Dưới chân cầu thang, ông đứng đợi và lắng nghe, tưởng rằng vừa nghe thấy tiếng cô gọi mình từ phía hành lang trên cao khuất tầm nhìn—nơi mà ông đã cho phép cô tự do đi lại, và quả thực, ngay khi cô bước lên, âm thanh thể hiện sự thích thú của cô đã vọng xuống qua những bước chân vội vã, tiếng chạy nhảy lao xao cùng những tiếng kêu vui nhộn, đáng yêu vang dội khắp tòa nhà. Sau đó, với vẻ đầy mong đợi và bồn chồn, ông đã ra tận cửa chính để ngó thêm một lần nữa, rồi lại bứt rứt quay trở lại sảnh, nơi giọng nói ấy lại bắt gặp ông. Đã từ lâu lắm rồi, những căn phòng trống trải này mới lại vang lên một giọng nói như thế, và có lẽ trong suốt bao nhiêu năm qua, đối với tội nghiệp lão Chivers, chưa từng có một âm thanh nào cất lên lại thân thiện và phóng khoáng đến vậy.
“Ồ, không đâu thưa bà, chưa có ai đến cả đâu ạ. Mọi chuyện hoàn toàn ổn thưa bà—bà cứ tự nhiên như ở nhà!” Nếu ông để mặc cô tự do khám phá, thì dáng vẻ dè dặt, tằn tiện đến tội nghiệp của ông dường như đang muốn nói rằng: nào có phải vì chút lợi lộc cỏn con gì đâu cơ chứ? Ông rời chân khỏi bậc thang, nhưng rồi lại khựng lại, đưa tay lên áp vào tai khi nghe thấy cô lần nữa cất tiếng gọi mình. “Rất nhiều những bậc... tuyệt đẹp ư? Tuyệt đẹp cái gì cơ thưa bà? Những khúc lên xuống nhỏ xinh á?” Lão ngập ngừng hướng lên phía trên. “Ồ, đúng như bà nói thưa bà: nhiều chẳng kém gì những thăng trầm trong cuộc đời của một kẻ cơ hàn!” Cô rõ ràng có vẻ muốn tiếp tục trò chuyện trong lúc hân hoan rảo bước từ góc này sang góc khác, và với cái tai thính hơn cùng bàn khum khum áp bên tai, ông tiếp tục chăm chú lắng nghe. “'Những bậc thềm cong thân thương' ư? Vâng thưa bà; xin hãy cẩn thận với chúng, thưa bà: chúng thật hiểm hắc trong những góc tối!” Lão có vẻ như lại nghe thấy tiếng cô lướt đi nhẹ nhàng, dấu hiệu của một phát hiện mới mẻ và một sự hưởng ứng tươi vui; khiến tim lão cảm thấy ấm áp trước lòng tin dành cho cô—điều mà suy cho cùng có lẽ hơi liều lĩnh. Một lần nữa giọng nói của cô lại vọng đến và một lần nữa lão lại ê a đáp lời. “Cả lên trên đó nữa á? Không dám phiền bà đâu ạ—tôi phải túc trực ở chỗ có thể trông chừng chiếc chuông. Nó đòi hỏi phải vừa canh chừng vừa lắng nghe đấy ạ!”—lão vừa lầm bầm với sự kiên nhẫn cao độ vừa quay lại với vòng tuần tra quen thuộc của mình.
Khoảnh khắc tiếp theo, lời lầm bầm ấy bị át đi bởi tiếng kêu khàn khàn của chính chiếc chuông báo khách, thứ dường như cũng đang thổ lộ về tình trạng hụt hơi và những khớp nối cọt kẹt của mình. Dù vậy, nó vẫn chuyển động rõ mồn một, và sự chuyển động ấy khiến lão giật mình thon thót, cứ như thể lão vừa phạm tội ngủ gật khi đang làm nhiệm vụ chứ không phải đã phải đợi ở đây cả nửa ngày trời. “Chúa ơi, lỡ mà tôi không canh chừng thì...” Lão lê bước băng qua căn sảnh rộng lát đá, và khuất dạng dưới vòm cửa lớn của lối đi ngắn dẫn ra mặt tiền, vội vã đi mở cửa cho vị khách mới. Qua đó, tác giả cho chúng ta mượn khoảnh khắc vắng mặt ngắn ngủi của lão để ngắm nhìn lại khung cảnh mà lão vừa rời bỏ.
Đây là sảnh chính của một ngôi nhà đồng quê kiểu Anh cổ kính: cao và vuông vắn, mang sắc nâu và xám, được lát đá ở bên dưới và lợp gỗ ở bên trên, một không gian mà chỉ cần liếc nhìn một lần là đủ cảm nhận được sự tiếp nối lâu đời và đầy may mắn. Thật khó lòng tìm thấy ở bất kỳ nơi nào khác một thứ vừa cổ kính lại vừa thực tế đến thế, một thứ đã đi qua một chặng đường dài mà chưa từng có khoảnh khắc nào trong hành trình vô tận ấy bị lạc lối. Đứng đó và ngắm nhìn xung quanh, người ta không khỏi tự hỏi—dù chẳng tìm được câu trả lời—rằng nơi đây đã bị bỏ bê nhiều hơn hay được nâng niu nhiều hơn; ẩn chứa trong sự trường tồn lâu năm ấy là một nỗi nhẫn nhục khôn cùng nhưng đồng thời cũng toát lên vẻ kiêu hãnh ngời ngời từ lớp gỗ được đánh bóng kỹ lưỡng. Nếu nó chưa từng bị tàn phá, thì một phần chắc chắn là vì nó đã bị bỏ phế suốt cả thế kỷ; nhưng xét cho cùng, thứ mà nó bị phế bỏ lại chính là nếp sống bình dị và quen thuộc. Vào thời điểm này, nơi đây quả thực phảng phất nhiều nét lạnh lẽo của những vận mệnh đã suy tàn; nhưng trong sự khiêm nhường ấy không hề có sự nhượng bộ, và trong lời chào đón ấy chẳng hề vương chút giả dối. Nó vừa nguy nga vừa tơi tả, và ánh mắt của hàng tá bức chân dung cổ kính sẫm màu dường như đang, với sự chú tâm vĩnh cửu của mình, đếm từng vết nứt trên sàn nhà, từng chỗ rách trên đệm ghế, và những mảnh màu còn thiếu của tấm thảm thêu Flemish. Phía trên tấm thảm thêu—vốn nằm phía trên bức ốp tường bằng gỗ sồi cao—hầu hết những bức họa cứng nhắc ấy được treo ở bức tường chính mà chúng ngự trị; và chúng ngẩng cao đầu để đoan chắc với tất cả những ai ghé đến rằng chỉ thiếu thốn đôi chút sắc màu mà thôi, và rằng trong những buổi bình minh mùa đông lạnh giá, chúng chưa từng phải tỉnh giấc trước bất kỳ ánh chớp mất mát nào, trong đêm dài dằng dặc, của bất kỳ di vật hay nét kiến trúc nào. Dù thế nào đi nữa, toàn bộ hội đồng ấy vẫn tề tựu đông đủ; từng thốn gỗ sồi cổ, từng thước thảm trải tường cổ, từng món đồ trang trí hay vật dụng mà các bề mặt ấy làm nên một phông nền vô cùng quý giá. Nếu những người canh gác trên tường từng tìm thấy một khoảng trống nào trong hàng ngũ của mình, thì chắc chắn mái nhà cổ kính đã phải rung chuyển vì tiếng thở dốc đồng thanh của họ. Thực tế là nó vẫn vô cùng vững chãi và giàu có—nó mang phẩm giá gần như vòm mái của một ngôi nhà thờ.
Vào một buổi chiều thứ Bảy tháng Tám, trời nóng và tĩnh lặng, những ô cửa sổ với lớp kính đổi màu được mở rộng ở một hướng ra sân hiên nhìn xuống công viên, và ở hướng khác nhìn ra một khoảng sân cổ kính trống không tuyệt đẹp vốn thông với một khu vườn cổ kính trống không tuyệt đẹp khác. Cầu thang rộng và thẳng, dẫn thẳng lên một chiếu nghỉ ở lưng chừng; và bên phải, khi bạn đối diện với chiếc cầu thang này, một cánh cửa mở từ mảng ốp tường màu nâu hé lộ phòng khách buổi sáng nhỏ nhắn, nơi trong ánh vàng xiên chiếu, sắc nâu cũng hòa quyện cùng những nốt màu vàng cổ xưa. Phía bên trái, hướng về phía sân trong và khu vườn, một cánh cửa khác mở rộng đón không khí ấm áp. Vẫn ở tư thế đối diện với cầu thang, bên phải bạn—nằm giữa công trình kiến trúc đó và phòng khách buổi sáng—là vòm cửa mà lão Chivers vừa biến mất sau đó.
Sự xuất hiện trở lại của lão ngắt quãng nhưng đồng thời, theo một cách nào đó, lại làm gia tăng ấn tượng sâu sắc của chúng ta; sự hiện diện của lão Chivers ngay tại đây, trong bối cảnh trang nghiêm nhưng rộng rãi này, chính là hình ảnh hoàn hảo của đời sống gia nhân từ ngàn xưa. Có lẽ sẽ thật bất khả thi nếu muốn đoán định tuổi tác hay gọi tên công việc cụ thể của lão: lão mang tuổi đời của tất cả lịch sử ẩn giấu trong mọi ngóc ngách và mang bất kỳ công dụng nào mà bạn có thể rủ lòng thương để giao cho lão. Đã còng lưng đi và bạc phơ đầu tóc, lão luôn gật gù cái đầu trắng hiền hậu như một sự đồng tình vĩnh cửu và liên tục có những cử động giật giật ở đôi bàn tay già nua lười biếng giờ đây gần như bị che khuất bởi ống tay áo của chiếc áo đuôi tôm màu đen—thứ mà cách đây hai mươi năm hẳn phải là món đồ mới mẻ nhất trong nhà suốt một hoặc hai thế kỷ, và tuổi tác của lão dường như đã lẩn khuất vào đó hệt như một gia đình sa sút dọn vào sống ở một góc ngôi nhà cũ của họ. Trang phục ấy được hoàn thiện bằng chiếc cà vạt trắng mà để tôn vinh ngày hôm nay, chính tay lão đã tự thắt lấy vào sáng nay. Sự khiêm nhường mà lão bộc lộ và vẻ kỳ cục mà lão che giấu đều được tôn lên rõ rệt khi đặt cạnh vị quý ông mà lão vừa đón vào.
Đón tiếp ông Prodmore dù ở bất cứ đâu và vào bất cứ lúc nào, như bạn có thể nhận ra ngay lập tức, là một việc đầy trọng đại. Ông là một nhân vật có phong thái uy nghi và bề thế, với khuôn mặt lớn nhẵn nhụi, trên đó nổi bật một nét biểu cảm nhỏ sắc bén được cắm lên hệt như một chiếc đinh ghim đơn độc trên chiếc gối cắm kim màu đỏ thẫm ở phòng khách. Ông mặc một chiếc áo khoác chùng màu xanh sẫm, mặc áo lê-gê trắng cứng cùng chiếc mũ phớt trắng cao vành mà ông vẫn giữ nguyên trên đầu với một dáng vẻ nghênh ngang đầy thách thức, trong khi trên khuy áo cài một nhành cây quý hiếm mà thỉnh thoảng ông lại hạ ánh mắt mang quyền sở hữu xuống nhìn, như muốn nhắc nhở nó rằng nó sinh ra là để dành cho chốn công cộng. Vẻ bề ngoài của ông Prodmore rõ ràng đã được tính toán kỹ lưỡng, nhưng bạn có thể sẽ có ấn tượng rằng những bức chân dung cổ kính đang nhìn ông với ánh mắt nghiêm khắc hơn, thậm chí với một sự chăm chú đến mức một vị khách nhạy cảm hơn hẳn sẽ nhận ra sự ý thức của ông ta khi cứ hiên ngang, vô phép che đầu ngay trước mặt chúng. Ông chẳng thèm liếc nhìn chúng lấy một cái, và chỉ sau một phút, người ta dễ dàng nhận ra đây là câu chuyện cũ rích giữa họ với nhau. Thái độ của chúng, có thể nói như vậy, làm tăng rõ rệt sự lạnh nhạt. Sự lạnh nhạt ấy biến thành một thái độ vô cùng nghiêm ngặt khi ông Prodmore ngay từ ngưỡng cửa đã vấp phải một sự thất vọng.
“Không có ai ở đây à?”—ông phẫn nộ hỏi.
“Thưa ông, tôi rất tiếc phải báo rằng chưa có ai đến cả,” Chivers đáp; “nhưng tôi đã nhận được một bức điện tín từ Đại úy Yule.”
Sự lo lắng của ông Prodmore bùng lên. “Không lẽ nó bảo nó không đến à?”
“Cậu ấy dự định bắt chuyến tàu 2:20 từ ga Paddington; chắc chắn cậu ấy phải đến đây rồi!” Lão già nói cứ như thể việc vị khách không đến là điều khó hiểu nhất trên đời, đặc biệt đối với một kẻ vốn luôn kính trọng sự huyền bí của nguyên nhân sự việc.
“Lẽ ra nó phải có mặt ở đây từ hơn một tiếng trước rồi. Và con gái rượu trốn nhà đi của tôi cũng thế!”
Chivers bao bọc lời miêu tả cô Prodmore ấy bằng sự kín đáo sâu sắc của sự im lặng, rồi một lát sau, rõ ràng lão nhận ra rằng sự im lặng trong một thế giới ngập tràn cạm bẫy đối với sự thiếu tôn trọng có thể cũng liều lĩnh chẳng kém gì lời ăn tiếng nói. “Họ... a... có đi cùng nhau không thưa ông?”
Lão vừa gỡ rối xong thì vị khách lại ngước nhìn với vẻ ngơ ngác khó hiểu. “Cùng nhau ư?—anh nghĩ tiểu thư Prodmore là hạng người gì hả?” Bậc phụ huynh của cô thiếu nữ lại trừng mắt nhìn xung quanh như thể muốn bắt bẻ một thứ gì đó không đúng chỗ; nhưng những thiện ý thể hiện qua tư thế của mọi đồ vật xung quanh chẳng mấy chốc đã làm dịu đi sự bực bội của ông. Dù sao thì điều đó cũng có tác dụng khỏa lấp một vài khoảng trống đối với tội nghiệp lão Chivers. “Theo một khía cạnh nào đó thì việc họ ‘đến cùng nhau’, như anh gọi, chính xác là điều tôi đã lên kế hoạch cho ngày hôm nay: tính toán của tôi là tất cả chúng ta sẽ cùng tề tựu đúng giờ tại địa điểm này. Được tháp tùng bởi người hầu gái trung thành, tiểu thư Prodmore—vốn đang có chuyến thăm kéo dài một tuần với bà ngoại ở Bellborough—lẽ ra phải bắt chuyến tàu 1:40 từ nơi đó. Còn tôi sẽ lái xe vượt qua quãng đường mười dặm từ dinh thự thuận tiện nhất của mình. Đại úy Yule”—người đàn ông kết thúc lời tuyên bố của mình tựa như việc thêm những nét cọ cuối cùng vào một kiệt tác do chính ông phác thảo—“cuối cùng cũng sẽ rũ bỏ được vài giờ đồng hồ bận rộn với những công việc riêng tư của cậu ta.”
Lão già lắng nghe với cái đầu nghiêng sang một bên để thuận tai hơn, nhưng ánh mắt quan tâm của lão lại dán chặt vào một vết bẩn đáng thương trên một trong nửa tá tấm thảm đã sờn. “Hẳn là chúng phải bận lắm thưa ông, khi một quý ông được thừa kế gia sản thế này mà ròng rã ba tháng trời không mảy may có lấy một sự tò mò tự nhiên...” Tôi không nói gì ngoài những điều rất tự nhiên thưa ông; nhưng đã có những người đến đây...”
“Đã có rất nhiều người đến đây!” ông Prodmore tự đắc ngắt lời.
“Như ông nói đấy ạ—để tham quan. Trong khi chính người chủ nhà lại chưa từng được diện kiến!” Chivers ảm đạm nhận xét.
“Cậu ta sẽ xuất hiện, để không ai có thể bỏ lỡ cậu ta!” Ông Prodmore vội vã đáp lời, phần cũng để tự trấn an mình.
Người đồng hành với ông rụt rè đưa ra một lời giải thích nhỏ. “Được tận mắt chiêm ngưỡng cậu ấy quả là một diễm phúc lớn; ý tôi là cậu ấy vẫn chưa được dẫn đi tham quan nhà cửa.”
“Đó cũng là điều tôi muốn nói. Tôi sẽ dẫn cậu ta—đi vòng quanh hết nơi này đến nơi khác: đó chính xác là lý do tôi đến đây!” Ông Prodmore lớn giọng; và đôi mắt ông lại đảo một vòng nhìn xuống thấp, trông có vẻ mãn nguyện hết mức có thể đối với một đôi mắt mà chưa có ai đủ tầm để làm cho khiếp sợ hay thích thú. “Cậu ta không thể không xúc động, dẫu cho cậu ta đã ngập cổ trong một tầng lớp xã hội khác hẳn đi chăng nữa.”
Chivers rõ ràng thắc mắc một lúc không biết đó có thể là tầng lớp xã hội nào. Rồi lão bày tỏ một nỗi niềm rụt rè. “Chắc chắn là chẳng có gì ngoài những điều đúng đắn phải không thưa ông...?”
“Trong tất cả mọi thứ,” ông Prodmore dõng dạc thông báo cho lão, “đều sai trái cả! Nhưng cậu ta tới rồi kìa!” người đàn ông ấy phấn khởi nói thêm khi chuông cửa lại reo lên. Chivers, trước sự bấn loạn kép giữa tiếng chuông và lời tiết lộ, liền bước ra cửa trước nhanh nhất có thể theo mức độ cho phép của hoàn cảnh; trong khi ông Prodmore, bị bỏ lại một mình, hẳn sẽ được nhìn thấy—nếu như sự cô độc của ông không quá ảm đạm—đang lấy lại được một phần tinh thần vui vẻ. Sự vui vẻ khi cô độc ở Covering End quả thực chẳng có gì là không thể cưỡng lại, nhưng những cảm xúc và lý do đặc biệt đã chọn chiếc áo lê-gê trắng bệ vệ nhưng giờ đây có phần nhàu nhĩ của ông làm căn cứ cho chiến dịch của mình. Nếu chúng phát ra tiếng động từ cái ‘căn cứ’ ấy, chúng hẳn đã biểu thị cho chúng ta thấy sự nhận thức của ông về sự viện trợ mà ông có thể huy động cho cuộc tấn công trong trường hợp Đại úy Yule thực sự kháng cự lại ngôi nhà. Âm thanh mà ông nghe được tiếp theo từ cửa trước tuy nhiên cũng chẳng khiến ông bớt đi chút thất vọng nào khi thốt lên một câu cụt ngủn. “Chỉ là Cora thôi ư?—Thêm vào đó,” ông nói thêm với một giọng điệu có phần mâu thuẫn với từ “chỉ là”, “dù thế nào đi nữa, cậu ta cũng không được phép kháng cự con bé!” Tuyên bố này hẳn đã làm gia tăng sự quan tâm của người chứng kiến đối với cô gái trẻ mà Chivers lúc này đang dẫn vào và đi theo sau, một cô gái trẻ ngay lập tức thấy mình trở thành đối tượng của những khuôn phép gia giáo truyền thống. “Ta đã phải chờ đợi. Ý con là sao chứ?”
Cora Prodmore, người có đôi má ửng hồng rực rỡ và trên người diện những bộ cánh mới đầy chói lóa với đủ mọi sắc màu táo bạo, xét cho cùng, rất dễ nhận thấy là chẳng có suy nghĩ gì sâu xa, và đối mặt với lời trách vấn này lại càng tỏ ra ít sự hậu thuẫn hơn, dù là từ những nguồn mà tôi đã đề cập hay từ bất kỳ nguồn nào khác. Là một thiếu niên đôi mươi tẻ nhạt, tươi tắn, phác thảo quá mức và diện đồ quá đà, cô thở hổn hển, bấn loạn và sợ hãi đến mức chẳng làm gì hơn ngoài việc lắp bắp: “Đợi con ư, thưa bố? Ôi, con xin lỗi!”
Sự hối hận của cô có vẻ càng khiến người cha coi đó là một sự xấc láo hơn là một trò làm màu. “Thế nếu ta không đủ kiên nhẫn để đợi con, chẳng lẽ con lại muốn không tìm thấy ta chắc? Sao mà cái quái gì mà con đến muộn thế hả?”
Bấn loạn và lúng túng, cô gái đâm ra cạn lời. “Con sẽ giải thích với bố sau!” Nhưng cô tiếp nối lời hứa hẹn của mình với một vẻ mặt đờ đẫn rồi ngã người xuống chiếc ghế gần nhất, buông thõng hai mắt phó mặc cho số phận. Nếu cô đang khao khát được giải thoát, thì cô đã chớp lấy đúng con đường duy nhất để đạt được điều đó. “Con thấy hơi xỉu. Con xin miếng trà được không ạ?”
Ông Prodmore cân nhắc cả ý tưởng đó lẫn vóc dáng đầy đặn của cô con gái. “Được rồi, vì ta sẽ trông chờ con phải dốc hết mọi khả năng của mình—được chứ!” Ông quay sang phía Chivers. “Mang trà lên đây.”
Đôi mắt của lão già dán chặt vào những triệu chứng của tiểu thư Prodmore với vẻ lo lắng hơn cả vị phụ huynh của cô. “Tôi đã nghĩ là có thể cô chủ sẽ cần đến đấy ạ!” Rồi khi lão bước tới cửa phòng khách buổi sáng: “Tôi sẽ dọn trà ở trong này.”
Cô thiếu nữ, sau khi lão lui đi, đã kịp lấy lại bình tĩnh để đứng lên lần nữa. “Tại chuyến tàu của con đấy thưa bố—nó chậm giờ khủng khiếp. Con cũng đi bộ từ ga lên đấy bố ạ—có một lối đi nhỏ tuyệt đẹp băng qua công viên.”
“Thế ra con đã lang thang một mình khắp vùng quê đó ư?” Ông Prodmore hỏi dồn.
Cô gái lập tức phản đối ngay tắp lự trước một bức tranh tượng hình như vậy. “Ôi, trời ạ, không, con không đi một mình đâu!” Cô nói một cách ngớ ngẩn, cứ như thể mình có cả một đoàn hầu cận tháp tùng; nhưng phải mất một lúc cô mới có thể hoàn thành lời đoan chắc. “Có rất nhiều người ở quanh đó cơ mà.”
“Chẳng có gì khả dĩ hơn việc có quá nhiều người ở đó cả!” bố cô nói, phát biểu xét trên phương diện tiện ích cá nhân, nhưng coi đó là lý do quá đủ. “Nhưng giữa tất cả bọn họ,” ông gặng hỏi, “người hầu gái trung thành của con đâu rồi?”
Câu trả lời của Cora bù đắp cho sự thiếu sót về độ khéo léo bằng sự nhanh nhảu. “Con không đưa cô ấy theo.” Cô nhìn vào những bức chân dung cổ kính như muốn cầu cứu chúng giúp mình nhớ lại lý do vì sao. Quả nhiên chúng dường như ra dấu, vì chẳng mấy chốc cô lại tiếp tục: “Cô ấy bị ốm nặng lắm ạ.”
Ông Prodmore đón nhận điều này bằng sự quở trách. “Chẳng lẽ cô ta không hiểu ngay từ đầu rằng chúng ta không dung thứ cho...”
“Bất cứ điều gì đại loại thế sao?”—cô gái ít ra cũng nhớ lại đó là một quy tắc quen thuộc. “À, vâng, thưa bố—con tưởng cô ấy hiểu chứ.”
“Nhưng cô ta lại không hiểu ư?”—ông Prodmore ép sát vấn đề. Tội nghiệp Cora, lại một lần nữa rơi vào cảnh bế tắc, dường như đang tự hỏi liệu vấn đề nằm ở sự kém cỏi của bộ óc hay ở phép xã giao, nhưng người đồng hành cùng cô vẫn tiếp tục dồn ép. “Rốt cuộc thì cô ta bị bệnh gì thế?”
Cô lại giao tiếp bằng ánh mắt với những nhân chứng câm lặng ấy. “Thực sự thì con không rõ lắm, nhưng con nghĩ là ở nhà bà ngoại, cô ấy ăn nhiều quá.”
“Ta sẽ sớm chấm dứt chuyện đó!” Ông Prodmore quyết đoán đáp lại. “Thế con dự tính sẽ tiếp tục những cuộc phiêu lưu của mình tận đêm khuya—rồi trở lại Bellborough hệt như lúc con đi chắc?”
Đến lúc này cô gái mới bắt đầu lấy lại được chút bình tĩnh. “Đúng hệt như lúc con đi, bố yêu quý ạ—dưới sự bảo bọc của một người bạn mới quen, một người phụ nữ con gặp trên tàu và cô ấy cũng sẽ quay về bằng chuyến 6:19. Cô ấy cũng giống con, đang trên đường đến địa điểm này, và con đã mong tìm thấy cô ấy ở đây.”
Ông Prodmore dập tắt ngay tại chỗ mọi kỳ vọng như thế. “Cô ta muốn gì ở cái nơi này chứ?”
Cora rõ ràng tỏ ra kiên quyết hơn vì người bạn mới của mình. “Cô ấy muốn tham quan nơi này.”
Ông Prodmore ngẫm nghĩ về sự rắc rối này. “Hôm nay á?” Điều đó thực sự quá ngạo mạn. “Hôm nay thì không được đâu.”
“Con cũng đã gợi ý thế,” cô gái tuyên bố. “Nhưng bố có biết cô ấy nói gì không?”
“Làm sao mà ta biết được,” ông lạnh lùng đáp, “kẻ vô danh tiểu tốt thì nói gì cơ chứ?”
Nhưng nghe đến đây, cứ như thể tìm lại được chút sức mạnh mới, cô con gái có thể thẳng thừng đối chất với ông. “Cô ấy không phải là người vô danh tiểu tốt đâu. Cô ấy là người Mỹ.”
Ông Prodmore chững lại trong giây lát: bản năng mách bảo ông thu trọn cả không gian vào trong một thoáng tính toán. “Người Mỹ á?”
“Vâng, và cô ấy cuồng lắm...”
Ông thừa biết điều đó rồi. “Người Mỹ phần lớn đều thế cả!”
“Ý con là,” Cora nói, “cô ấy cuồng được ngắm ngôi nhà này. ‘Cuồng’ chính là từ cô ấy tự dùng—và con nghĩ cô ấy còn nói là mình ‘phát cuồng’ nữa cơ.”
“Cô ta đã”—ông Prodmore đánh giá lại sự việc—“tự tung hô bản thân ghê thật! Nhưng cô ta không được phép bén mảng tới đây đâu.”
Ảnh hưởng từ người quen mới đối với cô con gái lớn đến mức chỉ sau một thoáng, cô đã có thể phản ứng lại phán quyết này. “Ờ, thì khi con bảo rằng ngày hôm nay có lẽ không thích hợp, cô ấy bảo rằng buộc phải thích hợp thôi.”
“Buộc phải thích hợp ư?” Ông Prodmore lại hé lộ qua khe hở ánh mắt đầy tính suy đoán của mình. “Thế với cái điệu bộ hách dịch đó thì để làm gì chứ?”
“Chà, con đoán là để thỏa mãn những gì người Mỹ muốn.”
Ông đong đếm mức độ. “Họ muốn tất cả mọi thứ cơ mà.”
“Thế thì con tự hỏi,” Cora nói, “sao cô ấy vẫn chưa đến nhỉ?”
“Khi nào cô ta đến,” ông đáp, “ta sẽ xử lý cô ta; và từ nay về sau, ta khuyên con đừng có kết giao trên tàu với những người đàn bà trơ trẽn mà con chẳng biết rõ gốc g tích gì.”
“Ôi, con có biết chút ít chứ ạ,” cô con gái phân trần; “vì con đã gặp cô ấy ngày hôm qua ở Bellborough mà.”
Ông Prodmore thậm chí còn phản bác cả sự tự do này. “Và cô ta đang làm gì ở Bellborough thế?”
“Đang trọ ở quán Rồng Xanh để tham quan tu viện cổ. Cô ấy bảo cô ấy cực kỳ mê những tu viện cổ. Dường như cũng chính cảm giác đó,” cô gái nói tiếp, “đã đưa cô ấy đến đây hôm nay để ngắm ngôi nhà cổ này.”
“Cô ta ‘cực kỳ mê’ những ngôi nhà cổ ư? Thế quái nào mà cô ta không đi cùng con cho đàng hoàng tới tận cửa luôn đi, khi mà cô ta nhiệt tình thế cơ chứ?”
“Bởi vì cô ấy đã đi bằng xe ngựa,” Cora giải thích, “để đi thăm bệnh xá cổ trước. Cô ấy cực kỳ mê những bệnh xá cổ. Cô ấy hỏi con đây có phải là một ngôi nhà mở cửa cho khách tham quan không. Con đã bảo cô ấy”—cô gái tỏ ra số sắng chối bỏ trách nhiệm—“rằng con hoàn toàn chẳng hay biết gì cả.”
“Đúng thế đấy!” Ông Prodmore thốt lên gần như hung dữ. “Ta tự hỏi, nghe câu nói đó xong, cô ta nghĩ con là loại người gì cơ chứ!”
Tiểu thư Prodmore trầm ngâm với vẻ nhún nhường rõ rệt. “Con biết chứ. Cô ấy đã nói thẳng với con mà.”
Ông nhìn cô từ trên xuống dưới. “Rằng con đúng là một đứa nhà quê vô vọng chứ gì?”
Cora, thật kỳ lạ, dường như còn muốn gợi ý cho lời miêu tả này. “Rằng con không phải là một cô gái biểu diễn, theo cách gọi khá buồn cười của cô ấy.”
“Hãy nghĩ đến chuyện con phải để cho những kẻ xa lạ—những kẻ mà con tự vơ vét lấy—nhắc nhở,” ông Prodmore rên rỉ, “về việc con gái ta phải là một người như thế nào! Dẫu sao thì bạn của con,” ông sực nhớ ra, “rõ ràng là một kẻ ồn ào.”
“Chà, khi nào cô ấy đến,” cô con gái lại nhượng bộ đáp lời, “bố chắc chắn sẽ được nghe giọng cô ấy. Nhưng đừng vội phán xét cô ấy cho đến khi bố gặp tận mặt nhé, bố. Cô ấy cực kỳ thông minh đấy,” cô liều lĩnh nói thêm—“dường như chẳng có gì là cô ấy không biết.”
“Và dường như chẳng có gì là con biết cả! Con chẳng thông minh tẹo nào,” ông Prodmore tiếp lời; “thế nên con hãy cho phép ta đòi hỏi con một chút nỗ lực trí tuệ đi.” Rồi, như để lấy lòng chính những bức tường đang lắng nghe, ông cất cao giọng. “Ta đang mong đợi Đại úy Yule.”
Ý thức của Cora chớp chớp. “Chủ nhân của cơ ngơi này á?”
Giọng điệu của người cha cho thấy sự dè dặt của ông. “Điều đó phụ thuộc vào việc con có biến cậu ta thành như vậy hay không đấy!”
“Vào con ư?” cô há hốc miệng.
“Cậu ta thừa kế nó ba tháng trước nhờ cái chết của người ông họ, người đã sống đến chín mươi ba tuổi, nhưng vì có mối thù không đội trời chung với cha mình nên luôn từ chối gặp mặt cả cha lẫn con.”
Cô thiếu nữ của chúng ta dán mắt vào trang lịch sử gia đình này, rồi ngước lên với ánh mắt lờ mờ thiếu sức sống. “Nhưng ít ra bây giờ cậu ta chẳng phải đang sống ở đây sao?”
“Ít đến mức,” người đồng hành của cô đáp, “cậu ta đến đây hôm nay là lần đầu tiên đấy. Ta có một vài việc cần bàn bạc với cậu ta mà tốt nhất là nên thảo luận ngay tại nơi này; và một phần cốt yếu trong công việc đó là chính con cũng phải bỏ công sức ra để chào đón cậu ta cho thật nồng nhiệt.”
Tiểu thư Prodmore chẳng mấy mặn mà. “Ngay trong chính ngôi nhà của cậu ta á?”
“Việc đó không phải là nhà của cậu ta chính là điểm chính mà ta muốn nhắm tới! Cách nhìn nhận của ta là đây chính là nhà của ta! Thậm chí theo cách nhìn của ta, con yêu ạ”—trong màn minh họa về những góc nhìn của mình, ông Prodmore nghĩa đen là phình to người lên—“thì đây chính là nhà của chúng ta. Toàn bộ cơ ngơi này đã bị thế chấp, tính trên từng xu giá trị của nó; và ta đang ở một vị thế rất thoải mái—con có theo kịp ta không?” ông dõng dạc nói.
Cora giật nảy mình. “Là người nắm giữ các khoản thế chấp á?”
Ông chộp lấy cô với một nụ cười vừa hài lòng vừa ngạc nhiên thực sự. “Con theo kịp ta tốt hơn ta tưởng đấy. Ta nắm giữ từng tờ giấy ghi nợ một, và đó là một bộ sưu tập vô giá.”
Cô nén một tiếng thở dài mơ hồ của phụ nữ, đảo mắt nhìn quanh căn phòng chú ý hơn bất cứ lần nào trước đó. “Ý bố là bố có thể siết nợ cậu ta bất cứ lúc nào sao?”
“Ta chẳng cần phải ‘đến’ đâu con yêu—ta đang ở sẵn ‘dưới’ rồi. Đây chính là ‘dưới’ đây!”—và mũi nhọn bằng sắt của chiếc gậy ông Prodmore đập mạnh xuống, tóe ra một tia lửa từ mặt sàn lạnh lẽo. “Ta đã đến đây từ nhiều tuần trước—tính theo phương diện thương mại—và chưa hề nhích chân khỏi nơi này từ dạo đó.”
Cô gái di chuyển quanh sảnh một chút, rồi quay lại với một thoáng can đảm. “Bố định sẽ xử lý thật tàn nhẫn ư?”
Nếu cô đọc được ánh mắt mà ông dùng để đối mặt với cô, cô sẽ tìm thấy câu trả lời ở trong đó, dẫu cho đi kèm với một chút vẻ vui đùa. “Tàn nhẫn với con á?”
“Không—điều đó không quan trọng. Tàn nhẫn với ngài Đại úy cơ.”
Ông Prodmore suy nghĩ một thoáng. “‘Tàn nhẫn’ là một từ ngữ ngu ngốc và lươn lẹo. Ý con là gì cơ chứ?”
“Chà, con không hiểu về kinh doanh,” Cora nói; “nhưng con nghĩ con đủ hiểu bố, bố ạ, để lờ mờ nhận ra rằng bố lại đang nắm giữ một lợi thế áp đảo như mọi khi.”
“Như mọi khi, ta đã thắng đậm; nhưng lợi thế của ta có lẽ sẽ chưa thực sự vang dội cho đến khi ta tung ra cú đòn chí mạng. Điều mà với tư cách là một người cha, ta kêu gọi con hiện tại phải làm”—ông tiếp tục giải thích rộng ra—“chính là tiếp thêm sức mạnh cho cánh tay ta. Ta trông cậy vào con để giúp ta đi đến cùng.”
“Đi đến cùng chuyện gì cơ ạ?”
“Đi đến cùng giao dịch cực kỳ quan trọng này. Đi đến cùng vụ đầu tư mà con chính là nhân vật chính đã được che giấu kỹ lưỡng. Ta đưa con đến đây để tạo ấn tượng, và hơn thế nữa, ta đưa con đến đây để gây ấn tượng.”
Cô gái quay ngoắt lại với vẻ chán nản thực sự. “Nhưng gây ấn tượng với ai cơ chứ?”
“Trước hết là với ta—bằng cách đừng có cư xử ngu ngốc. Và sau đó, thưa tiểu thư, là với cậu ta.”
Đứng thẳng người nhưng hệt như bị tê liệt, cô mang phong thái của kẻ đang phải đối mặt với điều tồi tệ nhất. “Với Đại úy Yule á?”
“Bằng cách dồn cậu ta vào chân tường.”
“Nhưng thưa bố,” cô hỏi với vẻ đau khổ rõ rệt—“dồn vào chân tường nào cơ ạ?”
“Cái chân tường mà một quý ông buộc phải làm.”
Tiểu thư Prodmore ngập ngừng. “Quỳ gối xuống lạy lục á?”
Bố cô cân nhắc. “Không—bây giờ họ không làm thế nữa.”
“Thế họ làm gì ạ?”
Ông Prodmore hướng ánh mắt với một vẻ uy nghi bền bỉ về một khoảng không xa xăm. “Cậu ta sẽ tự khắc biết.”
“Ồ, không, thực sự là cậu ta không biết đâu,” cô gái kêu lên; “họ chẳng bao giờ biết đâu ạ!”
“Thế thì họ càng sớm học được—bất kể ai là người dạy họ!—càng tốt: ý ta là càng tốt hơn cụ thể,” ông Prodmore nói thêm với ý đồ rõ ràng là đầy nham hiểm, “cho người chủ nhân của ngôi nhà này. Ta đảm bảo rằng cậu ta sẽ hiểu điều đó,” ông kết luận, “vì ta sẽ làm tròn phần việc của mình.”
Cô nhìn ông như thể phần việc của ông thực sự đáng ghét. “Nhưng trời đất ơi thưa bố, làm sao con có thể làm tròn phần việc của mình cơ chứ? Trước hết, bố biết đấy, con thậm chí còn chưa từng gặp mặt cậu ta.”
Ông Prodmore rút đồng hồ ra xem; rồi sau khi xem xong, liền đút lại vào túi với một cử chỉ dường như đồng thời dẹp bỏ sự phản đối ấy theo cách tương tự. “Con sẽ gặp cậu ta ngay thôi—từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác. Cậu ta cực kỳ bảnh trai, cực kỳ trẻ tuổi, cực kỳ tham vọng và cực kỳ thông minh. Cậu ta mang một trong những cái tên hay nhất và lâu đời nhất ở vùng này—một cái tên mà đi đến đâu ở đây người ta cũng có thể tận dụng được rất nhiều điều, khiến ta cảm thấy vô cùng phẫn nộ khi thấy cậu ta chẳng chịu làm gì cả. Ta dự định, con yêu ạ, sẽ tận dụng tất cả những gì cậu ta bỏ phí, và để đạt được mục đích đó, trước tiên ta phải tóm lấy nó. Chính con, tiểu thư Prodmore, sẽ là người cứu lấy nó khỏi đám lửa.”
“Đám lửa ư?”—ông dùng những ẩn dụ thật kinh khủng.
“Khỏi vũng bùn lầy nếu con thích thế. Con phải nhặt nó lên, con hiểu chứ? Tóm lại, kế hoạch của ta là,” ông Prodmore tiếp lời, “khi chúng ta đã phủi sạch và chà rửa nó đi một chút, thổi bay bụi bặm và đánh bóng chỗ gỉ sét, con gái ta sẽ duyên dáng khoác lấy nó.”
Cô giờ đây chỉ có thể chống đối lại bằng một lớp vỏ bọc cứng nhắc, dày cộp hé lộ dòng máu sục sôi trong huyết quản của nhà Prodmores, dù sao đi nữa, vẫn hòa lẫn với một dòng lưu chất yếu ớt hơn, dòng máu đầy đam mê của gia tộc Prodmore. “Và xin hỏi đó cũng là kế hoạch của Đại úy Yule chứ?”
Khuôn mặt người cha cảnh cáo cô không nên đi vào vùng đất của sự châm biếm, nhưng ông đáp lại mà không dùng bạo lực. “Kế hoạch của cậu ta vẫn chưa hoàn toàn chín muồi. Nhưng chẳng có gì tự nhiên hơn thế,” ông nói thêm với một nụ cười đầyềm điềm gở, “nếu chúng chín muồi ngay trên bức tường phía nam đầy nắng mang phong thái tuyệt vời nhất của tiểu thư Prodmore.”
Tinh thần của tiểu thư Prodmore rõ ràng đang dâng trào, và một âm thanh có thể mang ý nghĩa cảnh cáo đáp trả cảnh cáo đã vang lên trong tiếng cười phát ra từ câu nói đùa này. “Bố đang nói về chúng, thưa bố, cứ như thể chúng là những quả mận chua ngoét vậy! Con nghĩ bố đã phóng đại sự nồng nhiệt trong bản chất của tiểu thư Prodmore rồi đấy. Người ta vẫn luôn cho rằng nó lạnh lùng đến mức khó tin.”
“Thế thì con hãy làm ơn, con yêu ạ, hãy đánh đổ—thậm chí sẽ chẳng có gì là tồi tệ nếu làm cho thiên hạ sốc—cái quan điểm đó đi. Ta đã bỏ ra hai mươi năm trời để cho con những thứ mà người mẹ quá cố của con hay gọi là những lợi thế, và chúng đã tiêu tốn của ta hàng trăm bảng Anh. Đã đến lúc, cả với tư cách là một người cha lẫn một thương gia, ta phải thu hồi lại tiền của mình. Ta không thể can thiệp vào tính khí của con,” ông Prodmore nhượng bộ, “cũng chẳng thể can thiệp vào gu thẩm mỹ của con, hay thậm chí là dung mạo giống hệt người đàn bà đáng kính nhưng chẳng lấy gì làm nhan sắc đã sinh ra con; nhưng ta đã bỏ ra cả một gia tài nhỏ để con có được, chết tiệt thật, con không biết sao?, một phong thái đàng hoàng. Con chưa từng bày tỏ điều đó với ta, điều đó là cái chắc; nhưng ý con muốn nói là, vào thời buổi này—đối với những người khác—con không có lấy một phong thái như thế sao?”
Điều này rõ ràng đã kéo giật cô con gái của chúng ta lại; sự trực diện trong lập luận ấy mang lại cảm giác nhức nhối hệt như những cú véo đau đớn từ ngày xưa. “Nếu ý bố ‘những người khác’ là những người cực kỳ lịch sự—chà, Đại úy Yule có thể không thấy lý do gì để trở thành một trong số họ. Cậu ta có thể không nghĩ—bố không thấy thế sao?—rằng con có một phong thái đàng hoàng.”
“Cứ làm trònn bổn phận của con đi, thưa tiểu thư, và đừng bận tâm đến việc cậu ta nghĩ gì!” Nhận thức của người cha về bổn phận của cô chốc lát lại trở nên sắc bén. “Đừng có nhìn cậu ta như một con gà tây ốm, và chắc chắn cậu ta sẽ nghĩ đúng đắn thôi.”
Sắc đỏ bừng lên trên khuôn mặt Cora trước sự so sánh thô lỗ này, thật không may, lại có phần khiến người ta thấy nó chính xác. Dẫu vậy, bất chấp cảm xúc của mình, cô vẫn giữ lại được chút ít sự tỉnh táo. “Con nhớ có lần bố đã nói, cách đây khá lâu, rằng đó chính xác là điều mà cậu ta chắc chắn sẽ không làm: ý con là khi cậu ta bắt đầu dấn thân vào những tư tưởng khủng khiếp đó...”
Ông Prodmore bạo dạn tiếp lời cô. “Về ‘chương trình nghị sự cấp tiến,’ ‘cuộc cách mạng xã hội,’ sự tước đoạt của tất cả mọi người và sự hủy diệt của mọi thứ ư? Này cô con gái ngốc nghếch của ta, ta đã quay ngoắt lại để hoàn toàn đồng tình với cậu ta rồi. Việc kẻ không có tước đoạt từ kẻ có thì...”
“Thì sao ạ?” cô gái số ruột hỏi, khi ông đang loay hoay tìm cách diễn đạt ý tưởng của mình.
“Thì có khác gì là đón nhận từ những đôi bàn tay tự nguyện món tài sản quý giá nhất của kẻ giàu chứ? Nếu ta giàu, con gái ta chính là tài sản lớn nhất của ta, và ta sẵn sàng hiến dâng nó. Nói cách khác, ta sẽ tha thứ cho cậu bạn trẻ của ta vì những quan điểm thấp hèn của cậu ta nếu cậu ta từ bỏ chúng vì con.”
Cora, nghe đến đây, giật nảy mình hệt như vừa thoáng thấy niềm vui thích tột độ. “Cậu ta sẽ không từ bỏ chúng đâu! Cậu ta đời nào chịu làm thế!”
Bố cô dường như vẫn đang tận hưởng cách nói đầy mưu mẹo mà ông vừa tung ra, thế nên ông vẫn còn thừa sự hào hứng. “Nếu con ám chỉ rằng con đang đồng tình về mặt chính trị với cậu ta, ý con là con sẽ chấp nhận cậu ta nguyên vẹn như thế ư?”
“Con sẽ không thèm chấp nhận cậu ta đâu!” cô phản đối với cái đầu ngẩng cao; nhưng cô vừa thốt lên những lời đó thì âm thanh của tiếng bánh xe kẽo kẹt vọng lại khiến vẻ kiêu hãnh của cô tụt xuống. “Xe ngựa á?—chắc chắn là cậu ta rồi!” Cô quay sang trái rồi sang phải để tìm đường rút lui hoặc trốn chạy, nhưng bố cô đã kịp chộp lấy cổ tay cô. “Chắc chắn là,” cô thảm hại thở hổn hển, “bố không muốn con lao vào chường mặt ra trước mặt cậu ta thế này chứ?”
Ông Prodmore, trong lúc giữ cô lại, ước lượng hiệu ứng. “Bộ váy của con không ổn ư—với cái giá mà ta đã trả cho nó ấy?”
“Không phải tại bộ váy của con đâu bố ơi—mà là việc cậu ta sẽ nghĩ rằng con đến đây để cho cậu ta ngắm nghía!”
Ông buông cô ra và trong lúc cô bỏ đi, lại ngoái lại nhìn giá trị xã hội từ góc nhìn tấm lưng dày của cô. Điều đó có vẻ đã quyết định tất cả, vì với một chút xót thương, ông đã hứa chắc nịch. “Cậu ta không nghĩ thế đâu, và cậu ta cũng sẽ chẳng bao giờ biết được điều đó.”
Cô gái đã lao về phía cửa phòng khách buổi sáng, trước khi kịp tới nơi thì xoay người lại một cách hụt hơi. “Nhưng cậu ta biết là bố muốn con giăng bẫy cậu ta cơ mà!”
Ông Prodmore lúc này đã đứng ở tư thế nghị viện mà hoàn cảnh đã gợi ý cho ông để tiếp đón vị khách của mình. “Cách để ‘giăng bẫy’ cậu ta chính là đừng có tỏ ra vô văn hóa một cách vô vọng. Cậu ta chẳng biết gì về việc con biết chuyện này đâu.” Tiếng chuông cửa lanh lảnh vang lên, và ông phất tay ra hiệu cho người đồng hành rời đi. “Hãy đợi tụi ta ở trong đó cùng với trà, và nhớ là phải cư xử cho đúng mực đấy!”
Chivers, vào khoảnh khắc này, được tiếng chuông gọi liền xuất hiện trở lại ở cửa phòng khách buổi sáng, và sự hoảng loạn của Cora lướt qua lão khi lão lách người đi ngang qua cô để ra lối đi phía trước. Sau đó, từ ngưỡng cửa nơi ẩn náu của mình, cô tung ra lời kêu cứu cuối cùng. “Đừng giết con, bố ơi: hãy cho con thêm thời gian!” Nói rồi cô lao phăm phăm vào phòng, đóng sầm cửa lại một cái rầm.