Thần Đường là cái tên không chịu đòn nổi, đôi tay bị còng vào cột nhà, chỉ mới ăn một trận đấm đá, hắn đã gọi cha gọi mẹ khai nhận hết, nói người là do hắn đánh. Hỏi còn ai nữa? Đáp một người là Thành Ba ở tiệm thợ rèn, một người là Xuân Có què.
Lập tức còng Thành Ba tới, thế nhưng hắn sống chết không nhận. Thành Ba đưa ra nhân chứng, tối hôm qua hắn làm đinh dẹt cho nhà họ Ngưu ở thôn Bắc Hạt Tử, làm đúng mười ba bộ, người nhà họ Ngưu đã canh chừng mãi đến nửa đêm về sáng. Người nhà họ Ngưu đứng ra bảo lãnh, dẫn Thành Ba đi.
Lúc còng Xuân Có, Xuân Có và vợ đang cãi nhau ở nhà, hóa ra gà đã gáy mà Xuân Có vẫn chưa về nhà, vợ hắn hoài nghi, đi thẳng đến nhà góa phụ Trọng Quế. Xuân Có quả nhiên đang ngồi uống rượu với Trọng Quế, vợ hắn tru tréo mắng chửi, Trọng Quế thấy mất mặt trên bàn nhậu, đương nhiên nói: "Xuân Có, tao không thèm đôi co với vợ mày, tao còn chê mất giá ấy chứ! Nhưng mày là một thằng đàn ông, mày uống rượu của tao mà để cô ta sỉ nhục tao thế này à?!"
Xuân Có liền xông lên tát vợ một cái, túm tóc lôi về nhà. Vợ hắn về nhà, làm ầm ĩ suốt nửa đêm, lại quậy phá cả một buổi sáng, sống chết đòi chết, nói Xuân Có và con đàn bà hoang kia muốn hại chết cô ta!
Người ở đồn công an thấy vậy, cũng không truy cứu Xuân Có nữa. Lúc quay về thấy Thần Đường vẫn bị còng tay vào cột, cứ gào thét đòi đi tiểu. Viên cảnh sát họ Đinh bưng một chậu nước hắt thẳng lên đầu hắn, mắng: "Mày còn đòi tiểu à? Giờ thì tiểu đi, đằng nào cũng ướt hết rồi, tiểu đi!"
Thần Đường bèn khóc lóc: "Tôi đã khai hết rồi, sao các anh còn đối xử với tôi thế này?"
Cảnh sát nói: "Mày khai cái gì chứ, mày cứ sủa càn như chó mù ấy! Bọn tao sẽ không oan uổng một người tốt, nhưng tuyệt đối không bỏ sót một tên ác nhân nào. Mày khai lại xem, kẻ đánh người rốt cuộc là ai, đánh thế nào?"
Thần Đường nói: "Tôi muốn uống rượu cơ!"
Cảnh sát nói: "Uống rượu á?" Phạm tội rồi mà còn đòi uống rượu, cảnh sát nhìn hắn, cởi giày dùng đế giày tát vào miệng hắn.
Thần Đường nói: "Cho tôi uống rượu thì tôi mới nói."
Cảnh sát báo cáo với đồn trưởng, đồn trưởng xách nửa bình rượu tới, rót thẳng vào miệng Thần Đường. Thần Đường nói: "Kẻ đánh người không phải Thành Ba và Xuân Có, là Tỏa Oa và Bình Nhân. Bọn tôi đi đánh mạt chược, đánh đến nửa đêm, nghe thấy ngoài cửa có tiếng bước chân động đậy, tưởng là các anh, ra xem thì hóa ra là người bán gỗ ở trại Bạch Vân. Anh biết đấy, người Cao Lão Trang vốn không ưa Bạch Vân Tự, Bạch Vân Tự đe dọa Cao Lão Trang, còn trại Bạch Vân lại thân với Bạch Vân Tự, bọn họ hận chúng ta, chúng ta cũng hận bọn họ. Chú Mê Hồ từng chém chết người của Bạch Vân Tự, Thái Lão Hắc cũng từng đóng đinh chết vị bác sĩ của trại Bạch Vân đó..."
Đồn trưởng nói: "Tao nghe mày kể lịch sử thôn chắc?!"
Thần Đường nói: "...Ngoài cửa có tiếng người động đậy, tưởng là các anh, ra xem thì hóa ra là người bán gỗ ở trại Bạch Vân. Bọn tôi mắng người trại Bạch Vân là đồ sói mắt trắng, người trại Bạch Vân toàn bọn mắt ba mí. Bọn tôi nói: Sói mắt trắng, mày quậy phá cái gì trong nồi cơm Cao Lão Trang, mày cũng muốn ăn à, có muốn ăn "cây chùy" không?! Bọn chúng mắng: Cao Lão Trang, nước chảy hướng Tây, nhà nào đàn bà cũng bán lờ! Bọn tôi liền lôi vào đánh, là tôi dùng chân đá, còn Bình Nhân cầm đòn gánh đánh. Bình Nhân sức lớn, nên đánh gãy cả đòn gánh."
Cảnh sát nói: "Cao Thần Đường ơi Cao Thần Đường, trong miệng mày chẳng có câu nào là thật cả! Mày suy nghĩ lại cho kỹ đi, khi nào thực sự muốn khai nhận thì cứ hô lên một tiếng." Nói xong liền còng hắn vào cửa sổ, vừa khéo để mũi chân Thần Đường nhón lên thì tay mới đỡ đau, rồi đi ra khóa ngược cửa phòng làm việc lại.
Lúc Tử Lộ tới, đồn trưởng nhiệt tình chào hỏi, tiện tay khui luôn chai rượu Tử Lộ mang theo để uống, nói: "Giáo sư, cậu mang rượu gì đến thế? Đã mang đến thì coi như của tôi, để tôi tiếp đãi cậu!" Hai người đứng đối diện, người một ngụm tôi một ngụm uống.
Tử Lộ bèn hỏi thăm vụ án của Thần Đường, lại đem lời vợ Thần Đường thuật lại một lượt. Đồn trưởng nói: "Người có lẽ không phải do Thần Đường đánh, người trại Bạch Vân nói bị đánh ở ngoài đồng, còn Thần Đường khai lại đánh ở nhà. Gã này cứ húp túng là cắn càn, nếu ở thời chiến tranh, gã chính là một tên phản quốc đấy!"
Tử Lộ nói: "Không phải hắn đánh người, thế thì..."
Đồn trưởng nói: "Tử Lộ đã đến xin hộ, tôi có thể không nể mặt sao, vậy thì thả ra đi."
Hai người cùng ra phòng làm việc để thả người. Thần Đường thấy Tử Lộ, tay đau đến mức không nhấc lên nổi, thế nhưng vẫn nói: "Tôi đã nói không phải tôi đánh mà lị, thế nào, không phải tôi đánh chứ gì! Quân tử động khẩu không động thủ, đánh người thì cần gì tôi phải tự tay ra trận?"
Tử Lộ nói: "Thôi đi thôi đi, người không phải anh đánh là được rồi, lũ trẻ với vợ anh ở nhà khóc lóc inh ỏi cả lên kìa!"
Thần Đường nói: "Khóc cái gì chứ, tao đã bị giam đại lao đâu cơ chứ?!"
Tử Lộ dẫn Thần Đường về, người Cao Lão Trang hầu như tập trung cả ở bãi đất trống đầu thôn, bọn họ đang ở đó ngóng chờ tin tức. Thần Đường vừa thấy người trong thôn, liền lớn tiếng chửi rủa tên khốn kiếp nào đánh người, hại người của đồn công an đánh ta một trận thế này! Người trại Bạch Vân mà còn đến nữa, ta thề gặp một đứa đánh một đứa, gặp một đôi đánh một cặp, cho bõ tức! Chú Trọc nói: "Thần Đường cậu chịu khổ rồi à?" Thần Đường nói: "Người đồn công an đánh tôi đấy, nhưng hắn cũng phải cho tôi uống rượu chớ, mẹ kiếp, ở nhà chúng ta còn chẳng được uống 'Ngũ Lương dịch' ấy chứ!"
Trong đám đông có Thái Lão Hắc và Lộc Mậu đi tới xem xét vết thương trên cổ tay Thần Đường. Thần Đường lại bắt họ ngửi mùi rượu trong miệng mình. Thái Lão Hắc nói: "Đúng là uống rượu rồi, uống rượu rồi. Huynh đệ, tốt nhất là chúng ta đừng uống rượu của bọn chúng, muốn uống thì cậu cứ đến nhà tôi mà uống! Người ta ở dưới mái hiên, lúc cúi đầu vẫn phải cúi đầu thôi. Muốn đánh người trại Bạch Vân thì đừng có oang oang cái miệng, sáng nay mấy chục người trại Bạch Vân đã kéo đến chính quyền trấn, lớn tiếng đòi trừng trị nghiêm khắc kẻ thủ ác đấy."
Thần Đường nói: "Hung thủ là ai chứ, đồn công an tổng cộng cũng đâu thể còng hết tất cả người Cao Lão Trang lại được?"
Thái Lão Hắc nói: "Cái này thì trách ai cơ chứ, cho dù người Cao Lão Trang có đánh người trại Bạch Vân đi nữa, chẳng phải cũng vì muốn bán được nhiều gỗ hơn sao? Đợi nhà máy ván ép cứ làm ăn thế này mãi, cây cối ở Cao Lão Trang chặt sạch, cây cối ở trại Bạch Vân cũng chặt sạch, lúc đó mọi chuyện mới được yên ổn."
Người bên cạnh nói: "Lão Hắc, anh cũng coi là nhân vật có máu mặt đấy, mà cũng nói ra mấy lời này á?! Nhà máy ván ép nằm trên đất Cao Lão Trang, muốn bán gỗ thì tất nhiên phải ưu tiên Cao Lão Trang trước đã. Trại Bạch Vân mà chõ mũi vào, thì người ở mấy cái thung sâu rãnh xa xung quanh bu lại hết, giá gỗ lại càng rẻ mạt, thế thì bọn mình kiếm đâu ra mấy đồng tiền chứ?!"
Thái Lão Hắc nói: "Cái này nói nghe cũng có lý..." Ngước mắt thấy Tử Lộ, liền bảo: "Tử Lộ kiến thức rộng rãi, cậu nói xem nào."
Tử Lộ hạ giọng nói: "Lão Hắc, tôi thấy rõ kẻ đánh người ngày hôm qua rồi đấy."
Thái Lão Hắc nhìn chằm chằm vào mắt Tử Lộ, đột nhiên nói: "Tử Lộ, cậu rốt cuộc vẫn là đứa con của nhân dân Cao Lão Trang!"
Tử Lộ liền cười lên, cao giọng nói với người trong thôn: "Tôi không rõ tình hình lắm, Thuận Thiện đâu, Thuận Thiện là bí thư chi bộ mà..."
Câu nói còn chưa dứt, chú Mê Hồ đã mắng um lên: "Thuận Thiện là đồ ăn cắp, hai vợ chồng đều là quân trộm cắp! Nó đã ăn cắp lương thực của tao..."
Thái Lão Hắc nói: "Đó là chuyện tư túi nhà các người."
Chú Mê Hồ nói: "Hôm trước trong thôn định xây nhà công cộng, nhà công cộng thì chưa thấy xây đâu, thế còn số gỗ đốn ở sườn dốc Mặt Trời để làm bốn gian nhà ấy đâu rồi? Đây cũng là chuyện tư túi à?! Con mẹ nó chứ cái đồ khốn Thuận Thiện đã ăn cắp, tham ô rồi!"
Lời chú Mê Hồ nói tuy không đủ tin, mặc kệ ông ta chửi bới, nhưng chú Mê Hồ vừa nhắc đến số gỗ xây nhà công, liền có người kêu lên: "Lời người điên nói lại là lời thật đấy, số gỗ xây nhà công của chúng ta rốt cuộc đã đi đâu hết rồi?!"
Thế là mọi người nhao nhao bàn tán.
Ngoài bãi đất trống ồn ào náo nhiệt, Tây Hạ không hề hay biết. Sau bữa trưa, Thạch Đầu lại ngồi vẽ tranh trong sân, cô không có việc gì làm bèn ngồi một bên ngắm cây bách mọc trên tường vách, nghe thấy đâu đó có tiếng lách tách, ngẩng đầu lên thì thấy một con bướm phấn to bằng bàn tay đang chập chờn bay trên đầu tường viện, lát sau thì đậu bất động trên cây anh đào.
Khoảnh khắc ấy, Tây Hạ chợt thấy đậm chất thơ. Tây Hạ từng đọc "Trang Tử", bèn lên tiếng: "Thạch Đầu Thạch Đầu, em có biết kiếp trước của loài bướm là gì không?"
Thạch Đầu không trả lời cô, có vẻ rất phản cảm với câu hỏi của cô, tự mình chống tay nhảy nhót trở về phòng.
Tuyết Hạ lập tức thấy chán ngắt, một mình đi ra khỏi sân, đứng ở lối ngõ nhìn một con gà dẫm đôi chân ướt nhẹp vẽ lên mặt đất mấy chữ cái, vừa xem vừa nghĩ về sự ngượng ngùng trong cuộc đời. Cô rõ ràng cao gầy mà lại cứ lấy Tử Lộ lùn tịt, vừa mới làm cô dâu đã đồng thời làm mẹ kế, mà lòng thì một lòng một dạ muốn thân thiết với Thạch Đầu, thế nhưng Thạch Đầu lại khó mà giao tiếp với cô, thứ khoảng cách này lẽ nào sẽ mãi mãi tồn tại sao?
Đứa trẻ ở ngõ trước vừa móc được một con chim non trong cái lỗ trên ngói mái hiên, nhìn thấy Tây Hạ liền đưa ra khoe cho lạ. Con chim non nhỏ đến mức còn chưa đứng vững nổi, mỏ trắng chân vàng, trông vô cùng đáng yêu. Cô nhận lấy nghịch ngợm một lúc, rồi đòi đứa trẻ con chim đó để mang về đưa cho Thạch Đầu. Ngay lúc ấy, cô chợt nghe thấy trong căn viện bên cạnh phát ra những tiếng động kỳ lạ. Cô rướn người áp sát vào chỗ khuyết của bức tường vách, liền nhìn thấy hộ gia đình kia đang cho lừa phối giống.
Một con lừa cái ngoan ngoãn đứng đó, một con lừa đực liên tục chồm lên. Chồm một lần không thành, chồm hai lần không thành, lừa cái bị đè ngã quỵ xuống hai lần, và cả hai lần đều bị chủ nhân quất roi bắt đứng dậy. Chủ nhân của con lừa đực đang cầm sợi dây thừng dài tru tréo chửi mắng.
Lại một tiếng hô hò vang lên, lừa đực tiếp tục chồm lên, lừa cái không ngã xuống nữa, mà oằn mình uốn éo. Cái roi dài cứng như gậy sắt của lừa đực đâm sầm vào người chủ nhân lừa cái khiến ông ta ngã ngửa.
Lại một lần nữa làm lại từ đầu, chồm lên rồi, chủ nhân lừa đực với tốc độ cực nhanh túm lấy cái roi dài để trợ giúp, nhét nó vào vị trí cần nhét, đôi bàn tay đẫm đầy chất nhầy nhớp nhúa, miệng hô lớn: "Trúng!"
Tự Hạ cũng thốt lên một tiếng: "Trúng!"
Mỗi lần con lừa đực chồm lên, Tây Hạ lại bất giác dùng sức giúp nó. Vừa dùng sức, hai bàn tay liền siết chặt lại. Khi cuối cùng nó cũng thành công nhảy lên được, cô thốt lên một tiếng "Trúng!", cơ thể thả lỏng, con chim non trong tay liền rơi xuống đất. Lúc bấy giờ cô mới nhận ra mình vẫn đang cầm con chim non, vội vàng nhặt lên, thì con chim non đã bị bóp chết ngắc từ lúc nào.
Người trong sân nghe thấy trên tường có người cũng hô "Trúng!", ngẩng lên nhìn thấy là Tây Hạ, thoạt đầu thì ngẩn người, sau đó thì cười lớn ha hả.
Tây Hạ cắm cổ chạy thục mạng, ngờ đâu trên đường có đoạn bùn mưa khô cứng thành gờ cao, cô hụt chân một cái, cổ chân liền trật đi.
Nhảy nhót một cú nhưng cô không thấy đau lắm, lúc về đến nhà, mặt vẫn còn đỏ bừng vì thẹn. Thấy Thạch Đầu đang úp mặt vào chiếc bàn cạnh cửa sổ ngủ gật, cô muốn bế thằng bé lên giường nhưng lại sợ làm nó thức giấc, bèn cầm quạt vừa xua muỗi vừa ngắm bức tranh mới vẽ của Thạch Đầu, bất giác kêu lên một tiếng "Á", tim đập chân tay run lẩy bẩy.
Đây là một bức tranh vô cùng phức tạp, sắp xếp từ trên xuống dưới theo thứ tự hẳn hoi trong mớ hỗn độn sáu nhóm nhân vật, sáu nhóm nhân vật ấy lại cấu thành một thể thống nhất.
Tây Hạ từng nhìn thấy tranh khắc gỗ dân gian về Âm tào địa phủ trong viện bảo tàng, đó là hình ảnh người dương gian đứng trước cửa lớn cõi âm, trên cổng viết "Vì sao đến đây", bước vào cửa thì có đầu trâu mặt ngựa vô thường, Diêm Vương ngồi trên sảnh, trên sảnh treo một tấm biển lại viết "Ngươi có nhận ra ta không", tiếp đó là cảnh người tới chịu hình phạt bị khoét mắt, lột da, lên núi dao, xuống chảo dầu, chó xé thây, cối đá nghiền nát.
Còn trong bức tranh của Thạch Đầu này, dường như cũng là cảnh con người phải chịu đủ mọi thứ cực hình khốc liệt. Hoặc là người bị trói vào cột gỗ, cố định một cẳng chân lên ghế, để một con dê liếm lòng bàn chân, kẻ bị trói buồn quá cười lớn đến ngất ngư. Hoặc là một người phụ nữ mặc chiếc quần dài thêu hoa, trong đũng quần nhét một con mèo, con mèo điên cuồng cào cắn, hoặc là dùng ống bơm bơm hơi vào hậu môn, khiến bụng người phình to như cái trống. Hoặc là người đi xuyên qua một chiếc hộp dài giống như làm bằng thủy tinh, trên nắp hộp đục vô số cái lỗ, hễ kẻ nào cao đầu vừa nhô lên là ngay bên cạnh có một cái kéo khổng lồ cắt đứt đầu ngay lập tức. Hoặc là dùng chỉ khâu miệng người lại.
Tại sao một đứa trẻ lại có thể nghĩ ra cách vẽ bức tranh thế này cơ chứ? Tây Hạ đột nhiên cảm thấy sợ hãi. Cô ngắm nghía khuôn mặt đang ngủ say của Thạch Đầu, đôi mắt to tròn, lại cách xa nhau, đầu dài mà dẹt, xương trán gồ lên, đôi tai rõ ràng mọc cao hơn chân mày mắt, lại nhọn hoắt giống như tai của loài thú nhỏ.
Tây Hạ không đoán được hình tượng này biểu thị cho điều gì, nhưng trong lòng thầm nghĩ hai chân bị liệt chắc chắn phải có nguyên nhân gì đó. Cô chợt nhớ đến vài năm trước, có một thầy tướng số đứng xem tướng cho mọi người ngoài cửa viện bảo tàng, từng nói rằng tướng mạo của con người nếu giống loài động vật hoặc thực vật nào thì nhất định là do loài động vật hoặc thực vật đó đầu thai thành. Cô bèn nhìn lại Thạch Đầu, cô không nhìn ra đứa trẻ giống con gì, thế nhưng trong đầu lại chợt lóe lên ý nghĩ: Cúc Oa là gà biến thành, Thần Đường là chó biến thành, Thái Lão Hắc là hổ, Khánh Lô là trâu, Lộc Mậu là mèo, Thuận Thiện là rắn, Tô Hồng là cáo, vợ Thần Đường là thỏ, bác Lão Lu thì chính là một con lừa, còn Tử Lộ nhỉ? Tử Lộ tuyệt đối là lợn, còn cái tên giám đốc Vương Văn Long kia thì hệt như một con rồng lúc ẩn lúc hiện lúc to lúc nhỏ khó mà nắm bắt.
Tây Hạ không phải là một nhà tướng số, nhưng cô cảm thấy vô cùng phấn khích trước những suy tưởng kỳ lạ bất chợt của mình, liền bước ra khỏi gian nhà chính để đem phát hiện của mình kể cho Tử Lộ. Tử Lộ vẫn chưa ở bãi đất trống về, mà mẹ thì đã về rồi. Chân đau nhức khó chịu, bà ngồi trên hòn đá giặt đồ trong sân, cởi giày tất ra dùng mảnh sứ cạo lớp chai sạn ở gót chân.
Chân của mẹ là kiểu chân bó từ những năm tháng còn trẻ, nhưng lại bó không được đẹp cho lắm, to không ra to nhỏ không ra nhỏ, ngón chân quẹo sang một bên lại lồi lên một cục u to tướng, lòng bàn chân trái phải đều có một vết chai cứng ngắc to bằng đồng tiền xu. Bà ôm một bên chân vào lòng, vừa cạo vừa thổi phì phì vào miệng. Tây Hạ lập tức cảm thấy dáng vẻ ấy của mẹ trông giống hệt như một con khỉ, nhưng cô không dám nói với mẹ, chỉ đành hì hì cười.
Mẹ nói: "Tây Hạ con cười cái gì, cười cái chân này của mẹ phỏng? May mà lúc mẹ gả vào Cao Lão Trang thì thời buổi đã thay đổi rồi, chứ không thì cái đôi chân xấu xí thế này, có mà ế vợ chồng chết!"
Tây Hạ nói: "Nghe Tử Lộ nói bố của Kịch Lâm trông xấu nhất, mẹ Kịch Lâm chân nhỏ thế mà sao lại chịu gả cho ổng chứ?"
Mẹ nói: "Thím của con lúc trẻ trông mặn mà lắm."
Tây Hạ nói: "Mặn mà? Ồ, ý là trông rất xinh đẹp ạ?"
Mẹ nói: "Mẹ cứ hay nói tiếng địa phương, hồi trẻ cô ấy đẹp nổi tiếng luôn. Bố Kịch Lâm hồi đó gia cảnh giàu có, cho nhà mẹ đẻ cô ấy ba thạch lúa mì, bốn bọc bông gòn, bố cô ấy thu nhận từng ấy đồ thì sao lại không đồng ý hôn sự chứ? Hôm đi xem mắt, chú rể trông chẳng dám bước ra diện kiến người ta, vẫn là bố con làm người đóng thế đấy, đợi cưới về động phòng rồi mới phát hiện ra người đã đổi rồi, thì đã không còn kịp nữa. Sự đời vốn là như thế, hoa tươi thường cắm bãi cứt trâu, hán tử tuấn tú toàn cưỡi ngựa què!"
Tây Hạ cười bảo: "Em và Tử Lộ là hoa tươi cắm bãi cứt trâu, thế còn bố mẹ..."
Cô không dám nói tiếp, mẹ lại cười khúc khích, nói: "Cái con ranh này, ở xã hội cũ là phải vả miệng đấy chứ lị! Tao thấy Tử Lộ nhà tao không hề xấu chút nào, mày rậm mắt to, môi tuy dày nhưng miệng rộng cơ mà, đàn ông miệng rộng ăn bốn phương!"
Tây Hạ cười ha hả, từ trong cửa định chạy ra ôm lấy mẹ, vừa mới bước qua bỗng ngưỡng cửa, đột nhiên chân không dám chạm đất, ngã phịch xuống đất.
Vừa ngã xuống, mẹ vội vàng chạy lại đỡ, thấy cổ chân đã sưng vù lên như cái bánh mì, tuyệt đối không tài nào đỡ dậy nổi.
Trạm y tế thị trấn chẳng có máy móc gì xịn, cũng chẳng có bác sĩ giỏi, mẹ đành mời cụ ông họ Thái đến xem vết thương cho Tây Hạ. Cụ ông họ Thái nắn bóp một hồi, nói là không bị rạn xương, nhưng muốn lành thì ba bốn ngày cũng chưa chắc đã xuống giường được.
Tây Hạ liền nói với Tử Lộ: "Thạch Đầu có khả năng dự cảm trước tai họa đấy!"
Tử Lộ nói: "Em vừa về nhà mà còn ra vẻ thần thần bí bí hơn cả anh nữa cơ à?!"
Tây Hạ nói: "Mấy hôm trước nó vừa vẽ một bức tranh, là hình một người nằm dưới đất, một chân dài một chân ngắn, bây giờ ứng nghiệm vào người em rồi đây này. Hôm nay nó lại vẽ thêm một bức tranh nữa, mới gọi là đáng sợ rợn tóc gáy cơ chứ, không biết bức tranh đó lại dự báo điềm gở gì đây?"
Tử Lộ nói: "Cái này đâu phải Thạch Đầu vẽ làm em bị thương chân, vốn dĩ em làm xong lễ giỗ ba năm là phải quay về thành phố rồi, đây là người không giữ được em nên trời giữ em lại đấy thôi." Nói rồi anh kể cho Tây Hạ nghe, đi đường trong núi nhất định phải nhấc cao chân lên, đường trong núi không bằng phẳng, lắm đá sỏi, cho dù không trật chân thì cũng có thể va quệt toác cả ngón chân cái.
Tây Hạ bấy giờ mới vỡ lẽ, cô vẫn luôn thấy chướng mắt với dáng đi của Tử Lộ, lúc nào cũng cúi gằm mặt, hai tay co quắp, đôi bàn chân hơi ngửa ra ngoài nhấc lên cao tít tắp, hóa ra đó là thói quen đã nuôi dưỡng từ bé! Nằm trên giường kang không thể cử động, cô bèn gọi Thạch Đầu đến ngồi cạnh vẽ tranh. Thạch Đầu không chịu qua, Tử Lộ đành bế thốc nó lên giường kang, Thạch Đầu liền vẽ một bức tranh. Phía trên bức tranh là bảy ngôi sao, bảy ngôi sao đều được nối liền với nhau.
Tây Hạ hỏi: "Đây là cái gì?"
Thạch Đầu đáp: "Trời."
Tây Hạ nói: "Ái chà, là chòm sao Bắc Đẩu! Tử Lộ anh xem này, ai mà vẽ bầu trời kiểu này cơ chứ! Thạch Đầu, sao con lại biết trên trời có chòm sao Bắc Đẩu thế?"
Thạch Đầu không thèm đếm xỉa, lại vẽ phía dưới là một con cá.
Tây Hạ hỏi: "Cá à?"
Thạch Đầu đáp: "Là đất."
Tây Hạ hỏi: "Đất mà có cá bơi dưới nước á ư?!"
Thạch Đầu đáp: "Đấy đều là nước."
Tây Hạ hỏi: "Đều là nước ư? Ý này là sao?"
Tử Lộ nói: "Trẻ con vẽ tranh, làm gì mà có lắm ý nghĩa thế?"
Tây Hạ không gặng hỏi nữa, vươn tay vuốt ve đầu Thạch Đầu, nhưng Thạch Đầu kiên quyết không cho cô chạm vào. Tử Lộ giải thích rằng Thạch Đầu sợ nhất là được bà nội tắm rửa kỳ cưng lưng cho, bất kỳ ai chạm vào bất kỳ bộ phận nào trên cơ thể nó, nó đều cảm thấy khó chịu.
Tây Hạ thầm nghĩ, đứa trẻ này có lẽ các đầu dây thần kinh quá nhạy cảm, nhưng Tử Lộ lại bảo ngay cả khi cắt tóc Thạch Đầu cũng kêu đau, khiến Tây Hạ không tài nào lý giải nổi.
Tuyết Hạ cứ quanh quẩn trên chiếc giường kang đất không bước xuống được, Tử Lộ lại luôn bị người trong thôn gọi đi uống rượu, đánh mạt chược, Thạch Đầu dĩ nhiên chẳng thèm ở lại bầu bạn với cô, khiến cô cuống quýt đến phát điên, bèn bảo mẹ tìm sách vở ở nhà mang cho cô đọc. Nhưng trên gác xép ngoài đống sách giáo khoa Ngữ văn, Toán lý hóa thời đi học của Tử Lộ ra, thì chẳng còn cuốn sách nào khác.
Trưa hôm đó, nhà Lai Chính có mấy vị họ hàng đến chơi, đột nhiên hết gạo mặt. Vợ Lai Chính liền xách chậu sang mượn bột lúa mì. Mẹ lập tức lấy cái thưng, múc bột từ trong chum đầy ụ lên thưng, sau đó bốc một nắm bột rắc từng chút từng chút một lên miệng thưng, rắc đến mức bột trong thưng vun cao lên như hình ngọn tháp, rồi mới đổ vào chậu.
Tây Hạ thấy cách đong đếm này rất hay ho, bèn hỏi tại sao không dùng cân để cân?
Vợ Lai Chính đáp: "Cách mà các cụ đời trước truyền lại đấy thưa thím. Cô em thành phố, chân vẫn chưa khỏi hẳn à? Tử Lộ nhà cô có tiền thế cơ mà, chẳng lẽ lại tiếc không mua cho cô vài thang thuốc à?"
Tây Hạ nói: "Thím bảo Tử Lộ nhà cháu keo kiệt chứ gì!"
Mẹ liền lên tiếng: "Tố Tố à, Tử Lộ không keo kiệt đâu, chỉ sợ mẹ mới là người keo kiệt ấy chứ!"
Vợ Lai Chính nghe vậy cười khanh khách, bảo: "Thím đang muốn hạ nhục cháu đấy phỏng!"
Tây Hạ hỏi cười cái gì, mẹ bèn kể lại rằng năm ngoái, Lai Chính đổ bệnh, bốc năm thang thuốc Bắc, thang thuốc cuối cùng sắc uống xong một nửa thì khỏi bệnh, nửa bát còn lại được đặt trên nắp tủ. Vợ Lai Chính nhìn thấy, nghĩ thầm thuốc là tiền mua cả, không uống hết thì tiếc lắm. Cô ta là kiểu người trong nhà hễ ai ăn thừa món gì cũng không chịu đổ đi cho lợn cho gà ăn, nhất định phải tống hết vào bụng mình, thế là cô ta cũng nốc luôn nửa bát thuốc đó.
Nào ngờ uống xong thì sinh bệnh, đau bụng lăn lộn trên giường kang, suýt nữa thì mất mạng.
Tây Hạ cười đến mức đứt hơi. Vợ Lai Chính bảo: "Cô chê cười tôi chứ gì?! Ở nhà buồn chán thế, cô cứ bảo Tử Lộ cõng sang nhà tôi chơi, nhà tôi tuy không sạch sẽ bằng nhà cô, nhưng lợn chó lại náo nhiệt hơn nhà cô nhiều."
Tây Hạ nói: "Thế thì hay quá nhỉ, nhà chị có cuốn sách nào không?"
Vợ Lai Chính ngẫm nghĩ, đáp: "Hình như có một cuốn, dày cộp như cục gạch, hồi ông nhà tôi còn sống, coi nó như bảo vật quý hơn vàng, cứ đặt mãi trên cái đòn gánh trong phòng ấy."
Tây Hạ liền nổi hứng, bèn thò tay trong túi lấy ra một chiếc lược gỗ tinh xảo, biếu tặng để tạ ơn, đồng thời giục mẹ sang đó mượn cuốn sách về xem.
Vợ Lai Chính nhất quyết không chịu nhận chiếc lược, Tây Hạ cứ nhét thẳng vào tay cô ta. Cô ta ngượng ngùng nói: "Thế này thì không phải phép đâu nhỉ", vừa nói vừa vén tà áo, nhét chiếc lược vào chiếc túi vải bên trong.
Mẹ bưng chậu bột lúa mì cùng vợ Lai Chính đi ra ngoài, độ chừng nửa tiếng sau thì quay về, quả nhiên cầm theo một cuốn sách.
Mẹ nói: "Mượn cuốn sách đọc mà con cũng cho người ta hẳn một chiếc cái lược, chiếc lược đó chắc cũng đáng giá năm sáu đồng chứ bộ!"
Tây Hạ nhìn kỹ cuốn sách đó, hóa ra là cuốn "Khang Hi từ điển" đã rách tung tóe, gáy sách bị chuột gặm nham nhở, vừa mở ra là rụng cả trang.
Mẹ hỏi: "Đây là sách gì mà bị chuột gặm thành ra thế này?"
Tây Hạ đáp: "Là một cuốn sách quý đấy ạ."
Mẹ nói: "Đến con chuột cũng biết cuốn sách này quý, thế mà Lai Chính lại làm cho nó bẩn thỉu thế này cơ chứ!?"
Tây Hạ nói: "Mẹ nói câu này hay thật, chuột nhà Lai Chính đúng là chuột có văn hóa."
Thế nhưng Tây Hạ lại chẳng có nhã hứng đọc cuốn từ điển này, thứ khiến cô hứng thú chính là một cuốn sách chép tay mỏng tang được kẹp bên trong từ điển, không ngờ lại là gia phả họ Cao.
Gia phả ghi chép lại thời điểm sớm nhất là họ Cao từ Khai Phong thời Tống, người con trai thứ hai là Cao Trọng Nhân dời cả nhà đến Tây Phủ, Thiểm Tây. Cao Trọng Nhân có năm người con trai, người con trai thứ tư là Cao Thế Đức vì anh em trở mặt nên phẫn chí bỏ nhà ra đi, dời đến định cư ở Tường Dương bên bờ bắc Hán Thủy. Cao Thế Đức sinh sôi nảy nở đời con cháu năm đời ở Tường Dương, con trai ông là Cao Trình lần lượt giữ chức Tham tướng phủ Thương Châu, Tổng binh phủ Hoa Châu tỉnh Thiểm Nam, vì có công dẹp giặc cỏ nên được sắc phong là "Võ Hiển tướng quân", con cháu đời sau tập tước đời đời giữ chức Tham tướng.
Đến bốn người cháu của Cao Trình lại tranh giành đấu đá lẫn nhau. Người thứ hai là Cao Diễn hại chết người thứ ba là Cao Hanh, cả nhà trưởng là Cao Bình lại mưu sát Cao Diễn, người thứ tư là Cao Ngưỡng trốn chạy cùng vợ con trong đêm tới Lĩnh Tịch Giáp sông Tây Lưu, rồi từ đời này sang đời khác sinh sôi nảy nở tại đây, hình thành nên người Cao Lão Trang.
Tuyết Hạ đọc đến đây, bật cười phá lên, thầm nghĩ tổ tiên họ Cao sao lại thích đấu đá nội bộ như thế, rõ ràng đã làm quan đến chức "Võ Hiển tướng quân" oai phong lẫm liệt biết nhường nào, nếu cứ tiếp tục phát triển thì hẳn phải là một vọng tộc hiển hách trong nước, chứ không đến mức bây giờ chỉ là một Cao Lão Trang nằm sâu trong núi thẳm thế này!
Tây Hạ đọc tiếp xuống dưới, khi thực sự đến giai đoạn lịch sử họ Cao ở Cao Lão Trang, gia phả liền biến thành dạng biểu đồ. Cao Ngưỡng sinh Cao Tường Thụy, cưới họ Vương sinh sáu con, con trưởng là Cao Hòa cưới họ Liễu sinh hai con, con thứ hai là Cao Tuấn cưới họ Châu sinh bốn con, con thứ tư là Cao Sùng Thuận cưới họ Trương sinh một con là Cao Trường Thủy, Cao Trường Thủy cưới họ Lục sinh một con, cưới họ Chu sinh hai con, lại cưới họ Nghiêm sinh một con là Cao Khuông Phù, Cao Khuông Phù cưới họ Ngưu sinh hai con, con thứ hai là Cao Phong cưới họ Ngu sinh ba con, cưới họ Bạch sinh ba con, người vợ họ Bạch sinh người con thứ hai là Cao Hối Phong cưới họ Điền sinh ba con...
Tây Hạ đọc mãi đọc hồi hoa cả mắt, đã không còn phân biệt được rõ mối quan hệ và thứ bậc vai vế giữa bọn họ nữa, bèn dứt khoát truy ngược từ người ông của Tử Lộ là Cao Tử Trí lên, tìm đến nhánh gia phả của Tử Lộ, đếm thử thì đời này đã là đời thứ ba mươi ba rồi.
Trong ba mươi ba đời này, các nhánh khác từng có người làm quan tri phủ, bốn vị quan huyện, còn có người được Hoàng đế Khang Hi nhà Thanh ban ân tứ "Khinh xa đô ú thế tập nhị đẳng", sắc phong vinh lộc đại phu, thế nhưng những nhánh này hầu như đều di cư đi nơi khác, lại có rất nhiều nhánh đã tuyệt tự, duy chỉ có nhánh gia phả của nhà Tử Lộ là duy trì lâu dài nhất, nhưng lại chỉ sinh ra một vị cử nhân, năm đời đoàn luyện, có người làm tiêu cục, xưởng nhuộm, hiệu buông gạo, tiệm cầm đồ, còn lại toàn là nông dân làm ruộng.
Tiếp nối đến đời ông của Tử Lộ, từ đó về sau không còn nối tiếp nữa, nhưng rõ ràng là ở vài trang cuối cùng của cuốn gia phả, ông của Tử Lộ đã dùng bút lông viết lại hai tài liệu. Một phần ghi rõ là ông chép lại từ huyện chí về những tai họa giáng xuống đầu và những chuyện kỳ lạ xảy ra ở Cao Lão Trang qua các triều đại, một phần là những miêu tả của ông về người Cao Lão Trang.
Tài liệu chép lại từ huyện chí khiến Tây Hạ kinh hãi khôn nguôi. Ví dụ như vào ngày tháng năm nọ trời đổ tuyết lớn, tuyết dày ba thước năm tấc, cửa sổ bị tuyết lấp kín, có mười lăm hộ dân bị vùi chết và đông cứng chết, những người sống sót đều dùng chảo gang nung đỏ lửa rồi giơ chảo đẩy tuyết đống ra ngoài. Năm nọ suốt bốn tháng trời không một giọt mưa rơi, mất mùa trắng tay, mười hai hộ trốn chạy nạn đói, ba mươi mốt người chết đói. Ngày tháng năm nọ trời đổ sương đen, hoa màu héo úa toàn bộ, con người ăn vỏ cây rễ cỏ, có tới tám đến mười người bị uất ức đến chết vì không rặn được phân ra. Ngày tháng năm nọ lũ quét bộc phát, phá hủy một trăm mẫu đất, cuốn trôi từ đường, năm hộ gia đình mất tích. Ngày tháng năm nọ đột nhiên mưa đá rơi suốt một canh giờ, Cao Phú Dân ở thôn Bắc Hạt Tử lẩn trốn dưới một tảng đá cuội chăn bò, con bò bị đá đè chết. Ngày tháng năm nọ xảy ra hỗn chiến, thôn Vĩ Hạt Tử chết ba người, thôn Nam Hạt Tử chết năm người. Ngày tháng năm nọ trên trời rơi xuống đá, viên nhỏ nhất to bằng nắm đấm, viên lớn nhất to bằng cái cối xay, cắm sâu xuống đất ba trượng, sau khi đào lên thì hình dáng y như than cháy. Tháng nọ dịch bệnh hoành hành, mười lăm mười sáu phần mười người dân bụng trướng to như cái trống, sáu hộ tuyệt tự, sau đó ăn đất Quan Âm thì dần bình phục. Ngày tháng năm nọ vợ của Cao Tử Kiệt là họ Dương sinh ra một quái thai đầu heo mình người, người vợ họ Dương bị người trong thôn trói đá dìm xuống sông Tây Lưu. Tháng nọ đại hạn, người Man rốn từ phía đông qua trấn Phong Lâu đến cướp phá, cướp đi bảy mươi con bò, hai trăm con cừu, vợ của một tiệm nhuộm ở thôn Yêu Hạt Tử bị hiếp dâm tập thể, sau đó sinh ba đứa con một lần, vì là giống lai nên hai mẹ con liền bị trói đá dìm xuống sông. Ngày tháng năm nọ động đất, sập hơn năm trăm gian nhà, cổng thành trại bị phá hủy. Ngày tháng năm nọ trời đổ mưa, thậm chí có cả cá. Tháng nọ bầy sói kéo đàn kéo lũ xuất hiện ban ngày. Ngày tháng năm nọ một hang động ở lĩnh Anh Giáp tuôn nước, sương mù bao phủ ba ngày không tan, người Hồ từ Bạch Vân Thấu tới, Cao Tam Giáp dẫn chúng giết giặc, Cao Tam Giáp tử trận, trại từ đó thất thủ, người trong thôn chạy trốn đến hang vách bờ nam sông Tây Lưu, mười ngày sau quay về, tài sản trong trại chỉ còn lại mười phần hai.
Tây Hạ lại nhìn sang bài văn ngắn đó, bài văn chẳng có chút văn phong nào cả, chỉ đơn thuần là ghi chép sự việc mà thôi. Trong đó điều khiến Tây Hạ cảm thấy thú vị nhất là ông của Tử Lộ mang đầy vẻ đắc ý viết rằng sau khi tổ tiên họ Cao di cư đến đây, nơi này vốn là một thung lũng hoang vu trong núi sâu, thượng hạ lưu sông Tây Lưu tuy có các bản làng của người Man phương Nam và người Di phương Bắc, nhưng họ Cao là tộc Hán duy nhất kiên quyết không cho phép cưới phụ nữ ngoại tộc làm vợ, đời này qua đời khác giữ gìn sự thuần khiết trong huyết thống của người Hán. Đặc điểm ngoại hình của họ là đàn ông da vàng râu lơ thơ, đầu dẹt mà dài, răng cửa to bản, mắt hai mí, ngón út ở chân có móng kép, phụ nữ bó chân, búi tóc, đeo túi vải dài ngực xệ. Họ là những người thông minh lanh lợi, coi trọng lễ nghi, biết võ nghệ, thích ăn các món làm từ bột mì và nội tạng động vật.
Tây Hạ thầm nghĩ: Mấy ngày nay đến đây tai nghe mắt thấy, người Cao Lão Trang quả nhiên đúng là như vậy, nhưng tại sao trong gia phả lại không ghi chép rằng người Cao Lão Trang thấp léo và xấu xí nhỉ? Lẽ nào từ đời ông của Tử Lộ trở lên người ta không thấp không xấu, hay là thời đó người ta đã thấp xấu rồi nhưng không muốn ghi chép hoặc làm như không thấy, chẳng thèm để tâm tới? Thế nhưng cô lập tức cởi giày tất kiểm tra xem ngón út chân mình có móng kép hay không, không có. Lại lấy gương soi lên mặt, mí mắt là mí đơn, làn da trắng nõn nà, cũng chẳng phải răng cửa to bản, cô bèn nghĩ: Người Cao Lão Trang tự xưng là người Hán thuần chủng, tôi cũng là người Hán, lẽ nào huyết thống của tôi thực sự không còn thuần khiết nữa? Tổ tiên của bản thân vốn dĩ không phải là người Hán, hoặc là người Hán, nhưng trong đó từng có sự pha tạp với các dân tộc khác rồi chăng?
Bấy giờ cô cảm thấy vô cùng nghi hoặc.
Buổi trưa, Tử Lộ trở về, thấy mẹ đang dùng chiếc bừa đập nhỏ đống phân chuồng vừa đào lên, liền nói: "Mẹ, ai bắt mẹ làm thế này, con ở nhà mà còn để mẹ phải tốn sức thế này à?"
Mẹ nói: "Thời tiết đẹp, đập nhỏ phân chuồng ra phơi phới, mấy bữa nữa bảo Khánh Lô đánh xe vận chuyển ra đồng. ...Chẳng lẽ mẹ không làm nổi mấy việc này chắc? Thắng hay thua đấy?"
Tử Lộ nói: "Thắng chẳng được mấy."
Bước vào gian nhà chính, Tây Hạ liếc nhìn sắc mặt của Tử Lộ, liền nói: "Chắc chắn là thua rồi, nếu mà thắng thì vừa bước vào cửa đã khoe khoang với mẹ ngay, phải khoe cho đống tiền thắng cược rung lên rào rào chứ, giờ thì mặt cắt không còn giọt máu, sao mà thắng được cơ chứ? Thua bao nhiêu?"
Tử Lộ nói: "Hai trăm năm mươi đồng. Vận may của chú Trọc vượng quá, vừa vào tay đã có ngay cái tên Lôi Cương bám riết không buông cái ghế nhà cái..."
Tây Hạ nói: "Thua thì thua chứ có gì mà không vui, chỉ là anh phải cẩn thận kẻo bị công an bắt quả tang sòng bạc đấy, người khác thì thế nào cũng được, chứ anh thì mất mặt lắm đấy!"
Tử Lộ nói: "Cái này thì đương nhiên tôi biết chứ. Mẹ kiếp, ba ván đầu tôi toàn thắng thôi, chú Trọc cứ nằng nặc đòi mượn tiền, lúc tôi cho ổng mượn tiền xong thì vận may tụt dốc thảm hại. Tôi còn định mua cho mẹ một bộ quần áo nữa chứ, thế mà lại thua sạch!"
Tây Hạ móc trong túi ra ba trăm đồng đưa cho Tử Lộ, nói: "Em cho anh ba trăm đồng đấy."
Tử Lộ cầm tiền bước ra ngoài, nói với mẹ: "Mẹ, Tây Hạ cứ bảo muốn mua cho mẹ một bộ quần áo, hôm nay vừa hay thắng được ít tiền, mẹ tự ra chợ trấn mà mua đi."
Mẹ nói: "Mua quần áo cho tao á? Tao là một bà già rồi còn diện màng cái nỗi gì, để cho Tây Hạ tự mua cho nó đi."
Tử Lộ nói: "Quần áo ở đây ống quần toàn ngắn ngủn thôi, cô ấy mặc không vừa đâu... Mẹ mà không chịu đi mua, cầm tiền này đi đánh mạt chược khéo lại thua hết đấy."
Tây Hạ đẩy cửa sổ ở phòng ngủ ra, nói: "Mẹ, mẹ cầm tiền đi, Tử Lộ cứ hễ thua tiền là lại biết hiếu thảo với người lớn ngay!"
Mẹ hỏi Tử Lộ: "Con thua thật đấy à?"
Tử Lộ nói: "Thua mà lại đưa được cho mẹ ba trăm đồng á?" Nói xong giật lấy cái bừa trong tay mẹ, đưa tiền cho mẹ, rồi giục mẹ sang nhà Ngân Tú mượn con lừa về, anh phải chở phân chuồng ra đồng.
Con lừa chở hai cái sọt phân lớn vận chuyển liền năm chuyến, con lừa thì vẫn còn tinh thần chán, nhưng Tử Lộ thì mồ hôi đầm đìa ướt sũng cả đầu lẫn người. Tây Hạ được mẹ dìu ra ngồi ở ngưỡng cửa gian nhà chính vẫn đang lật giật đọc cuốn gia phả đó. Đợi Tử Lộ vận chuyển phân xong, cô khen một câu "Tử Lộ cũng được phết nhỉ", Tử Lộ liền cởi chiếc mũ cói gãi gãi, cởi đôi tất gãi gãi, cởi thắt lưng gãi bên trái gãi bên phải, rồi kêu lên không ổn rồi, hồi xưa gánh phân suốt cả ngày, tối đến cầm đuốc chạy mười dặm đường để đuổi xem gánh hát bóng da trâu lưu diễn cơ mà.
Đang kêu ca như thế, bấy giờ thấy Tây Hạ không thèm đáp lời, anh liền bước tới nói: "Đúng thật là, lúc có răng thì chẳng có bánh quai vạc, lúc có bánh quai vạc thì lại rụng mất răng. Tây Hạ, bây giờ anh sợ nhất là em cứ tra khảo anh đấy!"
Tây Hạ thấy răng Tử Lộ cắn chặt vào khóe lưỡi, nước bọt túa ra đầy miệng, liền bảo: "Mẹ và Thạch Đầu đang ở trong nhà kho kìa!"
Tử Lộ liếc nhìn hướng nhà kho, cửa đang đóng kín, bèn bế thốc Tây Hạ lên đi thẳng về phòng ngủ.
Tây Hạ nói: "Lại gặp phải đứa nào ở bên ngoài hả, về nhà trút giận lên người em đấy à?"
Tử Lộ nói: "Giận thì không trút đâu, vừa nãy mới bước vào sân, thấy em ngồi ở đấy trông đẹp lắm... nhưng em ngẫm mà xem, gầy trơ ra như một lớp da bọc xương thế này, giới bóng đá có chuyện treo giày, anh chắc cũng phải 'treo roi' thôi."
Tây Hạ nói: "Ban ngày không được đâu, cứ đến tối là anh lại phát điên lên. Em hiểu ra rồi đấy, thảo nào người nhà quê lắm con thế, tối đến chẳng có trò giải trí nào khác, cứ hễ nghỉ ngơi là lại làm cái trò đó, lâu dần thành di truyền, anh mang cái gen đó sẵn trong người rồi đúng không, người Hán thuần chủng hóa ra ai cũng thích sắc dục dâm ô thế à?"
Tử Lộ nói: "Em không phải người Hán chắc?"
Tây Hạ giơ gia phả ra cho Tử Lộ xem, Tử Lộ kinh hô lên: "Cái này kiếm đâu ra thế này, anh từng nghe nói nhà họ Cao có gia phả, chỉ là không biết nó nằm ở xó xỉnh nào, em mới về có ba hôm rưỡi mà đã xem được rồi cơ à!"
Tây Hạ nói: "Vợ Lai Chính cho em mượn một cuốn 'Khang Hi từ điển', bên trong kẹp quyển gia phả này."
Tử Lộ nói: "Hồi nhỏ từng nghe nói ông nội giữ gia phả, sau đó thì mất tăm mất tích, hóa ra lại ở nhà Lai Chính! Hắn là kẻ thô lỗ, trên bức tường chụp bình phong nhà hắn còn khảm một tấm bia 'Đốc suất liên tộc bia', thế mà lũ trẻ con đập cho chữ nghĩa mờ tịt đi cả. Nếu em không nói mượn sách, khéo cuốn gia phả này tiêu đời thật rồi ấy chứ!"
Tây Hạ nói: "Còn có cả một tấm 'Đốc suất liên tộc bia' cơ à, trên đó khắc những gì thế?"
Tử Lộ nói: "Sao mà anh nhớ được, đại loại là nói về chuyện của họ Cao."
Tây Hạ liền bảo: "Chúng ta đi xem đi!"
Tử Lộ nói: "Em lại có hứng thú với họ Cao bọn anh thế cơ à?!" Hứa hẹn khi nào chân lành sẽ đưa cô đi xem.
Nhưng Tây Hạ tính tình nóng vội, nhất định phải đi ngay lập tức. Ngay lập tức bảo Tử Lộ cõng sang nhà Lai Chính.
Lai Chính không có nhà, vợ Lai Chính thấy Tử Lộ và Tây Hạ đột nhiên đến nhà, vui mừng như thể vừa tụng kinh niệm phật, vội vàng kéo ống bễ nấu nước đập trứng gà làm canh. Tử Lộ vội vàng ngăn lại, bảo không cần tiếp đón đâu, chỉ ghé qua xem tấm bia trên bức bình phong rồi đi ngay thôi.
Vợ Lai Chính ngờ ngợ khó hiểu, nói: "Xem cái đống đá ấy á, có gì mà xem chứ?" Nhưng vẫn cầm lấy chiếc giẻ lau, lau sạch lớp bùn đất bám trên tấm bia.
Căn nhà của Lai Chính đã cũ nát lắm rồi, nhưng sân nhà lại khá rộng, bức bình phong tường chụp cũng cao, tấm bia được khảm ngay chính giữa, được khắc vào năm Càn Long thứ ba hai triều nhà Thanh.
Hai người vừa đánh vần vừa đọc một lượt, Tây Hạ liền kêu lên rằng cô phải chép lại, khổ thân Tử Lộ lại phải chạy về nhà lấy giấy bút, một người đứng đọc một người ngồi viết, chép dày đặc mấy trang giấy:
Vật bản hồ thiên, nhân bản hồ tổ. Thiên giả nhân chi thủy, tổ giả nhân chi bản dã. Mạc bất niệm tổ nhi tất sách lưu dĩ cùng nguyên, mạc bất báo bản nhi tất do lai dĩ truy bản. Cẩu phổ hệ bất minh nhi khảo hạch hề tự? Mỗi thán thế nhân chi vô phổ, nhân đa thất bản nguyên. Ký vô hợp tộc liên thân chi tình, yên hữu tôn tổ kính tông chi nghĩa! Ngã cao hữu nguyên hữu ủy, phổ hệ chiêu nhiên, tạc hữu minh chứng: [năm ô chữ mờ]... cận tắc [năm ô chữ mờ] đẳng chi lực. Sở vị mạc vi chi trước tức mỹ bất chương, mạc vi chi hậu tuy thịnh phất kế, tắc ngã cao hữu phổ [hai ô chữ mờ] dã? Tự Càn Long canh ngọ do [hai ô chữ mờ]..., phàm ngã đồng bản tiếp chủng nhi lai. Hữu tộc hiền [ba ô chữ mờ] vị: Viễn thiên dị vực, khủng kỳ hậu đại nhật cửu di vong. Dữ thương thỉnh phổ, thả tụ phí tác từ, dĩ vi viễn thiên thùy viễn chi cử, dĩ lập liên tông báo bản chi nghĩa, hiệu hồ tổ địa chi mô. Thiển Dư thậm thị chi. Nhâm ngọ chi thu, [năm ô chữ mờ]..., trùng quyên phổ kim, cầu [một ô chữ mờ] toàn phổ, thủy hoạch khắc như kỳ nguyện. Khả vị di tử sửn yến dực chi mưu, đốc tông tộc nhất bản chi nghĩa dã. Nại thiên tư hậu duệ tinh tán nhi cư, tự gia chi niệm độc trọng, báo bản chi ý do khinh. Phi đản bạt thiệp chi gian, tức kiệm tư quyên chi. Lận đại phổ bản tiền dã kinh số tái, nãi hậu mạc tương thị, bất dĩ quan hoài, bất duy tương thị chi linh trí chi hoang miểu, tức ngã trung lão nhất phiến bà tâm tất phụ lưu thủy. Vu! Hà kỳ bất tri khinh trọng, bất tri hoãn cấp, chỉ mục hạ an dụ chi tư, bất tư cửu hậu di vong chi hoạn, trí ngu hiền bất tiếu, chỉ vu tư hề dã. [Hai ô chữ mờ] nhật tổ đan tư, bất hoàng an xứ, [năm ô chữ mờ] chi chí hợp tộc liên thân đốc thành thịnh cử chi tư! Phàm ngã tông nhân cộng bỉnh nhân hiếu chi tâm, vô phế tiên linh chi tự, thẩm kỷ lượng lực, [năm ô chữ mờ], dĩ khai bách đại [bốn ô chữ mờ]. Thả nhân đồng phổ hợp tộc, hợp tộc báo bản, báo bản nhi xương hậu, thì nhân luân minh vu thiên cổ, thế hệ chiêu vu bách đại. Thừa tiên khải hậu, kế vãng khai lai, viễn [ba ô chữ mờ], thục hữu quá ư thử giả, khởi khả thị thử giả vi phiếm thường nhi bất cộng phấn dĩ tác kỳ sự tai! Kim quả túc đẳng văn ngôn nhi khởi, các trí kỳ tâm, tương báo bản chi đại vu thử nhi khai kỳ đoan, nhi thiên bách thế chi quy mô lập dã. Thời Càn Long tam thập tam niên [năm ô chữ mờ] nguyệt cốc đán. Thừa thủ tộc [năm ô chữ mờ]〇 sinh [một ô chữ mờ] bái. [Mười một ô chữ mờ] đốn thủ bái soạn.
Chép xong, vợ Lai Chính cứ nằng nặc bắt Tử Lộ và Tây Hạ vào nhà ngồi chơi. Sau một hồi chối đẩy, hai người vào nhà ngồi một lát, chẳng ăn trứng gà đường mà mỗi người nếm một bát nước đường đỏ sôi, rồi Tử Lộ lại cõng Tây Hạ về.
Tây Hạ nói: "Em tình cờ nhìn thấy mấy tấm bia đá, toàn là kể về chuyện sinh sôi nảy nở ở Cao Lão Trang, em lại nảy ra một ý tưởng, hay là chép lại hết mấy văn bia này đi, biết đâu lại là một tài liệu khá hay ho đấy chứ."
Tử Lộ ngẩn người, nói: "Ý hay đấy! Người Cao Lão Trang thích lập bia đá lắm, hồi bé anh thấy nhiều lắm, giờ thì chẳng biết lưu lạc ở xó xỉnh nào rồi, nhưng muốn tìm thì kiểu gì cũng tìm được. Chép lại văn bia rồi thì em có thể biết được sự vĩ đại của Cao Lão Trang rồi nhé! Mấy chuyện này anh chẳng nghĩ ra, sao lại để người ngoài như em nghĩ ra cơ chứ?!"
Tây Hạ nói: "Em không phải con dâu nhà họ Cao chắc?"
Tử Lộ nói: "Hồi trước mà là anh thì anh đời nào dám cưới em, nhìn cái bộ dạng của em chẳng giống người Hán tẹo nào!"
Tuyết Hạ liền nhìn vào mắt Tử Lộ, mắt Tử Lộ là mắt hai mí. Nhìn vào răng cửa của Tử Lộ, răng cửa Tử Lộ hình cái xẻng. Lại bảo Tử Lộ cởi giày ra xem ngón út chân, ngón út chân quả nhiên cũng là móng kép. Tây Hạ cảm thấy một tia thất vọng dâng lên, lẩm bẩm: "Nói như vậy, hóa ra em thật sự không phải người Hán thuần chủng cơ à?!"
Tử Lộ đắc ý vênh mặt lên, bảo: "Anh đã bảo trông em giống người nước ngoài mà, quả nhiên là huyết thống không thuần khiết rồi. Quê gốc của em ở đâu cơ?"
Tây Hạ đáp: "Ở Sơn Tây, Sơn Tây không phải nước ngoài cũng chẳng phải khu vực sinh sống của dân tộc thiểu số nhé!"
Tử Lộ nói: "Thế thì chắc chắn là hồi người ngoại quốc hoặc Hung Nô xâm lược từng cưỡng hiếp phụ nữ đời nào nhà em rồi!"
Tuyết Hạ giáng một đấm vào trán Tử Lộ, tức giận: "Anh là người Hán, người Hán thuần chủng mà sao lùn tịt thế này, ngũ quan lại xấu xí thế cơ chứ?!"
Cô bỗng kêu lên: "Em hiểu rồi, em hiểu ra rồi!"
Tử Lộ hỏi: "Hiểu ra cái gì cơ?"
Tây Hạ nói: "Anh nói xem, người miền Bắc Trung Quốc trông đẹp hơn hay người miền Nam trông đẹp hơn?"
Tử Lộ đáp: "Đương nhiên người miền Bắc đẹp hơn rồi."
Tây Hạ lại hỏi: "Người Tây Nam trông đẹp hơn hay người Đông Nam trông đẹp hơn?"
Tử Lộ đáp: "Người Tây Nam đẹp hơn."
Tây Hạ nói: "Đúng thế, những người Hoa ở phía nam cũng như đến các quốc gia Đông Nam Á lại lùn tịt, chân ngắn, da mặt dày mỡ màng, y hệt như người Cao Lão Trang vậy, đó mới chính là người Hán thuần chủng đấy. Trong lịch sử Trung Quốc, các dân tộc ngoại tộc xâm lược nhiều, từng bước từng bước đẩy người Hán dồn về phía Đông Nam, dồn đến cái góc Đông Nam đó... Người Hán chính hiệu chính là cái bộ dạng ấy đấy!"
Tử Lộ ngẫm nghĩ, thấy Tây Hạ nói nghe cũng có chút lý lý, khí thế liền xìu xuống, bảo: "Cứ cho là em đang bôi nhọ người Hán đi, cho dù người Hán thuần chủng có cái bộ dạng đó thật đi nữa, thì đó cũng là do lịch sử của chúng ta quá lâu đời rồi, các người trông tinh thần thì tinh thần thật đấy, nhưng thế này thì khác gì khoảng cách gần với động vật đâu cơ chứ! Chúng ta có Khổng Tử, đứa nào bì được? Chúng ta có Vạn Lý Trường Thành, đứa nào bì được? Ngay cả món ăn lớn của chúng ta, trên thế giới này cũng chẳng có dân tộc nào sánh kịp đâu nhé!"
Tây Hạ nói: "Trường Thành thì tráng lệ thật đấy, nhưng anh có nghĩ tại sao người ta lại phải xây Trường Thành không? Trong các món ăn lớn người ta chú trọng đến màu sắc, hình dáng, hương vị, chính vì quá chú trọng đến màu sắc hình dáng hương vị của thức ăn mới khiến tỳ vị của người Hán ngày càng suy nhược, thể lực ngày càng kém cỏi. Có Khổng Tử, có Nho giáo, con người mới trở nên rụt rè sợ sệt... Tử Lộ, anh còn có thể kể ra nhiều ví dụ hơn nữa cơ mà, ví dụ như Kinh kịch chẳng hạn, độc nhất vô nhị trên thiên hạ; gấu trúc chẳng hạn, duy nhất trên đời không có cái thứ hai, thế nhưng đàn ông trong Kinh kịch lại phải giả làm đào kép, kép nhỏ không có râu nói chuyện thì cứ như hoạn quan; còn gấu trúc thì sao, eo thì béo ú, chân thì ngắn cũn, lại chẳng thể sinh sản nổi, ngay cả tỷ lệ mang thai cũng chỉ có một phần trăm hiệu quả!"
Tử Lộ la oai oái: "Hay nhỉ Tây Hạ, em cứ thế này mà sỉ nhục dân tộc Hán à?"
Tây Hạ nói: "Em đang nói là người Hán thuần chủng đã quá già cỗi rồi, nhân chủng đã thoái hóa rồi!"
Tử Lộ cãi không lại cô, bèn đè nghiến cô xuống giường kang, dùng tay vỗ vào cái mông đầy đặn kêu bốp bốp, miệng lầm bầm: "Thoái hóa thì thoái hóa, để xem anh xử lý em thế nào!"
Nhưng trong lòng lại nghĩ: Những điều cô ấy nói tuy anh chưa từng suy nghĩ nghiêm túc bao giờ, nhưng ngẫm lại vẫn cảm thấy mình cần phải đổi giống, thảo nào mà cưới được cô vợ giống như con ngựa Đại Uyên này. Tây Hạ cười cười lật người đứng dậy, nói: "Thể xác thoái hóa rồi, cuối cùng cũng chỉ còn lại mỗi cái bộ phận sinh dục!"
Tử Lộ lại chồm tới đấm đá, Tây Hạ dùng chân chống lại, ngờ đâu vừa dùng sức, vết thương đau nhói khiến cô la ỏi oai oái, liền nghe thấy tiếng mẹ gọi với vào từ nhà kho: "Tử Lộ, Tử Lộ!"