Khố Lý Cách đại hội: Các bộ tộc man di đời đời sống trên thảo nguyên Hãn Châu rộng lớn. Vào cuối thời Dẫn Triều của Đông Lục kỷ niên, họ chia rẽ thành bảy đại bộ tộc và hàng chục tiểu bộ tộc, tranh đấu không ngừng nghỉ. Sau đó, vị anh hùng vĩ đại nhất của người man di là Tốn Vương A Khảm Đề đã dùng vũ lực áp chế các bộ tộc Hãn Châu, lập ra Khố Lý Cách đại hội. "Khố Lý Cách" có nghĩa là "đều ngồi xuống", tức là để tất cả các bộ tộc, dù lớn hay nhỏ, đều có quyền lên tiếng. Ông còn xây dựng thành trì đầu tiên của dân du mục trên đất Sóc Phương Nguyên, gọi là "Bắc Đô" (còn gọi là "Bội Đô"). Người thảo nguyên Hãn Châu gọi Bắc Đô là "Trung Thiên Hạ", nói rằng nó nằm ở vị trí trung tâm của thiên hạ, từ đây xuất chinh ra bốn phương tám hướng đều rất thuận tiện, trong khi hàng chục bộ lạc nhỏ khác lại không thể hình thành mối đe dọa nào đối với hậu phương tường cao hào sâu này. Tốn Vương hy vọng thông qua đó xây dựng một dân tộc du mục thống nhất và hùng mạnh, nhưng khói lửa vẫn luôn cháy rực trên đại lục mênh mông, không ai có thể ngăn cản.
Thanh Dương bộ: Minh chủ Hãn Châu có thực lực mạnh nhất thời bấy giờ, sở hữu những đội quân tinh nhuệ đáng sợ như Thiết Giáp Trọng Kỵ, Hổ Báo Kỵ, Đại Phong Doanh, ép buộc các bộ lạc khác hợp thành liên quân, lần lượt phát động các cuộc chiến như Thanh Doanh chi chiến lần thứ nhất, Thương Châu Khoa Phụ chi chiến, Thanh Doanh chi chiến lần thứ hai, v.v.
Doanh Cức bộ: Bảy đại bộ lạc của người man di lần lượt là Thanh Dương, Lan Mã, Sóc Bắc, Dương Hà, Sa Trì, Cửu Nhuế, Chân Nhan. Còn Doanh Cức bộ bảy họ là một bộ tộc nằm rải rác bên bờ biển Doanh Hải ở phía đông Hãn Châu. Năm xưa khi cực thịnh từng xảy ra một trận huyết chiến đáng sợ với Tốn Vương A Khảm Đề, sau khi bại trận thì không nghe theo Khố Lý Cách đại hội. Vì lãnh địa của họ gần với Đông Lục, nên chịu ảnh hưởng rất sâu sắc từ văn minh hoa lệ, tinh tế của vương triều Đông Lục. Họ đã xây dựng một thành phố thuộc về riêng mình bên bờ Doanh Hải – thành Bạch Lê. Đây là điều khiến Thanh Dương, bá chủ bảy bộ tộc đang chiếm giữ Bắc Đô, phải kiêng dè, nên giữa họ chắc chắn sẽ có một trận chiến.
Doanh Cức thất tính: Doanh Đài, Hạ Bạt, Bạch, Quốc, Vạn, Trưởng Tôn, Hạt Đan. Doanh Đài là vương tính (họ của người man di là "Diệc Nan Xích Tất Lặc Cách Bất Hốt"), Trưởng Tôn, Hạ Bạt, Quốc và Bạch bốn họ là đại tính, xuất thân là thân vệ đại tướng và Hợp Tát, ba họ còn lại là tiểu tính, thường xuất thân là võ sĩ Na Khả Thế và hiền giả Biệt Khất. Ngoài ra Thiết Lặc, Phù Phong, Man Vũ bộ lạc là các bộ lạc thông gia.
Xưng hô quan giai của Doanh Cức bộ bằng tiếng man: Đại Quân (Vua), Đại Hợp Tát (Đại tế ti), Biệt Khất (Hiền giả), Na Nhan (Lãnh chúa), Tướng quân, Diệp Hộ (Dũng sĩ), Na Khả Thế (Võ sĩ), Cáp Lạt Sở (Thường dân), Oát Bột Lặc (Nô lệ). Trong đó nô lệ không chỉ chỉ riêng nô lệ cá nhân, mà còn bao gồm các bộ lạc bại trận trở thành thần bộc và nô lệ của bộ lạc chiến thắng, họ chăn giữ gia súc cho chủ nhân, khi chiến tranh cũng xuất chinh với tư cách quân phụ trợ.
Vương kỳ: Kim Quan Trĩ.
Quân đội: Chia làm bốn doanh tám vệ, mỗi vệ lại chia thành tả hữu vệ, đó là: Tả Hữu Báo Thao Vệ (Trường đao trọng kỵ), Tả Hữu Ưng Dương Vệ (Trường thương kỵ bộ), Tả Hữu Ngọc Linh Vệ (Đoản đao khinh kỵ xạ), Tả Hữu Kim Ngô Vệ (Trường đao khinh kỵ), Tả Hữu Thiên Ngưu Vệ (Trường đao khinh kỵ), Tả Hữu Bạch Kiêu Vệ (Trường thương kỵ bộ) và Tả Hữu Lĩnh Quân Vệ (Trường đao khinh kỵ xạ), Tả Hữu Võ Uy Vệ (Trường đao trọng kỵ). Đội quân mạnh nhất trong số họ là Tả Hữu Võ Uy Vệ, được xưng tụng là từ khi kiến đình ba trăm năm nay chưa từng nếm mùi thất bại.
Quân sức: Trên giáp vai của Báo Thao Vệ trang trí đồng đối báo, Ưng Dương Vệ trang trí đối ưng, Ngọc Linh Vệ trang trí đối hộc, Kim Ngô Vệ trang trí đối trĩ, Thiên Ngưu Vệ trang trí tịch tà, Bạch Kiêu Vệ trang trí bạch trạch, Lĩnh Quân Vệ trang trí thụy mã, Võ Uy Vệ trang trí đồng đối hổ.
Thiết Lặc bộ: Nguyên là bộ lạc thông gia của Doanh Cức, sau đó bị Doanh Cức diệt tộc. Người trong tộc có bản lĩnh thuần hóa sói, thủ lĩnh Thiết Lặc Diên Đà là anh em cùng cha khác mẹ với Doanh Cức Đại Quân Doanh Đài Đàn Diệt, sau cuộc Thanh Doanh chi chiến lần thứ nhất đã trở thành đồng minh của Doanh Cức.
Man Vũ bộ: Bộ lạc thông gia của Doanh Cức, nổi tiếng khắp Hãn Châu vì đời đời sinh ra mỹ nữ. Mẹ của Doanh Đài Tịch là Vũ Thường phi và mẹ của Lữ Qua là Man Vũ Vân Huỳnh đều là công chúa của Man Vũ bộ.
Phù Phong bộ: Là bộ lạc thông gia của Doanh Cức, mẹ của Doanh Đài Đàn Diệt, Doanh Đài Hàn Hồi và Man Vũ Vân Khánh đều xuất thân từ Phù Phong bộ. "Phong Dao Tử" thuộc bộ Phù Phong là một loại quân trọng kỵ bán phần.
Trì Lang Kỵ: Hung hãn thiện chiến, pha trộn giữa tù tội của bộ lạc Doanh Cức và bộ lạc Thiết Lặc, dùng da sói làm giáp, cưỡi Trì Lang, cung dài khiên cứng, sở hữu sức chiến đấu hạng nhất ở vùng cực bắc giá lạnh.
Thất Khúc Hổ Cung Thủ: Xạ thủ đi bộ dùng ngựa thay thế phương tiện di chuyển, họ khoác giáp xích trên vai, cổ tay có giáp da bảo vệ, đốt ngón tay có bao da bảo hộ. Họ sử dụng trường cung, tầm bắn khoảng ba trăm mét, vì cung rất dài nên bắt buộc phải xuống ngựa mới có thể bắn.
Thiên Khu võ sĩ: Thiên Khu là một tổ chức thần bí trên đại lục Cửu Châu, là một đoàn thể tinh nhuệ được thành lập bởi những võ sĩ thừa hưởng ý chỉ "thống nhất, an định" của "Hoang", tin phụng triết lý đặc thù "thủ hộ an ninh". Thiên Khu võ sĩ bình thường ẩn mình khắp nơi trên Cửu Châu, một khi nhận được mệnh lệnh của Tông chủ, họ sẽ lập tức tập hợp lại thành lực lượng vũ trang mạnh mẽ. Dấu hiệu của họ là một chiếc nhẫn sắt màu xanh khắc hình chim ưng đang bay.
Thần Nguy giáo đồ: Thần Nguy giáo là một tổ chức thần bí khác ở Cửu Châu, tín đồ của giáo phái này phần lớn là bí đạo sĩ, họ thừa hưởng ý chỉ của "Khư", chủ trương cá tính và phân liệt, ngăn cản sự hòa hợp và thống nhất.