Cao Lão Trang

Lượt đọc: 92 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11

❊ ❊ ❊

Ngày hôm sau là ngày bận rộn và mệt mỏi nhất nhà Tử Lộ. Nữu Khôn đi nhờ xe công nông đầu dọc của chú Hói (Đột Tử) ra trấn Thiết Lung mua gạo bột. Khánh Lai, Thần Đường, Lai Chính và mấy thanh niên lực tráng khác khoác tay nhau đào hầm đất, bắc bếp rồng trong sân: Đầu tiên đào một cái hố dài, sau đó dùng gạch mộc nghiêng ngả xếp cái nọ cao hơn cái kia để làm lò, dùng một miệng lò nhóm lửa mà khiến năm cái chảo vòng lớn cùng lúc sôi sùng sục. Chuyên gia bắc bếp rồng cừ nhất là bác Lừa Nam, bác ấy làm thợ hồ cả đời, cái khang hay cái bếp nào trong thôn cũng đều là tay nghề của bác. Hễ bác đổ bệnh là mọi người lại tự mình mày mò, nhưng đường lửa của bếp làm ra luôn không thông suốt, đành phải khiêng bác đến làm chỉ đạo ngoài sân. Bác Lừa Nam gầy yếu hốc hác như một hình nhân bằng giấy, trên đầu thắt một dải băng. Vừa chỉ trỏ vị trí của cái bếp cuối cùng hơi thấp, bác vừa bảo với mẹ Tử Lộ rằng tối hôm qua bác mơ thấy bố Tử Lộ. Bố Tử Lộ mặc áo dài màu xanh, bảo chẳng bao lâu nữa ông ấy sẽ đến châu nọ châu kia để nhậm chức. Bác hỏi đi làm quan gì, bố Tử Lộ nháy mắt đầy vẻ quỷ quái thế là bác tỉnh giấc. Bác Lừa Nam nói: "Ổng có mệnh làm quan đấy, phỏng chừng là thật sự sắp làm quan ở bên đó rồi." Mẹ Tử Lộ nói: "Qua ba năm chịu tang rồi thì linh hồn không đi đầu thai thì cũng lên trời hoặc xuống địa ngục, dù sao cũng không phải cô hồn dã quỷ nữa." Tử Lộ nghe xong không nói gì, ba năm nay cậu chưa từng mơ thấy bố, nói ra sợ người ngoài chê cười. Hồi còn nhỏ, bà nội vẫn còn sống, bà từng bảo có một năm vị trụ trì già ở chùa Thái Hồ đến hóa duyên, nhìn qua ngôi nhà của họ rồi phán nhà này sắp có người ra làm quan. Cả nhà đều trông chờ vào bố, nhưng rốt cuộc bố chẳng làm quan ngày nào, chỉ có điều hồi trẻ từng biểu diễn kịch một lần, đóng vai Bao Công mặt đen, và cũng từng cùng chú Mê Hồ đóng vai "sự hỏa tuệ" vào dịp Rằm tháng Giêng, là một vị huyện quan thất phẩm mặt trắng mang mũ cánh chuồn. Người trong thôn lại chế giễu rằng bố làm quan thì đúng là làm quan thật, nhưng chỉ là quan trong kịch mà thôi. Bây giờ bác Lừa Nam kể chuyện nằm mơ, nếu giấc mơ này là do bố phù hộ, thì chức quan bố làm cũng chỉ là chức quan người trần mắt thịt không nhìn thấy được mà thôi.

Thần Đường phì cười, Khánh Lai nói: "Cậu đừng có cười nữa, mau khiêng hai viên gạch mộc đến đây!" Thần Đường khiêng gạch mộc đến, nói: "Thế này thì tốt rồi, chú Tư mà thực sự làm quan ở dưới Âm phủ, thì tiểu đệ Đắc Đắc nhà chúng ta sẽ có chỗ dựa rồi! Bác Lừa Nam, bác nói có phải không?" Bác Lừa Nam bảo: "Cũng đúng đấy, ít ra thì ở dưới đó ổng không phải chịu tội nữa." Thần Đường nói: "Đắc Đắc đệ cũng thật là, bố nuôi sắp làm quan đến nơi rồi mà cậu ta vẫn còn lo cho đôi giày vải cao su cũ nửa cũ mới của mình... Bác Lừa Nam, trên ván gác thực sự giấu giày cao su của cậu ta á?" Bác Lừa Nam đáp: "Thái Hoa tìm thấy rồi, quả nhiên là giấu trên ván gác." Nói xong, nước mắt lại trào ra.

Khánh Lai nói: "Thần Đường, đi gánh nước về quậy thêm một vũng bùn nữa đi!" Thần Đường đáp: "Cậu coi tôi là thợ phụ chắc?!" Thế nhưng cậu ta vẫn xách thùng đi ra suối gánh nước. Cậu ta vừa đi, Khánh Lai liền chửi: "Thần Đường đúng là cái đồ đầu óc chứa toàn nước cháo gạo, lầm bầm lầm bầm mãi không thôi!"

Trong bếp, Ký Lâm Nương được mời đến để "rán quả" (làm bánh quẩy/bánh rán). Theo quy tắc bao đời nay, cúng bái là phải dùng hoa tươi và hoa quả, —— mà hoa tươi với hoa quả thì làm sao bảo đảm lúc nào trong bốn mùa cũng có sẵn được —— thế là người ta bọc bột mì thành các hình thù hoa quả khác nhau rồi cho vào chảo dầu rán giòn. Ký Lâm Nương là cao thủ "rán quả". Tây Hạ cứ đứng nhìn Ký Lâm Nương và mẹ bận rộn bên bếp lò. Hai người đàn bà lớn tuổi ở cạnh nhau, Ký Lâm Nương trông lại sạch sẽ, xinh xắn và có khí chất đến vậy, cô không hiểu sao làng Cao Gia Trang lại có một người phụ nữ như thế! Liền nói: "Thím ơi, đôi giày da vải đế mềm cổ cao trên chân thím là do thím tự làm à?" Thím đáp: "Tay hết sức lực rồi, mũi khâu thưa trông xấu chết đi được!" Tây Hạ bảo: "Đẹp lắm chứ bộ! Nghe nói thím còn biết cắt hoa giấy, cả bức tranh vải chắp vá trên tường nhà Thần Đường cũng là do thím làm à?" Thím cười: "Đồ quê mùa cả, Tây Hạ chê cười rồi!" Tây Hạ nói: "Mấy hôm nữa cháu phải sang nhà thím học nghề mới được!" Thím liền đáp: "Tôi thế này mà cũng gọi là biết nghề á?!"

Mẹ nói: "Sao lại không phải chứ, ở Cao Gia Trang này còn ai có bản lĩnh ấy nữa?" Thím đáp: "Nhắc đến mới lạ, mười mấy năm nay người Cao Gia Trang cứ chết lần chết lượt, đều một tay tôi khâu áo quan, liệm cho người chết, trang điểm rồi nhập quan đấy. Đến ngày tôi nằm xuống, chắc cũng chẳng có ai rửa mặt trang điểm cho, cứ để tôi tha thướt bẩn thỉu mà đi." Nói xong, bà lão vốn định cười một tiếng, thế nhưng khóe miệng vừa nhe lên thì da thịt đã cứng đờ lại, chốc lát trông lại có vẻ vô cùng thê lương. Mẹ thở dài một hơi, đôi mắt lại ngấn lệ. Thím bảo: "Cậu xem kìa, tụi mình nói đi đâu mất tiêu rồi thế này?" Mẹ đáp: "Từ ngày ông ấy mất, ba năm nay nước mắt của tôi sắp khóc cạn luôn rồi..." Thím bảo: "Ai mà chẳng phải chết, lúc bố của Ký Lâm mất, tôi khóc một trận thả giàn rồi thôi. Người ta vẫn thường bảo sống lết lác chẳng bằng chết quách đi cho rồi, bệnh ung thư vòm họng của ông ấy đến giai đoạn cuối, ngày nào cũng đau đớn, tôi còn mong ổng sớm nhắm mắt cho khuất mắt, nhắm mắt sớm thì đỡ chịu tội sớm. Cậu chưa thấy lúc người ta hấp hối ai cũng mỉm cười một cái đó sao, e rằng ở dưới Âm phủ còn dễ chịu hơn trên dương thế ấy chứ! Bố của Ký Lâm và bố của Tử Lộ sinh thời là bạn cờ bạn rượu, bây giờ hai anh em người ta ở trển đang vui vẻ tưng bừng, tụi mình ở đây lại cứ nhìn nhau khóc lóc thế này à?!" Nghe một tràng nói vậy, mẹ cũng nín khóc.

Thím cúi thấp đầu xuống, khẽ hỏi: "Chuyện nhà Cẩu Tỏa, chị không qua tiếng nào à?" Mẹ đáp: "Cách có bức tường, dù cậu ta có quên mất ngày giỗ thì cũng nghe được động tĩnh bên này... Tôi không qua." Thím bảo: "Thế là chị không phải rồi, chị phải báo cho người ta một tiếng chứ, cậu ta đến hay không là chuyện của cậu ta, cậu ta không đến thì để người ngoài chê cười cậu ta!" Mẹ nói: "Vậy lát nữa tôi sang nói một tiếng." Ngoài sân, Tử Lộ gọi mẹ, hỏi chỗ nào còn dây điện, phải kéo một bóng đèn ra sân. Mẹ vội quẹt đôi tay dính bột đi ra ngoài. Tây Hạ hỏi: "Thím ơi, hai người vừa nhắc đến có phải là vợ chồng Trúc Thanh không?" Thím đáp: "Đó là một đôi chó má!" Tây Hạ hỏi: "Cả thím cũng mắng người ta cơ à?" Thím đáp: "Hồi nhỏ Cẩu Tỏa được bố cháu bỏ tiền cho đi học, lúc lớn lên lại không có hiếu với bác cả của cháu, bố cháu sang mắng vốn, mắng đến lúc tức nước vỡ bờ nên tát cho cậu ta một cái, vậy mà cậu ta lại ôm hận trong lòng, mấy năm nay chẳng thèm qua lại nhà cháu nữa. Thằng Thạch Đầu sinh ra bị tàn tật, cậu ta lại đi nói với người ta là bố cháu làm chuyện thất đức nên bị trời báo ứng đấy, cháu bảo thế có phải là một con chó điên không, cứ cắn càn!"

Tây Hạ "ừ" một tiếng, thấy mẹ bước vào nên không hỏi nữa.

Đến buổi chiều, những nàng dâu trong bản và ba bốn người phụ nữ trung niên trong thôn lần lượt đến rửa củ cải, gọt khoai tây, nhóm bếp luộc thịt. Những người phụ nữ này có lẽ dắt theo con trai con gái nhỏ của mình, vừa bước vào sân là lũ trẻ đã tụ tập hò hét đùa nghịch ầm ĩ. Bọn chúng chẳng hề buồn bã gì cả, đám tang hay tiệc tùng nhà nào trong thôn cũng đều là những ngày vui nhất đối với chúng. Thạch Đầu ngồi trên bồ cói chính là thủ lĩnh của chúng, sai đứa này làm cái này, sai đứa kia làm cái kia, sau đó lấy bút màu vẽ lên mặt, lên bụng hoặc vào cái mông lộ ra ngoài chiếc quần hở đáy của bọn chúng những hình thù kỳ quái. Có những người đến xách một cặp thùng không, những chiếc thùng gỗ này được xếp thành một hàng ngoài cửa bếp, dùng để đựng cơm thừa canh cặn, nước vo gạo rửa chảo, mang về nhà cho lợn ăn. Đàn ông thì ai nấy đều có nhiệm vụ riêng, miệng ngậm điếu thuốc giấy, sau tai còn dắt hờ một điếu thuốc giấy khác. Mấy người phụ nữ thì lóc phần thịt nguyên miếng vớt ra từ nồi lớn, khúc xương lọc ra được thì đưa cho lũ trẻ cầm gặm. Mấy con chó ngửi thấy mùi thịt thơm lừng bèn sủa gâu gâu ở cửa sân, sơ sẩy một cái là lao vụt vào ngoạm lấy khúc xương trên tay đứa trẻ rồi chạy mất dạng. Đứa trẻ òa khóc nức nở, còn lũ trẻ khác thì cười ha hả, chúng cứ quẩn quanh cản trở công việc của người lớn. Thần Đường nổi giận mắng: "Tất cả cút ra ngoài hết cho tao, không thấy người lớn đang bận rộn cuống cuồng cả lên à?"

Tử Lộ kéo Tây Hạ sang một bên, bảo: "Em ra ngồi ở chỗ lọc xương đi, em ngồi ở đó thì mấy bà ấy sẽ ngại không dám ăn vụng hay mang cho con cái." Tây Hạ đáp: "Anh keo kiệt thật đấy, ăn thì đáng bao nhiêu?" Tử Lộ bảo: "Mấy bà mụ này chẳng khác gì lũ sói đói cả." Tây Hạ không chịu đi, Tử Lộ đành nói với mẹ. Mẹ giao chỗ thịt đã luộc chín cho mẹ của Khánh Lai, bảo bà ấy chuyên môn cắt thành thỏi dài hoặc hình khối, mang vào cất trong căn nhà phụ của Cúc Oa. Tử Lộ lại quay sang nói với Tây Hạ: "Mấy khúc xương đó vẫn chưa lọc xong, thịt vẫn còn dính đầy kìa, hay là em dẫn bọn trẻ ra khoảng sân trước chơi đi?" Tây Hạ giơ ngón út ra chế nhạo Tử Lộ, nhưng rồi cũng đành nhún vai, dẫn lũ trẻ ra bãi đất trống trước cửa nhà Nữu Khôn.

Tây Hạ cố tình nán lại bãi đất trống thêm một lúc, trời dần dần tối hẳn. Có hai đứa trẻ cuối cùng không cưỡng lại được sự cám dỗ của mùi thịt thơm bèn chạy ngược về phía sân, vừa vào đến ngõ liền la làng: "Bọn rựa rúc đến rồi! Bọn rựa rúc đến rồi!" Tiếp theo có tiếng người chửi với theo: "Rựa rúc cái con khỉ khô gì, nhớ cho kỹ, đó là ban nhạc sáo kèn đấy!" Thứa nhỏ lại kêu lên: "Đội người cho uống thuốc đến rồi!"

Bốp bốp hai tiếng, đứa trẻ phần lớn là bị đánh cho khóc ré lên, vừa mếu máo vừa chạy vừa chửi "đM mày, tổ cha tụi mày!". Ở đầu ngõ có tiếng chửi bới, lũ trẻ bên này tưởng chửi mình nên cũng hùa theo chửi lại, mấy đứa khác tưởng chửi tụi nó thế là cũng xông vào cào cấu lẫn nhau. Tây Hạ người thì dỗ, kẻ thì mắng, mãi mới dẹp yên được cuộc hỗn chiến. Bỗng một tiếng rên rỉ ỉ ôi truyền đến, thoạt đầu cứ ngỡ chú Mê Hồ lại đang nghêu ngao hát hò ở đâu đó, nhưng lắng tai nghe kỹ thì không phải hát, mà là đang khóc. Mẹ cũng hớt hải chạy ra, nói: "Tây Hạ, con mau ra đầu thôn đón người đi, mấy người chị em họ của con tới rồi đấy!" Bà cầm trên tay một chiếc khăn tang trắng, đội lên đầu cho Tây Hạ. Tây Hạ đi ra đầu thôn, vợ của Lai Chính cũng đi đón người. Bốn người con hiếu thảo đều đội khăn tang trắng trên đầu, mặc áo trắng, xách theo lồng cúng tế, mang theo các loại vàng mã tiền vàng, vừa khóc nghẹn ngào như hát, vừa cách quãng gọi các con trai con gái đi đường cho cẩn thận, đừng chạy rông lung tung.

Vợ Lai Chính kéo lấy lồng cúng tế, bảo: "Mấy người tới sớm thế chứ." Một người đáp: "Không sớm đâu, tụi em bàn nhau đứng đợi ở ngã tư đông trấn để tập trung đủ rồi đi một thể đấy chứ. Con bé Tuyết Hoa còn nhỏ, đi đứng chậm chạp, tụi em thực sự sợ đến muộn lại để người ta chê cười!" Rồi hỏi Tây Hạ là ai. Vợ Lai Chính giới thiệu, người lớn tuổi hơn là chị Trúc Yêu, con gái của bác Ba; Lập Thượng là con gái lớn của bác Lao Đấu; Tuyết Hoa là con gái út của bác Lao Đấu; Mạch Hoa là em gái của Thần Đường. Đám chị em liền kéo tay Tây Hạ, nói dăm ba câu thân thiết, lại kéo mấy đứa nhỏ lại gần gọi thím, bảo: "Phải học hành cho chăm chỉ vào, sau này học giỏi để thi đậu đại học, có bản lĩnh giống như cậu với thím các con vậy đó!"

Đám người lục tục đi về nhà, vừa bước vào đầu ngõ, bốn người con hiếu lại ỉ ôi khóc lớn.

Về đến nhà, trong sân đã có rất nhiều người. Dưới gốc cây anh đào bày hai chiếc bàn gỗ, một bàn đặt chũm chọe, chiêng, trống, phách và kèn sô-na, một bàn đặt những chiếc kèn đồng đỏ dài ngắn khác nhau, trước mỗi bàn ngồi một tốp người. Những người phụ nữ đến giúp đỡ trông vô cùng bận rộn, người ra kẻ vào sắp xếp bàn ghế, thu dọn bát đũa, nhộn nhịp chuẩn bị ăn cơm tối. Vợ của Thần Đường đang ngồi xổm ở cửa sân tước hành, đứa con gái nhỏ cứ quấy khóc đòi bú, cô ta liền buôngõ tay ra, để đứa trẻ từ trong ngực mò ra một cục thịt mềm tự bú mớm, bầu ngực ấy thoạt nhìn thậm chí còn to hơn cả cái đầu của đứa trẻ. Có người liền trêu: "Thuận Nữ, Thuận Nữ à, cậu vạch ngực ra trước đông đảo người thế này cơ à?!" Thuận Nữ đáp: "Già cả từng này rồi, tôi sợ gì chứ!" Người kia nói: "Đúng là lúc chưa cưới thì là vú vàng, kết hôn rồi thành vú bạc, đến lúc sinh con xong thì thành vú heo mất tiêu!" Cả sân cười ồ lên. Thuận Nữ vùng đứng dậy, tiện tay cầm cọng hành vừa tước quẹt thẳng vào mí mắt người nọ khiến nước mắt chảy ra vì háng: "Cho cậu nhìn xem, vợ cậu cũng có chứ bộ..." nhưng rồi không nói nữa, vội vã chạy sang thì thầm vào tai mẹ: "Thằng điên Mê Hồ đến kìa!" Tây Hạ bảo: "Nó đến thì càng hay, ban nhạc không phải đang định thổi kèn đánh trống đó sao, bảo nó hát bài 'Hắc Sơn Bạch Vân Cừu...' đi." Mẹ trừng mắt lườm cô một cái, bảo Thuận Nữ: "Đến thì cho người ta ăn cơm."

Bịch một tiếng ngoài cửa, chú Mê Hồ đem một thứ gì đó nặng nề vác trên lưng dựa vào khung cửa, đứng thẳng dậy lớn tiếng nói: "Tôi cũng đến góp vui cho anh Tư của tôi đây!" Tay cầm chiếc đàn hồ cầm. Lai Chính nói: "Tôi cứ tưởng ông mang món quà trọng đại gì tới, hóa ra vác một hòn đá! Đúng là ông có sức mà không biết dùng vào việc gì, sao ban ngày không đi chặt củi gánh nước đi?!" Chú Mê Hồ đáp: "Cậu ra xem thử đó có phải là hòn đá không đi, đó là bia đá đấy! Bia cấm sơn thời nhà Thanh đấy! Thuyên Tử đào hầm nước tiểu đào được, tôi vác về ngày mai cắm ở sườn núi Thái Dương đấy!"

Tây Hạ là người đầu tiên chạy tới xem, nói: "Đúng là một tấm bia đá thật này!" Nhưng mọi người chẳng ai có hứng thú đi xem cả, bảo: "Chú Mê Hồ phụ trách việc canh gác rừng núi, rất đáng biểu dương! Nhưng tối nay chú lại dám tự ý rời khỏi vị trí công tác đấy nhé!" Chú Mê Hồ đáp: "Tôi chẳng phải muốn đến góp vui cho anh Tư nhà tôi sao?" Lai Chính nói: "Ông đâu phải đến góp vui cho anh Tư, ông đến chực ăn chực uống thì có!" Chú Mê Hồ bảo: "Tôi không ăn, tôi mấy ngày nay chẳng ăn gì cả, Thuận Nữ gom hết lương thực của tôi đi rồi, tôi lấy gì mà ăn? Tôi uống nước thôi!"

Trong sân lại vang lên một tiếng cười rộ. Tây Hạ cầm diêm soi đèn xem tấm bia đá đó, bia cao khoảng hai thước, rộng chưa tới một thước, được lập vào năm Đạo Quang thứ ba mươi triều nhà Thanh, trên khắc:

Nơi đây không cho phép chặt cây trộm cắp, phóng hỏa đốt núi. Kẻ nào dám không tuân theo, cố tình phạm phải, phạt diễn một sân kịch, ba cỗ bàn rượu, số cây cối củi cỏ vẫn phải bồi thường theo giá trị. Đặc biệt khắc đá lập bia thông báo.

Đến giờ ăn cơm, chú Mê Hồ liền ngồi xuống bên chiếc bàn gỗ, quả nhiên ông không ăn gì cả, mà kéo một khúc hồ cầm. Khúc đàn kéo thực sự rất hay, nhưng mọi người ai nấy đều tranh nhau đi ăn cơm nên chẳng có ai nghe cả. Tây Hạ bèn ngồi xuống bên chiếc bàn gỗ, hai tay chống cằm lắng nghe ông kéo. Cô nhìn thấy chú Mê Hồ dường như không hề bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh, kéo đàn vô cùng tập trung. Về sau, chính ông lại bị giai điệu của mình làm cho cảm động đến mức nước mắt giàn giụa, và Tây Hạ cũng vì dáng vẻ đó của chú Mê Hồ mà xúc động muốn khóc.

Mẹ bước tới, nằng nặc nhét một bát cơm vào tay bắt ông ăn, nhưng ông vẫn lắc đầu không chịu ăn. Mẹ liền kéo Tây Hạ ra, Tây Hạ nói: "Chú Mê Hồ không phải là người điên mà!" Mẹ đáp: "Không điên thì sao có thể kéo đàn đến mức tự mình bật khóc được chứ? Con càng nhìn ông ấy, cơn điên lại càng phát tác dữ dội hơn đấy!"

Ăn cơm xong, mẹ lấy một bộ đồ tang đưa cho Tây Hạ vào phòng ngủ thay, bảo lát nữa đám con hiếu phải ra mồ mã đón linh hồn người chết về. Đây là lần đầu tiên Tây Hạ mặc đồ tang, lúc soi gương, cô chợt cảm thấy bản thân trông xinh xắn đến lạ, liền kéo mấy dải vải trắng ở vạt áo chéo cho thật chặt, lại nhét hết tóc mái vào trong chiếc mũ tang, hơn nữa còn cảm thấy vành mũ kéo thấp xuống một chút trông sẽ đẹp hơn.

Chiếc rèm cửa vén lên, một người phụ nữ cũng mặc đồ tang bước vào. Tây Hạ nhìn sang, thấy người phụ nữ đó chiều cao trung bình, mặt trái xoan, lông mày cong mắt to. Thế nhưng lúc vén rèm bước vào, người phụ nữ ấy chợt nhìn thấy Tây Hạ đang đứng trước gương, khẽ "ơ" lên một tiếng, chốc lát ngẩn người ra đấy.

Tây Hạ mỉm cười chào hỏi, người phụ nữ kia cũng mỉm cười đáp lại, đoạn ngẩng đầu nhìn lên phía trên chiếc tủ, nói một câu "À, không có ở đây", rồi quay người bước ra ngoài. Tây Hạ thừa hiểu khoảnh khắc cô ấy nhìn lên chiếc tủ lúc nãy, bao gồm cả câu nói vừa thốt ra đó, đều chỉ là một sự che đậy trong lúc hoảng loạn, một cái cớ để chuồn đi mà thôi. Nhưng Tây Hạ chợt giật mình nhận ra: Đây chẳng lẽ là Cúc Oa sao?

Cô bò sát vào cửa sổ, dùng ngón tay chọc thủng một lỗ trên lớp giấy dán cửa để nhìn ra ngoài. Người phụ nữ đó đã chui vào trong bếp, mà Tử Lộ thì đang bận rộn phát thuốc lá cho hai ban nhạc, tiện đà cũng bước vào bếp theo.

Tây Hạ đoán tám phần đây chính là Cúc Oa, liền cố tình bước ra ngoài, định đi về phía phòng bếp. Dưới hiên nhà có người đang chỉ trỏ chỏ, Trúc Thanh đã đưa mắt ra hiệu cho cô, vẫy tay gọi cô qua đó. Tây Hạ thầm nghĩ: Mười phần chắc chắn là Cúc Oa rồi! Nhưng cô cố tình phớt lờ Trúc Thanh, thậm chí còn ra vẻ hoàn toàn không hay biết chuyện gì đang xảy ra, đứng ngây ra ở ngoài cửa bếp, dọn dẹp bát đũa trên chiếc bàn ăn nhỏ.

Trong bếp, Cúc Oa đang ngồi trước miệng lò nấu nướng, ánh lửa đỏ rực hắt lên khuôn mặt cô ta. Tử Lộ đứng bên bếp lò, ánh mắt đăm đăm nhìn Cúc Oa cất tiếng nói khẽ. Cô nghe thấy Tử Lộ nói: "Sao buổi trưa em không về?"

Cúc Oa đáp: "...Em bảo chờ trời tối hãy về, trời tối đông người, chị ấy sẽ không để ý đến em."

Tử Lộ nói: "...Chị ấy không thể không về..."

Cúc Oa đáp: "...Anh cũng chẳng thèm giới thiệu cho em nhìn một cái."

Tử Lộ không đáp, ho khúc khích. Khuôn mặt Cúc Oa bỗng chốc tối sầm lại, có vẻ như lửa trong lò đã tắt, cô ta cúi đầu thổi lửa, nhưng thổi thế nào cũng chỉ thấy khói bốc nghi ngút, tiếng ho của Tử Lộ lại càng dữ dội hơn.

Cúc Oa với lấy một nắm rơm rạ ở góc tường phía sau, châm lại một que diêm khác, ngọn lửa lại bùng lên đỏ rực, nhưng ngay sau đó là một tiếng "bốp" vang lên, tro bụi bay mù mịt, rơi một lớp tro đen sì lên mũ tang và áo tang, miệng lẩm bẩm: "Tôi đã sớm nói rồi mà, anh sẽ tìm một cô vợ chưa cưới cơ chứ, hóa ra vẫn chỉ là một con nhóc con thôi!"

Tử Lộ lại câm nín, cầm chiếc giẻ lau bếp lau chùi bệ bếp. Cúc Oa bảo: "Anh đi ra đi, đừng ở đây để người ta cười chê."

Tử Lộ nói: "...Thằng Thạch Đầu biết vẽ tranh đấy, Thạch Đầu học vẽ từ bao giờ thế?"

Cúc Oa đáp: "Anh vẫn còn nhớ mẹ con tôi cơ à?!"

Tây Hạ vô tình làm rơi một chiếc bát xuống đất, tiếng động không lớn lắm nhưng chiếc bát đã vỡ tung làm đôi. Cô vội vàng nhặt lên định đặt lên bệ cửa sổ, lúc này mới ý thức được bản thân đứng ở đây là không thích hợp chút nào, thậm chí việc lén nghe người ta nói chuyện có phần nào đó hơi đê tiện, bèn bước về phía Trúc Thanh, nói: "Thì ra là chị dâu Trúc Thanh à, chị chưa ăn cơm sao?"

Trúc Thanh đáp: "Chị không đói bụng, ăn nửa bát thôi... Tây Hạ này, em tuyệt đối đừng vào trong bếp đấy, em có biết không, người đang ngồi nhóm lửa chính là Cúc Oa, mẹ của thằng Thạch Đầu đấy."

Tây Hạ nói: "Là chị Cúc Oa à, em còn rất muốn sang gặp chị ấy đây này."

Trúc Thanh bảo: "Đúng là người thành phố có khác! Đáng lẽ ra Cúc Oa phải đến gặp em mới phải chứ, cô ta bây giờ đâu còn là người nhà họ Cao nữa đâu! Em tuy còn nhỏ, nhưng em mới là con dâu đường đường chính chính của nhà họ Cao cơ mà! Sao cô ta còn mặt mũi mà quay về chứ?"

Tây Hạ nói: "Lúc bố em lâm chung chính là chị ấy chăm sóc mà... Hơn nữa, Thạch Đầu vẫn gọi chị ấy là mẹ cơ mà."

Trúc Thanh bĩu môi: "Cô ta có phúc đức gì với nhà họ Cao chứ, sinh ra một đứa con lại còn bị tàn tật! Khi nào thì đến lượt em, sinh một đứa cho cô ta mở mang tầm mắt xem nào, khéo lúc đấy cô ta có muốn ở lại căn nhà phụ cũng chẳng ở nổi nữa ấy chứ!"

Tây Hạ cảm thấy chán ghét từ tận đáy lòng những người phụ nữ chuyên đi nói chuyện thị phi này, bèn làm ra vẻ không hiểu lời cô ta nói, ngẩng đầu nhìn lên bầu trời đêm đằng xa, nơi những chiếc đèn trời đang bay lơ lửng lập lòe tiến lại gần, bay thẳng đến phía trên đỉnh sân. Cô cất tiếng: "Á chà, ai thả thế kia?"

Trúc Thanh đáp: "Chắc là người trong thôn làm cho chú Tư đấy nhỉ? Mà em phải sinh lấy một đứa con đấy nhé, có cố gắng thế nào thì cũng phải đẻ được một đứa ra cho nở mày nở mặt chứ!"

Tây Hạ đáp: "Đèn trời to quá cơ!"

Trúc Thanh lầm bầm một câu: "Đúng là người cao đầu thường hay ngốc nghếch." Nói đoạn liền đứng dậy đi về hướng nhà bếp, và ngay lập tức trong bếp lại vang lên tiếng nói cười sang sảng của cô ta. Tây Hạ nhìn thấy ngoài cửa sân có một đám trẻ con ùa vào, la hét: "Chó dính trứng rồi! Chó dính trứng rồi!" Tiếp theo là tiếng chó kêu ỉ ôi thảm thiết, một con chó bị kéo mạnh ra cửa, đuôi con này dính chặt vào đuôi con kia, mỗi con chạy một ngả nhưng không tài nào chạy thoát được, con chó đực ở đằng trước cứ thế lôi xề sệ con chó cái ở đằng sau. Khánh Lai đi ra chửi mắng một trận, lũ trẻ tản ra hết, đôi chó dính nhau đó cũng lê lết cái chân què chạy mất dạng.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.