Tương lai là gì ? Quá khứ là gì ? Chúng ta là gì ? Những ma thuật bao quanh chúng ta và che đậy những điều chúng ta cần phải biết nhất là gì ? Chúng ta sống và chết giữa những điều kỳ diệu.
- Napoleon Bonaparte-
Thế là cả hai, Kamel và tôi, cùng đi lên dãy núi kỳ diệu. Một cuộc hành trình vào khu người Kabyle. Càng đi sâu vào lãnh địa bỏ hoang này, tôi càng mất cảm giác tiếp xúc với những thứ có vẻ thật với mình.
Không ai biết chính xác Kabyle bắt nguồn và kết thúc ở đâu. Một mê cung rối ren phức tạp những chóp núi cao và hẻm núi sâu xen vào giữa phía nam Medjerdas của Constantine và Hodnas bên dưới Bouira. Vùng Kabyle xinh đẹp và nhỏ nhắn, những rặng núi rộng lớn phía trước ngọn Atlas cao ngất, trải dài trên ba mươi ngàn cây số, cuối cùng đổ nhào xuống con đường đá dốc vào bờ biển gần Bejaia.
Khi Kamel lái chiếc Citroen màu đen dọc con đường đất quanh co giữa những hàng bạch đàn lâu đời, những ngọn đồi xanh ngắt sừng sững trước mặt chúng tôi, uy nghi, đỉnh núi phủ tuyết, và kỳ bí. Bên dưới trải dài Tizi-Ouzou, hẻm núi của Gorse, nơi những cây thạch nam hoang dại của Algeria mọc đầy thung lũng rộng lớn trong sắc hoa vân anh rực rỡ, cành nở đầy hoa rung rinh như sóng biển theo từng làn gió oi nồng. Mùi hương có sức hấp dẫn kỳ lạ, nồng nàn tràn ngập không gian.
Làn nước xanh ngắt trong veo của Ouled Sebaou gợn sóng lăn tăn qua những cây thạch nam sâu đến đầu gối nằm bên đường. Dòng sông này, bồi đắp từ tuyết tan chảy mùa xuân, uốn khúc ba trăm dặm đến đỉnh Bengut, tưới nước cho Tizi-Ouzou suốt mùa hè nóng bức kéo dài. Khó mà hình dung chúng tôi chỉ mới đi ba mươi dặm từ Địa Trung Hải sương mù bao phủ và chín mươi dặm đến phía nam trải dài sa mạc lớn nhất thế giới.
Kamel im lặng một cách lạ lùng suốt bốn giờ đồng hồ kể từ lúc đến đón tôi ở khách sạn. Khá lâu kể từ khi hứa, gần hai tháng, ông ta mới đưa tôi đi. Thời gian đó ông ta giao cho tôi nhiệm vụ kiểu đuổi ruồi. Tôi kiểm tra nhà máy lọc dầu, trục nâng và phân xưởng. Tôi trông thấy các phụ nữ đeo mạng che mặt đi chân trần ngồi trên sàn nhà máy bột mì tách bột mì cần mẫn; mắt tôi muốn rát bỏng với cái nóng bức của những nhà máy dệt chứa đầy vật liệu, phổi cháy với các khu kiểm tra đầu ra; và tôi suýt ngã chỏng đầu vào thùng thép nâu chảy từ giàn giáo bấp bênh tại nhà máy lọc dầu. Ông ấy gửi tôi đến mọi nơi tại khu phía tây đất nước - Oran, Tlemcen, Sidi-bel-Abbès - để tôi có thể thu thập dữ liệu cần thiết làm nền tảng cho mô hình của ông ấy. Nhưng ông không bao giờ cho tôi đến phía đông, nơi cư ngụ của dân Kabyle.
Suốt bảy tuần tôi nạp dữ liệu về mọi ngành cho các máy vi tính lớn tại Sonatrach, khối kết dầu. Thậm chí tôi còn nhờ nhân viên tổng đài điện thoại Therese thu thập số liệu từ chính phủ về sản phẩm dầu và sự tiêu thụ ở các nước khác để tôi có thể so sánh cán cân mậu dịch và xem xét nước nào gặp khó khăn nhất. Như tôi đã chỉ ra với Kamel, không dễ lắp ráp cẩu thả một hệ thống tại một đất nước mà phương tiện thông tin liên lạc phân nửa nhờ tổng đài thời Thế chiến thứ nhất và phân nửa nhờ lạc đà. Thế nhưng tôi cố hết sức.
Mặt khác, dường như tôi đi khá xa mục tiêu theo vết Bộ cờ Montglane. Tôi không nghe gì từ Solarin hay bà thầy bói, người cùng phe anh ta. Therese đã gửi tin nhắn tôi có thể nghĩ ra cho Nim, Lily và Mordecai mà không kết quả gì. Những nơi tôi quan tâm đều mất thông tin. Và Kamel gửi tôi đi quá xa, gần như tôi cảm thấy ông ta biết chuyện tôi đang lên kế hoạch. Mới sáng nay ông có mặt tại khách sạn tôi ở, mời tôi đi "chuyến đi tôi đã hứa với cô".
"Ông lớn lên tại vùng này à ?" tôi nói, quay cửa sổ kính màu xuống để nhìn rõ hơn.
"Ở rặng núi phía sau", Kamel đáp. "Hầu hết các ngôi làng đều nằm trên đỉnh núi cao và có khung cảnh thơ mộng. Có nơi nào cụ thể cô muốn đi không, hay tôi chỉ đưa cô tham quan bao quát ?"
"Thật ra có một nhà buôn đồ cổ tôi muốn ghé, đồng nghiệp của một người bạn ở New York của tôi, tôi hứa đến cửa hàng ông ấy nếu tiện đường...", tôi nghĩ tốt nhất nên ra vẻ bình thường vì tôi không biết nhiều về đối tác của Llewellyn. Tôi không thể tìm thấy ngôi làng trên bản đồ nào mặc dù, như Kamel nói, bản đồ địa lý Algeria khá thưa thớt.
"Đồ cổ à ?" Kamel nói. "Không mấy nơi bán đâu. Bất cứ thứ gì có giá trị đã được mang vào bảo tàng lâu rồi. Tên cửa hiệu là gì ?"
"Tôi không biết. Ngôi làng mang tên Ain Ka'abah", tôi nói. "Llewellyn nói đó là cửa hiệu đồ cổ duy nhất trong vùng".
"Lạ quá", Kamel nói, vẫn nhìn đường. "Am Ka'abah là ngôi làng tôi lớn lên. Đó là một nơi nhỏ xíu, cách xa mặt đường, nhưng không có cửa hàng đồ cổ nào ở đó, tôi chắc chắn".
Kéo quyển sổ địa chỉ khỏi túi, tôi lật đến khi tìm ra mảnh giấy nguệch ngoạc vội vã của Llewellyn.
"Đây rồi. Không có tên đường, nhưng nó nằm phía bắc thị trấn. Có vẻ họ chuyên về thảm cổ, tên người chủ là El-Marad". Chắc tôi chỉ tưởng tượng rằng Kamel hơi tái xanh khi nghe những lời đó. Hàm ông cứng và giọng nói có vẻ căng thẳng lúc lên tiếng.
"El-Marad", ông nói. "Tôi biết ông ta. Ông ấy là nhà buôn lớn nhất miền, nổi tiếng về mặt hàng thảm. Cô muốn mua một cái à ?"
"Thật ra không phải", tôi nói, trở nên thận trọng. Kamel không nói tôi nghe hết tất cả dù tôi có thể thấy từ khuôn mặt ông ta có điều không ổn. "Người bạn ở New York của tôi chỉ nói tôi ghé qua và tán gẫu. Nếu việc đó gây rắc rối, tôi có thể tự mình đến sau".
Kamel không nói gì mất mấy phút, dường như ông đang suy nghĩ. Chúng tôi đến cuối thung lũng và bắt đầu lên con đường đi vào dãy núi. Những cây trái ra hoa rải rác cuộn tròn các đồng cỏ mùa xuân tươi mát. Những đứa nhỏ đứng bên đường bán các bó măng tây dại, nấm đen màu mỡ và hoa thủy tiên thơm ngát. Kamel dừng lại và trao đổi vài phút bằng ngôn ngữ kỳ lạ, tiếng địa phương Berber nghe như tiếng kêu nhỏ nhẹ của chim. Sau đó ông quay đầu qua cửa sổ, đưa tôi một bó hoa thơm ngát.
"Nếu cô định đi gặp El-Marad", ông nói, có lại nụ cười như trước, "tôi hy vọng cô biết cách trao đổi. Ông ta tàn nhẫn và giàu gấp mười lần một người Ả Rập du cư. Tôi chưa gặp ông ta, thật ra tôi không ở nhà từ khi cha tôi mất. Ngôi làng có nhiều kỷ niệm với tôi".
"Chúng ta không phải đi", tôi lặp lại.
"Tất nhiên chúng ta sẽ đi", Kamel kiên quyết nói, dù giọng ông ta không hăng hái mấy. "Cô không bao giờ tìm ra chỗ mà không đi với tôi. Hơn nữa, El-Marad sẽ ngạc nhiên khi gặp tôi. Ông ta là trưởng làng từ khi cha tôi mất". Kamel lại im thin thít trông khá dữ tợn. Tôi tự hỏi điều gì đang xảy ra.
"Vậy ông ta thế nào, người buôn thảm đó ?" tôi lên tiếng phá tan bầu không khí lạnh lẽo.
"Ở Algeria, cô có thể biết nhiều về một người qua cái tên họ", Kamel nói trong lúc đánh một vòng cua thành thạo dọc những con đường càng trở nên khúc khuỷu hơn bao giờ hết. "Chẳng hạn như 'Ibn' nghĩa là 'con trai của'. Một vài cái là tên địa danh, như Yamini - Người của Yemen; hay Jabal-Tarik - Núi của Tarik hoặc Gibraltar. Những từ 'El’ 'Al’, và ‘Bel’ liên quan đến Đấng Ala còn Ba'al nghĩa là Chúa. Như Hanniba'al nghĩa là Người tu khổ hạnh của Chúa; Ala-ddin nghĩa là Đầy tớ của đấng Ala, vv.".
"Vậy El-Marad nghĩa là gì, Kẻ cướp của Chúa à ?" tôi bật cười.
"Gần hơn cô nghĩ", Kamel nói với tiếng cười không dễ chịu. "Cái tên không phải tiếng Ả Rập hay Berber, nó là tiếng Akkadian, ngôn ngữ của người Mesopotamia cổ đại. Rút ngắn từ tên al- Nimarad, hay còn gọi là Nimrod, vị vua thời kỳ đầu của Babylon. Ông ta là người xây dựng Tháp Babel, nghĩa là vươn đến mặt trời, đến những cánh cổng của thiên đường. Vì Bab-el nghĩa là Cánh cổng của Chúa. Và Nimrod nghĩa là Người nổi loạn, Kẻ xâm phạm các vị thần".
"Đúng là cái tên dành cho nhà buôn thảm", tôi bật cười. Nhưng tất nhiên tôi để ý đến sự tương đồng với cái tên của một người khác tôi quen biết.
"Vâng", ông ta đồng tình. "Nếu ông ta chỉ là vậy".
Kamel không giải thích điều ông muốn nói về El-Marad nhưng không phải tình cờ mà ông ấy lớn lên tại ngôi làng cả trăm tuổi cũng là quê hương của nhà buôn thảm này.
Khoảng hai giờ, khi chúng tôi đến nhà nghỉ nhỏ của Beni Yenni, cơn đói khiến bao tử tôi sôi ùng ục. Nhà nghỉ nhỏ bé trên đỉnh một ngọn núi không lịch sự mấy nhưng những cây bách Ý mờ mịt oằn mình dựa vào bức tường màu nâu vàng nhạt và mái ngói đỏ tạo nên khung cảnh đẹp.
Chúng tôi dùng bữa trưa trên sân thượng lợp ngói đen nhỏ bao quanh bởi hàng rào trắng nhô ra khỏi đỉnh núi. Đại bàng bay là là dưới đáy thung lũng, tia vàng lấp lánh từ đôi cánh chúng khi chúng bay qua lớp sương xanh mỏng bốc lên từ Ouled Aissi. Xung quanh chúng tôi có thể thấy địa thế hiểm trở: những con đường ngoằn ngoèo như dải lụa sờn mỏng sắp trượt khỏi cạnh dốc núi, cả thung lũng nhìn như tảng đá mòn đỏ vụn vỡ, giữ cân bằng bấp bênh tại đỉnh từng ngọn đồi cao. Dù đã là tháng sáu nhưng không khí vẫn mát mẻ để tôi có thể mặc áo len, lạnh hơn ít nhất ba mươi độ so với khu bờ biển chúng tôi rời khỏi sáng nay. Bên kia thung lũng, tôi có thể thấy tuyết phủ đỉnh khối núi Djurdjura và những đám mây lơ lửng la đà nhìn nặng nề đáng ngờ, ở ngay hướng chúng tôi định đến.
Chúng tôi là những người duy nhất trên sân thượng và người phục vụ có phần cáu kỉnh khi mang thức uống và bữa trưa từ nhà bếp ấm áp lên. Tôi tự hỏi ai đang ở tại nhà trọ được chính phủ trợ cấp cho các thành viên của bộ. Giao thông du lịch của Algeria khó mà đủ khả năng hỗ trợ cho ngay cả những nhà nghỉ gần đường chính dọc bờ biển.
Chúng tôi ngồi giữa không khí trong lành mát mẻ, uống rượu vang đỏ có vị đắng với chanh và đá bào rồi cả hai ăn trong im lặng. Nước rau củ nghiền nóng hổi, bánh mì dài giòn rụm và thịt gà kho với sốt mayonnaise cùng món thịt đông với trứng. Kamel dường như vẫn chìm đắm trong suy tư.
Trước khi rời khỏi Beni Yenni, ông mở thùng xe và mang ra một chồng mền len dày. Cũng như tôi, ông ấy lo lắng về thời tiết sắp tới. Con đường gần như lập tức trở nên gian nan. Sao tôi không thể đoán điều này có liên quan tới chuyện chúng tôi sắp sửa đối mặt ?
Lái xe từ Beni Yenni đến Tikjda chỉ mất một giờ mà như dài vô tận. Chúng tôi im lặng trên hầu hết chuyến đi. Đầu tiên con đường ngoặt xuống đáy thung lũng, băng qua con sông nhỏ và trở ngược lên những ngọn đồi thấp nhấp nhô. Nhưng đi càng xa, con đường càng dốc. Chiếc Citroen leo ì ạch khi chúng tôi đến đỉnh. Tôi ngó xuống, trước mắt tôi là vực thẳm sâu hai ngàn foot, một mê cung những hẻm núi cách nhau, lởm chởm nhô lên xé toạc đá. Và cái gọi là con đường chẳng khác một khối đá sỏi phủ băng vỡ nát sắp sụp xuống triền núi. Để thêm phần rùng rợn, rìa núi hẹp này còn cắt khỏi đá vôi, xoắn cong và uốn lượn như nút thắt của thủy thủ, và cũng dựng đứng xuống mặt đá thẳng đứng mười lăm phần trăm độ dốc. Tất cả đường đều dẫn đến Tikjda.
Khi Kamel lái chiếc Citroen lớn như con mèo lên triền núi và đi vào con đường vỡ nát, tôi nhắm mắt và cầu nguyện. Khi tôi mở mắt ra, chúng tôi ngoặt qua một khúc quanh. Con đường giờ không liên kết với gì cả, trơ trọi lơ lửng giữa không trung trong những đám mây. Các hẻm núi phía nào cũng dốc xuống ít nhất một ngàn foot. Những ngọn núi phủ tuyết trên đỉnh có vẻ trồi lên như màng đá từ đáy thung lũng. Một cơn gió xoáy dữ dội rít lên trên những vách của khe núi đen, cuốn theo băng tuyết và che khuất con đường. Tôi gợi ý quay đầu xe nhưng không có khoảng trống để làm.
Chân tôi run lên khi gồng vào sàn xe, chuẩn bị chịu cú sốc khi chúng tôi hoàn toàn không nhìn thấy đường và bị hất văng. Kamel giảm tốc độ lại ba mươi rồi hai mươi dặm, đến khi chúng tôi nhích với tốc độ mười dặm.
Thật kỳ lạ, tuyết càng nặng hạt khi chúng tôi leo xuống mặt nghiêng con đường dốc. Đôi khi, vòng qua khúc ngoặt gay gắt, chúng tôi chạm trán xe cỏ khô hay xe tải chết máy bỏ lại giữa đường.
"Vì Chúa, giờ là tháng sáu" tôi nói với Kamel khi chúng tôi thận trọng len lỏi quanh một khu đất bồi cao khác thường.
"Lúc này vẫn chưa đổ tuyết", ông nói thản nhiên, "chỉ là thổi một chút..."
"Ông nói lúc này là sao ?" tôi nói.
"Tôi hy vọng cô thích những tấm thảm của ông ta", Kamel nói với nụ cười méo xệch. "Vì chúng có thể tiêu tốn của cô một khoản tiền. Cho dù trời không tuyết, cho dù đường không sụt lở, cho dù chúng ta đến Tikjda trước khi trời tối thì chúng ta vẫn phải băng qua cầu".
"Trước khi trời tối ư ?" tôi nói, trải lòng thòng tấm bản đồ vùng Kabyle dài ngoằng và vô ích ra. "Theo bản đồ, Tikjda chỉ cách đây có ba mươi dặm và cái cầu ngay trước mặt thôi".
"Đúng", Kamel đồng tình, "nhưng bản đồ chỉ cho thấy khoảng cách theo chiều ngang. Mọi thứ nhìn trên không gian hai chiều thấy gần lại có thể rất xa ngoài thực tế".
Chúng tôi đến Tikjda vừa đúng bảy giờ. Cuối cùng chúng tôi cũng có thể thấy mặt trời, nằm cân xứng trên đỉnh núi cuối, chuẩn bị lặn xuống. Mất ba giờ đi với tốc độ ba mươi dặm. Kamel đánh dấu Ain Ka'abah trên bản đồ gần Tikjda, nhìn như thể chúng tôi có thể đi bộ từ đây đến đó, nhưng hóa ra hoàn toàn sai lầm.
Chúng tôi rời Tikjda chỉ dừng cho xe đổ xăng và cho buồng phổi hít đầy không khí trong lành của miền núi. Khí hậu thay đổi tốt hơn, bầu trời màu đào, không khí như tơ mượt và xa tít trước mặt, những cây thông hình lăng trụ bao quanh một thung lũng xanh mát. Ngay chính giữa, có lẽ cách sáu hoặc bảy dặm, nổi lên trong sắc tím vàng của ánh mặt trời cuối ngày là một ngọn núi hình vuông khổng lồ, đỉnh bằng phẳng như mặt bàn. Nó đứng hoàn toàn cô độc giữa thung lũng mênh mông.
"Ain Ka'abah", Kamel nói, ra hỉệu qua cửa sổ xe.
"Trên đó ư ?" tôi nói. "Nhưng tôi không thấy bất cứ con đường nào..."
"Không có đường xe chạy, chỉ có lối mòn đi bộ thôi", ông ta đáp. "Vài dặm qua bãi đầm lầy trong bóng đêm, rồi lên đường mòn. Nhưng trước khi đến đó, chúng ta phải băng qua cầu".
Chiếc cầu cách Tikjda chỉ năm dặm, nhưng thấp hơn đến bốn ngàn foot. Lúc chạng vạng là thời điểm khó nhìn rõ nhất, khó mà thấy qua bóng tím những vách đá cao. Thế nhưng thung lũng bên phải vẫn chìm ngập trong ánh sáng rực rỡ, biến dãy núi Ain Ka'abah thành khối vàng. Ngay trước mặt là khung cảnh khiến tôi nín thở. Con đường dốc xuống, xuống tận gần đáy thung lũng nhưng có một cây cầu phía trên cách các khối đá năm trăm foot lơ lửng trên dòng nước chảy xiết từ con sông đổ xuống. Kamel chạy chậm lại khi chúng tôi đi xuống tới đáy hẻm núi. Tới cây cầu, ông dừng xe.
Đó là một cây cầu lung lay, yếu ớt dường như được dựng nên bởi những bàn tay vụng về mười năm hay cả trăm năm trước. Bề mặt cao và hẹp chỉ đủ rộng cho một chiếc xe hơi và chiếc xe của chúng tôi có thể là chiếc cuối cùng qua được cầu. Con sông chảy ầm ầm và cuốn phăng những vật chống đỡ không nhìn thấy bên dưới, dòng nước xiết dữ dội đổ ào ào từ hẻm núi phía trên.
Kamel nhích dần chiếc limousine đen bóng lên bề mặt gồ ghề. Tôi cảm thấy chiếc cầu run rẩy bên dưới.
"Cô sẽ thấy khó mà hình dung điều này", Kamel nói thì thào như thể ông sợ sự rung động của giọng nói có thể làm sập cầu, "nhưng vào ngay giữa mùa hè, con sông này chỉ là dòng nước nhỏ giọt khô cạn chảy qua vùng đầm lầy, suốt đợt nóng bức không có gì ngoại trừ sỏi vụn và lãnh nguyên". (Những vùng trơ trụi bằng phẳng rộng lớn, nơi tầng đất cái đã bị đóng băng vĩnh cửu)
"Đợt nóng bức bao lâu, khoảng mười lăm phút à ?" tôi hỏi, đôi môi khô khốc vì sợ khi chiếc xe rền rĩ lao tới. Một khúc gỗ hay gì đó đập vào bên dưới và cây cầu run bần bật như có động đất. Tôi bám vào tay vịn đến khi xe dừng lại.
Khi bánh trước của chiếc Citroen qua tới mặt đất rắn, tôi mới bắt đầu thở lại. Những ngón tay tôi làm dấu thánh đến khi tôi cảm thấy bánh sau cũng qua hết cầu. Kamel dừng xe và nhìn sang tôi nở nụ cười nhẹ nhõm.
"Những chuyện phụ nữ yêu cầu đàn ông", ông nói, "chỉ là đi mua sắm !"
Đáy thung lũng trông quá nhão đến nỗi chiếc xe không thể chạy xuống, thế nên chúng tôi rời xe tại gờ đá cuối cùng bên dưới cầu. Dấu vết mấy con dê băng chéo qua đầm lầy đến bãi cỏ cao khô ráp, có thể thấy phân và những dấu chân của chúng trong bùn nhão.
"Cũng may tôi mang đúng loại giày", tôi nói, buồn bã nhìn đôi giày mỏng manh buộc dây màu vàng, không phù hợp với bất cứ dịp nào.
"Bài thể dục sẽ làm cô khỏe", Kamel nói. "Phụ nữ xứ Kabyle ngày nào cũng cuốc bộ, với thùng đựng than sáu mươi pao trên lưng". Ông ấy nhe răng cười với tôi.
"Tôi buộc phải tin ông vì tôi thích nụ cười của ông", tôi nói. "Không có lời giải thích nào khác cho việc tại sao tôi làm điều này".
"Sao cô lại nói một người Ả Rập du cư giống một người Kabyle ?" ông ấy hỏi khi chúng tôi vất vả đi qua bãi cỏ ẩm ướt.
Tôi bật cười, "Đây là câu nói đùa bản xứ phải không ?”
"Không, tôi nghiêm túc đấy. Cô có thể nói một người Ả Rập du cư vì người ấy không bao giờ để lộ răng khi cười. Phô bày răng trong cùng là bất lịch sự, đúng hơn là vận rủi. Hãy nhìn El-Marad và sẽ sẽ thấy".
"Ông ta không phải người Kabyle sao ?" tôi hỏi. Chúng tôi đang đứng nghỉ chân giữa thung lũng sông cạn mờ mịt. Ngọn núi Ain Ka'abah vút lên trước mặt vẫn níu lấy tia nắng cuối cùng. Nơi những đồng cỏ tươi bị giẫm lên, chúng tôi có thể thoáng thấy những đóa hoa dại màu tím, vàng và đỏ vừa khép cánh vào đêm.
"Không ai biết", Kamel nói, ngừng lại phía trước tôi. "Nhiều năm trước ông ấy đến Kabyle, tôi chưa bao giờ biết ông ta từ đâu đến, và định cư tại Ain Ka'abah. Một người có nguồn gốc thần bí".
"Tôi hiểu ông không quan tâm mấy đến ông ta", tôi nói.
Kamel đi tiếp trong lặng lẽ, cuối cùng mới lên tiếng "Khó mà thích một người chịu trách nhiệm về cái chết của cha mình".
"Chết ư !" tôi hét lên, chạy qua bãi cỏ để bắt kịp ông ta. Một chiếc giày của tôi bị văng ra và biến mất trong cỏ. Kamel ngừng lại trong khi tôi tìm nó. "Ý ông là sao ?" tôi lầm bầm trong lúc cúi xuống đám cỏ rậm rạp.
"Họ có dự án kinh doanh cùng nhau, cha tôi và El-Marad", ông nói khi tôi đã tìm ra được chiếc giày. "Cha tôi đến Anh để thương lượng và bị một đám côn đồ cướp bóc rồi giết chết trên đường phố Luân Đôn".
"Vậy ông El-Marad này thực ra đâu có nhúng tay vào việc đó ?" tôi nói, bắt kịp ông ta và chúng tôi đi tiếp.
"ừ", Kamel lên tiếng. "Thực ra ông ta trả tiền học phí cho tôi từ khi tiếp quản công việc của cha tôi, nên tôi có thể ở lại Luân Đôn. Tuy nhiên, ông ta lại bán dự án. Tôi không bao giờ gửi ông ta một mẩu giấy cảm ơn. Đó là lý do tại sao tôi nói ông ta sẽ ngạc nhiên khi thấy tôi".
"Sao ông cho là ông ấy chịu trách nhiệm về cái chết của cha ông ?" tôi hỏi dồn.
Rõ ràng Kamel không muốn đề cập đến chuyện đó, từng lời ông ta nói ra đều gượng ép. "Tôi không biết", ông nói ôn tồn như thể lấy làm tiếc đã khơi nên chuyện này. "Chắc tôi nghĩ lẽ ra ông ta là người đi, thay vì cha tôi".
Chúng tôi không nói gì suốt quãng đường còn lại băng qua thung lũng. Con đường dài đến Ain Ka'abah xoắn ốc uốn quanh ngọn núi. Mất nửa giờ đi từ chân núi lên đỉnh núi, năm mươi thước cuối là những bậc thang rộng làm từ đá và đã khá mòn do nhiều người qua lại.
"Những người sống ở đây ăn uống thế nào ?" tôi hỏi khi chúng tôi lên đến đỉnh, mệt nhoài. Bốn phần năm Algeria là sa mạc, không có gỗ và vùng đất trồng duy nhất dọc bờ biển cách hai trăm dặm.
"Họ làm thảm", ’Kamel đáp, "và trang sức bạc để kinh doanh. Trong núi có những viên đá quý bậc nhất và loại vừa, đá camelian và ngọc mắt mèo, cùng một chút ngọc lam. Mọi thứ khác đều nhập từ bờ biển".
Ngôi làng Ain Ka'abah có con đường dài đi xuống khu chính giữa, hai bên có những căn nhà trát vữa. Chúng tôi dừng chân trên con đường bụi bẩn bên ngoài căn nhà lớn lợp mái tranh. Cò làm tổ trên ống khói và có vài con đậu trên mái nhà.
"Đó là nhà tranh của những người thợ dệt", Kamel nói.
Khi chúng tôi đi xuống con đường, tôi để ý mặt trời đã lặn hoàn toàn. Trời chạng vạng xanh nhạt pha đỏ thơ mộng nhưng không khí đã trở nên lạnh giá.
Trên đường có vài chiếc xe bò với nhiều đồng cỏ khô, vài con lừa và vài đàn dê nhỏ. Tôi cho rằng ngồi trên xe do lừa kéo sẽ lên đồi dễ dàng hơn ngồi trong chiếc limousine.
Cuối thị trấn, Kamel dừng lại bên ngoài một căn nhà lớn. Ông đứng đó nhìn nó một lúc lâu. Ngôi nhà trát vữa như những căn nhà khác nhưng có lẽ rộng gấp đôi với ban công chạy dọc phía trước. Một người phụ nữ đứng trên ban công đang giũ thảm. Bà có nước da ngăm đen và mặc quần áo sặc sỡ. Một đứa nhỏ ngồi cạnh bà có mái tóc xoăn vàng, mặc đồ trắng và áo choàng không tay Trên đỉnh đầu đứa bé, những bím tóc mỏng rũ xuống những lọn tóc quăn bên dưới. Trông thấy chúng tôi, cô bé xuống cầu thang và đến gần.
Kamel ngước gọi người phụ nữ đang lặng thinh đứng nhìn xuống ông ta giây lát. Sau đó, bà trông thấy tôi và nở nụ cười, để lộ vài chiếc răng vàng, rồi bà đi vào nhà.
'Đây là nhà của El-Marad", Kamel nói. "Người phụ nữ đó là vợ cả của ông ta. Đứa bé ra đời rất muộn, người phụ nữ sinh con sau một thời gian dài người ta nghĩ bà vô sinh. Đây được xem là dấu hiệu của Đấng Ala - đứa trẻ 'được chọn'".
"Sao ông biết tất cả chuyện này khi ông đã ra đi mười năm rồi ?" tôi nói "Đứa trẻ này chỉ cỡ năm tuổi". Kamel nắm tay đứa bé khi chúng tôi đi về phía căn nhà và nhìn cô bé trìu mến.
'Trước giờ tôi chưa từng thấy cô bé", ông thừa nhận, "nhưng tôi dõi theo những chuyện xảy ra trong làng mình. Đứa bé này được xem là một sự kiện. Lẽ ra tôi nên đem chút gì cho cô bé, nói cho cùng cô bé không thể gánh chịu thái độ của tôi đối với cha nó".
Tôi lục khắp chiếc túi vải mềm để xem có gì thích hợp mang tặng không. Tay tôi chạm một quân cờ trong bộ cờ bỏ túi của Lily, chỉ là một quân cờ bằng chất dẻo, quân Hậu trắng. Nó trông như con búp bê thu nhỏ. Tôi đưa nó cho cô bé. Cực kỳ vui sướng, cô bé chạy ù vào trong khoe mẹ món đồ chơi. Kamel mỉm cười cám ơn tôi.
Người phụ nữ đi ra và đưa chúng tôi vào căn nhà tối tăm. Bà cầm lấy quân cờ trong tay, nói chuyện với Kamel bằng tiếng Berber, không ngừng nhìn tôi với ánh mắt long lanh. Có lẽ bà hỏi ông ấy về tôi, đôi lúc bà chạm những ngón tay mềm như tơ vào tôi.
Kamel nói vài câu với bà ấy, rồi bà đi khỏi.
"Tôi nhờ bà ấy gọi chồng", ông ta nói với tôi. "Chúng ta có thể vào ngồi trong cửa hàng. Một trong những bà vợ của ông ấy sẽ mang cà phê cho chúng ta".
Cửa hàng thảm là một gian phòng rộng, chiếm phần lớn tầng trệt. Khắp nơi những tấm thảm chất thành chồng, gấp thành đống và cuộn thành các ống dài dựng vào tường. Có những tấm thảm trải rộng đến sáu foot trên sàn, những cái khác treo trên tường và đu đưa từ ban công gác hai trong nhà. Chúng tôi ngồi bắt chéo chân trên gối dưới đất. Hai phụ nữ trẻ đi ra, một người bưng khay có ấm đun và mấy cái tách, người kia mang giá đặt khay vào. Họ bày biện mọi thứ và rót cà phê cho chúng tôi. Họ khúc khích khi nhìn thấy tôi và lập tức quay đi. Sau vài phút họ đi ra.
"El-Marad có ba bà vợ", Kamel nói. "Đạo Hồi cho phép lấy nhiều nhất bốn người nhưng chắc ông ta không lấy thêm vợ nữa ở tuổi này. Ông ta hẳn phải gần tám mươi” .
"Nhưng ông không có người vợ nào ?" tôi hỏi.
"Theo luật nhà nước, một vị bộ trưởng chỉ được phép có một vợ, Kamel đáp. “Vì vậy phải thận trọng hơn". Ông ấy cười thật lớn với tôi nhưng có vẻ vẫn rất lặng lẽ. Rõ ràng ông ấy vô cùng căng thẳng.
"Hình như những người phụ nữ đó thấy tôi có điều gì rất buồn cười. Họ cười khúc khích khi nhìn tôi", tôi nói để xua tan không khí nặng nề.
"Có lẽ trước giờ họ chưa từng thấy một phụ nữ phương Tây", Kamel nói. "Chắc chắn họ chưa từng thấy một phụ nữ mặc quần. Chắc họ muốn hỏi cô nhiều câu nhưng họ mắc cỡ quá đó mà".
Ngay lúc đó, tấm màn bên dưới ban công được vén ra và một người đàn ông cao, bệ vệ bước vào phòng. Ông ta cao hơn sáu foot với chiếc mũi dài nhọn, cong như diều hâu, chân mày dựng đứng trên cặp mắt đen nhìn xuyên thấu và bờm tóc sẫm màu có sọc trắng. Ông ta mặc áo dài kiểu người Thổ Nhĩ Kỳ có thắt ngang lưng sọc đỏ trắng bằng len mỏng nhẹ và đi từng bước mạnh mẽ. Người này trông không quá năm mươi tuổi. Kamel đứng dậy chào và họ hôn lên hai má nhau rồi chạm những ngón tay lên trán và ngực. Kamel nói vài câu bằng tiếng Ả Rập với ông ấy và người đàn ông đó quay sang tôi. Giọng ông ta có âm vực cao hơn tôi nghĩ và nhỏ nhẹ, gần như lời thì thầm.
“Tôi là El-Marad", ông ta nói với tôi. "Bất cứ người bạn nào của Kamel Kader cũng được chào đón tại nhà tôi". Ông ta ra hiệu cho ngồi và ông cũng ngồi vào phía đối diện trên ghế dài có đệm dưới đất, chân bắt chéo. Tôi không thấy dấu hiệu căng thẳng nào của hai người đàn ông này như Kamel đã đề cập, nói cho cùng họ đã không trò chuyện ít nhất mười năm rồi. El-Marad căng chiếc áo choàng quanh người và nhìn tôi thích thú.
"Tôi xin giới thiệu cô Catherine Velis", Kamel nói với nghi thức lịch thiệp. "Cô ấy từ Mỹ đến để làm việc cho OPEC".
"OPEC", El-Marad nói, gật đầu với tôi. "Thật may chúng tôi không có dầu trong các dãy núi ở đây, nếu không chúng tôi cũng sẽ phải thay đổi lối sống. Tôi hy vọng cô sẽ thích sống tại đất nước chúng tôi, và qua công việc của cô, nếu Đấng Ala mong muốn, tất cả chúng ta có thể phát đạt".
Ông giơ tay và người phụ nữ có con nhỏ bước vào, nắm tay đứa bé gái. Bà đưa quân cờ cho chồng và ông ấy chìa nó về phía tôi.
"Tôi biết cô đã tặng con gái tôi một món quà", ông ta nói với tôi. "Cô khiến tôi mắc nợ cô. Xin hãy chọn một tấm thảm cô thích để mang về". Ông ta vẫy tay lần nữa và hai mẹ con đi vào cũng lặng lẽ như lúc ra.
"Ôi, không", tôi nói. "Đó chỉ là một món đồ chơi bằng nhựa". Ông ta đang nhìn quân cờ trong tay và dường như không nghe tôi nói. Giờ ông ngước lên nhìn tôi với đôi mắt như đại bàng bên dưới cặp chân mày hung dữ.
"Quân Hậu Trắng !" ông ta thì thầm, liếc nhanh một cái về phía Kamel rồi quay lại tôi. "Ai gửi cô đến đây ?" ông hỏi gặng. "Và tại sao cô đưa anh ta tới ?"
Điều này khiến tôi hoàn toàn sửng sốt và tôi nhìn Kamel. Tất nhiên sau đó tôi hiểu ra. Ông ta biết tôi cần gì ở đây, có lẽ quân cờ là kiểu ký hiệu nào đấy cho thấy tôi do Llewellyn cử đến. Nhưng nếu vậy thì đây là ký hiệu Llewellyn chưa từng nói đến.
"Tôi vô cùng xin lỗi”, tôi nói để lấp liếm. "Một người bạn của tôi, một nhà buôn đồ cổ ở New York nhờ tôi đến gặp ông. Kamel đã tốt bụng đưa tôi đến đây",
El-Marad không nói gì một hồi nhưng nhìn trừng trừng tôi bên dưới cặp chân mày nhô ra. Ông tiếp tục mân mê quân cờ trong tay như thể nó là chuỗi hạt cầu nguyện. Cuối cùng ông ấy quay sang Kamel và nói vài câu bằng tiếng Berber. Kamel gật đầu và đứng dậy. Cúi nhìn tôi, ông ta nói:
"Tôi nghĩ mình sẽ đi hít thở không khí trong lành. Dường như có vài chuyện El-Marad muốn nói riêng với cô”. Ông ta mỉm cười với tôi để cho thấy ông ta không bận tâm về sự thô lổ của người đàn ông lạ lùng kia. Quay sang El-Marad ông nói thêm: "Nhưng Catherine là dakhilak, ông biết đấy..”
"Không thể nào !” El-Marad hét lên, cũng đứng dậy. "Cô ta là phụ nữ mà !"
"Gì vậy ?" tôi hỏi nhưng Kamel đã biến mất khỏi cửa, và tôi còn lại một mình với nhà buôn thảm.
"Anh ta nói cô nằm dưới sự bảo vệ của anh ta”, El-Marad nói, quay lại nhìn tôi khi chắc rằng Kamel đã đi. "Một nghi thức của người Ả Rập du cư. Một người bị theo đuổi có thể túm lấy sự che chở của một người khác trên sa mạc. Gánh nặng bảo vệ bắt buộc đè lên người đó, cho dù họ không cùng bộ tộc. Chuyện này hiếm khi được đề nghị trừ khi được thỉnh cầu, và không bao giờ dành cho một người phụ nữ".
"Có lẽ ông ấy nghĩ cần có những biện pháp tối trọng khi để tôi một mình với ông", tôi gợi ý.
El-Marad nhìn tôi chằm chằm hết sức ngạc nhiên. "Cô rất can đảm mới dám chế nhạo vào thời điểm như lúc này", ông ta nói chậm rãi và đi vòng tròn quanh tôi. "Anh ta không kể cô nghe tôi dạy dỗ anh ta như con trai mình sao ?" El-Marad ngừng bước và lại nhìn tôi chăm chằm khó chịu. "Chúng tôi là nahnu malihirt, cái giá của muối. Nếu cô muốn chia muối cho người nào đó trên sa mạc thì nó còn đáng giá hơn cả vàng",
"Vậy ông là người Ả Rập du cư", tôi nói. "Ông biết tất cả phong tục sa mạc và ông không bao giờ cười, tôi tự hỏi nếu Llewellyn Markham biết điều đó thì sao ? Tôi sẽ gửi ông ấy một mảnh giấy và cho ông ấy biết người Ả Rập du cư không lịch sự như người Berber".
Khi nói đến tên Llewellyn, El-Marad tái mặt. "Vậy ra cô được ông ta cử đến", ông ấy nói. "Sao cô không đến một mình ?"
Tôi thở dài và nhìn quân cờ trong tay ông ấy. "Sao ông không nói chúng ở đâu ?" tôi nói. "Ông biết tôi đến vì cái gì mà".
"Rất tốt", ông ta nói. Ông ấy ngồi xuống, rót cà phê từ ấm đun vào chiếc tách nhỏ và uống. "Chúng tôi định vị những quân cờ và cố mua lại chúng nhưng không ích gì. Người phụ nữ sở hữu chúng thậm chí còn không muốn gặp chúng tôi. Bà ấy sống ở khu phố cổ Casbah tại Algiers nhưng bà ấy rất giàu có. Dù bà ấy không có trọn bộ cờ nhưng chúng tôi có lý do để tin rằng bà ấy có rất nhiều quân cờ. Chúng tôi có thể gom góp tiền để mua lại chúng nếu cô có thể vào trong gặp bà ấy".
"Sao bà ấy không gặp ông ?" tôi nói, lặp lại câu đã hỏi Llewellyn.
"Bà ấy sống trong hậu cung", ông ta nói. "Bà ấy ẩn dật, từ 'hậu cung' nghĩa là 'nơi tôn nghiêm không được xâm phạm'. Không ai được phép vào trừ người đứng đầu".
"Vậy sao ông không thương lượng với chồng bà ấy ?" tôi hỏi.
"Chồng bà ấy không còn nữa", El-Marad nói, đặt tách xuống với điệu bộ nôn nóng. "Ông ta chết rồi, và bà ấy giàu có. Con trai ông chồng bảo vệ bà nhưng đó không phải con ruột của bà. Họ không biết bà ta có những quân cờ. Không ai biết điều đó".
"Vậy sao ông biết ?" tôi hỏi gặng, cất cao giọng. "Nghe này, tôi đề nghị thực hiện chuyện đơn giản này vì một người bạn nhưng ông chẳng giúp đỡ gì tôi cả. Ông thậm chí còn không cho tôi biết tên hay địa chỉ người phụ nữ đó".
Ông ta ngừng và nhìn tôi chăm chú. "Tên bà ấy là Mokhh Mokhtar", ông nói. "Trong khu phố cổ Casbah không có tên đường, nhưng chỗ đó không rộng lắm đâu, cô sẽ tìm ra bà ấy. Và khi cô đến, bà ấy sẽ bán cho cô nếu cô nói bà ấy nghe thông điệp bí mật tôi sắp cho cô đây. Nó sẽ mở ra mọi cánh cửa",
"Được", tôi sốt ruột nói.
"Nói bà ấy cô được sinh ra vào ngày linh thiêng trong đạo Hồi - Ngày Chữa lành. Nói bà ấy theo lịch phương Tây, cô sinh vào ngày bốn tháng tư..."
Giờ đến lượt tôi nhìn chằm chằm ông ta. Máu tôi lạnh cóng và tim tôi đập thình thịch. Kể cả Llewellyn còn không biết ngày sinh của tôi.
"Sao tôi lại phải nói với bà ấy điều đó ?" tôi hỏi, bình thản hết sức có thể.
"Đó là ngày sinh của hoàng đế Charlemagne", ông ta nói khẽ, "ngày mà bộ cờ được mang lên khỏi mặt đất, một ngày quan trọng liên quan đến những quân cờ chúng ta tìm kiếm. Người ta nói rằng người được trù định từ trước để mang các quân cờ về với nhau lần nữa, hợp nhất chúng sau những năm tháng dài, sẽ ra đời vào ngày này. Mokhfi Mokhtar biết truyền thuyết và bà ấy sẽ gặp cô".
"Ông có bao giờ gặp bà ta chưa ?" tôi hỏi.
"Một lần, nhiều năm trước..." ông ta nói, khuôn mặt thay đổi khi nhớ về quá khứ. Tôi tự hỏi người đàn ông này thật sự là thế nào - người làm ăn chung với một kẻ phất phơ như Llewellyn - người Kamel nghĩ đã cướp công việc kinh doanh của cha ông ấy và có thể đã khiến cha ông chết nhưng lại lo cho Kamel ăn học để ông ta có thể trở thành một trong những bộ trưởng quyền thế nhất nước này. Ông ta sống cách biệt cả triệu dặm như một ẩn sĩ cùng mấy bà vợ, không biết từ đâu đến, chưa kể ông ấy có đối tác làm ăn ở Luân Đôn và New York.
"Lúc đó bà ấy rất xinh đẹp", ông lên tiếng. "Bà ấy giờ hẳn khá lớn tuổi. Tôi gặp bà ấy, nhưng chỉ thoáng chốc. Tất nhiên, lúc đó tôi không biết bà ấy có những quân cờ, rồi một ngày bà ấy sẽ là.. Nhưng bà ấy có cặp mắt giống cô, đó là điều tôi nhớ. Ông ta nhanh chóng nghiêm nghị trở lại. "Đó có phải tất cả những gì cô muốn biết không ?"
"Làm sao tôi lấy tiền, nếu tôi có thể mua những quân cờ ? tôi hỏi, trở về đề tài công việc.
"Chúng tôi sẽ thu xếp", ông ta nói một cách lỗ mãng. "Cô có thể liên lạc với tôi qua hộp thư bưu điện này". Ông đưa tôi một mẩu giấy có ghi số trên đó. Ngay lúc đó, một trong những bà vợ của ông ta thình lình thò đầu qua tấm màn và chúng tôi thấy Kamel đang đứng sau bà ấy.
"Xong việc chưa ?" Kamel hỏi, bước vào phòng.
"Rồi", El-Marad nói, đứng dậy và đỡ tôi lên. "Bạn anh có một giao kèo mua bán khó khăn. Cô ta có thể đòi al-basharah thêm một tấm thảm khác". Ông ta kéo từ một chồng thảm ra hai tấm được cuộn lại từ lông lạc đà rối bù mang màu sắc thật đẹp.
"Tôi đòi cái gì ?" tôi nở nụ cười hỏi.
"Món quà dành cho người mang tin tốt đến", Kamel nói, nhấc tấm thảm lên lưng. "Cô mang tin tốt gì đến vậy ? Hay đó cũng là một bí mật ?"
"Cô ta mang thông điệp từ một người bạn", El-Marad nhã nhặn. "Tôi có thể cho thằng bé đánh xe chở hai người xuống nếu muốn". Ông ta nói thêm. Kamel đáp rất cảm kích nên chúng tôi nhắn thằng bé đem xe lừa kéo đến. El-Marad đi cùng chúng tôi ra đường khi thằng bé tới nơi.
"Al-safar zafar” El-Marad nói, vẫy tay tiễn chúng tôi.
"Một tục ngữ cổ của Ả Rập", Kamel giải thích. "Nó có nghĩa là 'Lên đường thắng lợi”, ông ta chúc cô mọi sự tốt lành".
"Không quá keo kiệt như tôi nghĩ lúc đầu", tôi nói với Kamel. "Nhưng tôi vẫn không tin ông ta".
Kamel bật cười. Ông ta dường như thoải mái hơn. "Cô chơi khá lắm", ông ta nói.
Tim tôi thót lại nhưng tôi vẫn tiếp tục đi qua bóng đêm tối mịt. Tôi mừng rằng ông ấy không thể nhìn thấy mặt tôi. "Ý ông là sao ?" tôi hỏi.
"Ý tôi nói cô có hai tấm thảm dày miễn phí từ nhà buôn thảm tinh ranh nhất Algeria. Danh tiếng ông ta có thể bị tiêu tan nếu tin này lọt ra ngoài".
Chúng tôi lặng im một lúc, lắng nghe tiếng bánh xe cót két di chuyển qua bóng tối trước mặt.
"Tôi nghĩ chúng ta nên đi đến khu của bộ ở Bouira để nghỉ đêm", Kamel nói. "Cách đây khoảng mười dặm, xuôi theo con đường. Họ sẽ dành cho chúng ta những căn phòng đẹp đẽ và sáng mai chúng ta có thể từ đó về Algiers, trừ khi cô thích quay ngược lại dãy núi đêm nay".
"Đương nhiên là không", tôi nói. Hơn nữa, tại khu của bộ chắc có bồn tắm nước nóng và những thứ xa xỉ khác mà nhiều tháng rồi tôi đã không tận hưởng. Dù El Riadh là một khách sạn có sức mê hoặc nhưng sức mê hoặc đã bị mài mòn sau hai tháng phải tắm nước lạnh có chứa gỉ sét.
Trước cả khi Kamel và tôi cầm hai tấm thảm trở lại chiếc xe, bo cho cậu bé đánh xe và đi dọc quốc lộ đến Bouira, tôi đã kéo quyển từ điển Ả Rập ra tra vài từ tôi rất muốn biết.
Đúng như tôi nghi ngờ, Mokhfi Mokhtar không hoàn toàn là một cái tên. Nó có nghĩa là Đắc Viên Ẩn Dật. Người Được Chọn Bí Mật.