, còn bản thân mình thì đích thân đưa Phùng Bảo cùng đoàn người vào trong sân.