Newton không phải người đầu tiên của Thời đại Lý tính. Ông là người cuối cùng trong số các thầy phù thủy, người cuối cùng của dân Babylon và Sumer... vì ông xem vũ trụ và tất cả những thứ bên trong nó như một điều khó hiểu, như một bí mật có thể đọc được bằng cách áp dụng tư duy thuần túy vào bằng chứng nào đó, manh mối thần bí nào đó mà Chúa đã đặt khắp thế giới, mở ra cuộc săn tìm của những triết gia cho hội bí truyền...
Ông xem vũ trụ như tài liệu mật mã do Thượng đế sắp đặt, y như bản thân ông dồn hết tâm trí khám phá phép tính vi phân và tích phân trong tài liệu viết bằng mật mã khi cùng ý tưởng với Leibniz. Bằng tư duy thuần túy, bằng cách tập trung tâm trí, ông tin điều bí ẩn sẽ tiết lộ ra cho người đã thụ giáo.
- John Maynard Keynes-
Cuối cùng chúng ta quay về lối giải thích theo học thuyết của Pythagoras cổ xưa, người đã phát triển toán học và vật lý toán học. Ông ... hướng sự chú ý đến các con số như cách mô tả chu kỳ của các nốt nhạc... Và hiện giờ trong thế kỷ hai mươi, chúng ta xét thấy các nhà vật lý phần đông chú ý đến chu kỳ của các nguyên tử.
- Alfred North Whitehead -
Rồi thì con số xuất hiện để dẫn dắt hướng đến sự thật.
- Plato -
Paul Đệ nhất, Nga hoàng của toàn thể dân chúng, đi tới lui trong phòng, vỗ vỗ roi da vào quần ống túm của bộ quân phục xanh sẫm. Ông kiêu hãnh về những bộ quân phục bằng vải thô này, may theo kiểu trang phục quân đội của vua Frederick Đệ nhất nước Phổ. Paul vỗ nhẹ mấy cái vào ve áo của chiếc áo gi-lê xẻ cao và giương mắt nhìn con trai Alexander của anh, người đang đứng nghiêm bên kia căn phòng.
Thật thất vọng khi Alexander tỏ ra kém cỏi, Paul nghĩ thầm. Xanh xao, thi vị, và vô cùng đẹp trai, có cả sự bí ẩn và ngây thơ phảng phất phía sau cặp mắt xanh xám cậu thừa hưởng từ người bà. Nhưng cậu không thừa hưởng được bộ não của bà mình. Cậu thiếu mọi thứ người ta tìm kiếm ở một người trị vì.
Xét về chừng mực nào đó, đây là điều may mắn, Paul nghĩ. Một thằng bé hai mươi mốt tuổi, không mong ước chiếm ngai vàng Catherine dự định trao lại cho mình, đã thật sự lên tiếng muốn thoái vị, từ bỏ trách nhiệm đè lên vai. Cậu nói thích cuộc sống yên bình của một nhà văn, ở một nơi nào đó không người biết đến trên sông Danube hơn là hòa mình vào triều đình đầy cám dỗ nhưng cũng thật nguy hiểm ở Petersburg, nơi cha cậu ra lệnh cậu ở lại.
Giờ đây, khi đứng dán mắt qua cửa sổ nhìn khu vườn mùa thu, đôi mắt đờ đẫn của Alexander cho thấy trong đầu cậu không có gì hơn là mộng tưởng hão huyền. Thế nhưng thật ra suy nghĩ của cậu không hề vu vơ. Bên dưới những lọn tóc quăn óng ả là một cái đầu hoạt động phức tạp hơn nhiều so với mức Paul có thể tìm hiểu ra. Vấn đề cậu đang hướng đến hiện giờ là làm cách nào để đề cập một chủ đề mà không khiến Paul nghi ngờ, một chủ đề chưa bao giờ được nhắc đến trong triều của Paul, kể từ sau cái chết của bà nội Catherine gần hai năm trước. Chủ đề về nữ tu trưởng của Montglane.
Alexander có lý do cấp thiết để cố khám phá ra điều đã xảy đến với người phụ nữ lớn tuổi này, người đã biến mất vào không khí chỉ vài ngày sau khi bà cậu qua đời. Nhưng trước khi cậu nghĩ ra cách mở lời thì Paul đã xoay người đối mặt với cậu, vẫn vỗ roi da như tên lính đồ chơi ngốc nghếch. Alexander cố tập trung chú ý.
"Ta biết con không quan tâm lắng nghe những việc quốc gia", Paul khinh khỉnh nói với con trai. "Nhưng con thật sự phải tỏ ra hứng thú. Nói cho cùng một ngày nào đó, đế quốc này cũng là của con. Những hành động ta làm hôm nay sẽ là trách nhiệm của con ngày mai. Ta gọi con đến đây hôm nay để nói với con chuyện hoàn toàn bí mật, điều có thể làm thay đổi tương lai nước Nga". Anh ngừng lời để gây chú ý. "Ta quyết định ký hiệp ước với Anh quốc".
"Nhưng thưa cha, người ghét dân Anh mà !" Alexander lên tiếng.
"Đúng vậy, ta khinh thường chúng", Paul nói, "nhưng ta không có nhiều sự lựa chọn. Người Pháp không thỏa mãn khi bị nước Áo chia cắt nên đang mở rộng biên giới sang các nước lân cận, và tàn sát phân nửa dân nước đó để chặn họng họ. Giờ bọn chúng đang gửi vị tướng khát máu Bonaparte vượt biển sang để đánh chiếm Malta và Ai Cập !" Ông quất mạnh roi da xuống mặt bàn, khuôn mặt tối sầm lại như cơn bão mùa hè. Alexander không nói gì.
"Ta là người xuất sắc được chọn trong số những người được phong tước hầu của Malta !", Paul hét lên, đấm vào huân chương vàng trên dải băng màu sẫm choàng qua ngực. "Ta đeo ngôi sao tám điểm của Bội tinh xứ Malta ! Hòn đảo đó thuộc về ta ! Hàng thế kỷ qua, chúng ta tìm kiếm một thành phố cảng có làn nước ấm áp như Malta, và cuối cùng giờ chúng ta gần như có được. Trước khi gã người Pháp kia tràn vào với đội quân bốn mươi ngàn tên". Ông ta nhìn Alexander như thể trông chờ phản ứng.
'Tại sao viên tướng Pháp đó cố chiếm lấy một đất nước là cái gai trước mắt của đế chế Ottoman Thổ Nhĩ Kỳ hơn ba trăm năm qua ?" cậu nói, tự hỏi riêng mình tại sao Paul lại mong muốn chống đối một hành động như vậy. Nó chỉ có thể hướng sự chú ý của những người Thổ Nhĩ Kỳ theo Đạo Hồi kia vào việc bà cậu đã đấu tranh trong hai mươi năm giành quyền kiểm soát thành phố Constantinople và Hắc Hải.
"Con không đoán ra gã Bonaparte này theo đuổi gì sao ?" Paul thì thầm, vừa tiến lại gần nhìn vào mặt Alexander vừa xoa tay.
Alexander lắc đầu. "Cha nghĩ người Anh sẽ có lợi cho mình hơn à ?" cậu hỏi. "Gia sư La Harpe của con từng gọi nước Anh là Albion phản bội.'
"Đó không phải vấn đề !" Paul kêu lên. "Như thường lệ, con lại pha trộn thơ văn với chính trị, báo hại chẳng ra sao. Ta biết lý do tên đê tiện Bonaparte đi sang Ai Cập, bất kể hắn có nói gì với những gã ngốc rót tiền vào Hội đồng Đốc chính Pháp, bất kể hắn đem bao nhiêu ngàn binh lính tới ! Khôi phục quyền lực của Sublime Porte sao ? Hạ gục lính Ai Cập à ? Hay nhỉ ! Toàn là cái cớ che đậy". Alexander vẫn đứng yên và thận trọng nhưng chú ý kỹ hơn những lời chửi rủa của cha mình. "Ghi nhớ lời ta, hắn sẽ không dừng ở Ai Cập không thôi đâu. Hắn sẽ sang Syria và Assyria, Phoenicia rồi Babylon, những vùng đất mẹ ta luôn muốn có. Bà ấy còn đặt tên Alexander cho con và Constantine em con như để có vận may". Paul ngừng nói và nhìn khắp phòng, đôi mắt dừng lại ở tấm thảm mô tả cảnh săn bắn. Một con hươu bị thương, chảy máu và tên đâm lỗ chỗ, khó nhọc lết vào rừng, bị những người thợ săn và chó săn đuổi bắt. Paul quay lại nhìn Alexander với nụ cười lạnh lùng.
"Tên Bonaparte này không muốn có lãnh thổ mà hắn muốn có quyền lực ! Hắn đem theo rất nhiều nhà khoa học cũng như binh lính: nhà toán học Monge, nhà hóa học Berthollet, nhà vật lý học Fourier... Hắn đem hết người của Trường bách khoa và Học viện Quốc gia ! Tại sao vậy, ta hỏi con, nếu hắn chỉ khao khát theo đuổi cuộc chinh chiến ?"
"Ý cha là sao ?" Alexander thì thầm, ý niệm lơ mơ bắt đầu xuất hiện trong đầu.
"Bí mật của Bộ cờ Montglane được cất giấu ở đó !" Paul rít lên, khuôn mặt lạnh căm nỗi sợ hãi và căm thù. "Đó chính là thứ hắn theo đuổi".
"Nhưng thưa cha", Alexander lên tiếng, vô cùng thận trọng lựa lời. "Chắc cha không tin những thần thoại cổ xưa đó phải không ? Nói cho cùng, bản thân nữ tu trưởng của tu viện Montglane..."
"Tất nhiên ta tin chứ !" Paul hét toáng. Khuôn mặt sa sầm lại và ông hạ giọng thành lời thì thào kích động. "Chính ta có một quân cờ". Bàn tay ông siết chặt lại thành nắm đấm, quăng roi xuống sàn. "Có những quân khác giấu ở đây. Ta biết ! Nhưng thậm chí hai năm trong nhà ngục Ropsha cũng không cạy miệng bà già đó được. Bà ta như con nhân sư. Nhưng một ngày bà ấy sẽ nhụt chí và khi bà ta..."
Alexander gần như không nghe được thêm gì khi cha cậu ba hoa về người Pháp, người Anh, kế hoạch tại Malta, và tên xảo quyệt Bonaparte, người cha cậu dự định tiêu diệt. Alexander không chắc bất cứ lời đe dọa nào sẽ thành hiện thực vì đội quân của Paul đã khinh thường cha cậu như đứa trẻ xem nhẹ người thầy tàn bạo.
Alexander ca tụng cha về tài nghệ vạch chiến lược chính trị sáng suốt, cáo từ và rời khỏi phòng. Vậy là nữ tu trưởng bị giam hãm trong nhà ngục Ropsha, cậu vừa nghĩ vừa sải bước qua những hanh lang dài của Cung điện Mùa Đông. Vậy là Bonaparte đặt chân đến Ai Cập với một con tàu chở đầy các nhà khoa học. Vậy là cha Paul có một quân của Bộ cờ Montglane. Một ngày hữu ích, mọi thứ cuối cùng cũng đang nối kết với nhau.
Alexander mất gần nửa giờ mới đến được chuồng ngựa trong nhà, nơi đây choán toàn bộ khu vực tận cuối Cung điện Mùa Đông, một khu vực rộng gần bằng đại sảnh ở Versailles. Không khí ở đây ẩm thấp, nồng nặc mùi động vật và cỏ khô. Cậu sải bước xuống những hành lang vương vãi cỏ khô trong khi đàn lợn gà chạy lạch bạch tránh đường. Mấy người đầy tớ mặt mũi hồng hào khoác áo chẽn bằng da, cổ thấp với tạp dề trắng và mang giày ống hướng mắt nhìn theo tấm lưng chàng hoàng tử trẻ, mỉm cười với nhau. Khuôn mặt đẹp đẽ, mái tóc màu hạt dẻ quăn lọn và đôi mắt xám xanh lấp lánh của cậu khiến họ nhớ đến lúc nữ hoàng Catherine còn trẻ, bà của hoàng tử, thường mặc quân phục cưỡi ngựa ra đường phố đầy tuyết.
Đây là chàng trai họ hy vọng trở thành hoàng đế. Sự lặng lẽ và bí ẩn của cậu, điều bí mật được che đậy bên dưới ánh nhìn xám xanh chăm chú, những thứ khiến cha cậu phật ý, đã đánh thức cảm hứng kín đáo theo thuyết thần bí được chôn sâu trong tâm hồn những người dân Nga.
Alexander đến thắng yên ngựa rồi leo lên phi thẳng ra ngoài. Những người đầy tớ và người giữ ngựa đứng nhìn theo, luôn luôn nhìn theo. Họ biết thời điểm đã gần kề. Cậu ta là người duy nhất họ trông chờ, nhân vật được định đoạt từ thời Peter Đại đế. Alexander lặng lẽ và bí ẩn là người được chọn không phải để dẫn dắt họ đi ra mà là cùng họ đi vào trong điều bí ẩn, để trở thành linh hồn của nước Nga.
***
Alexander luôn cảm thấy khó chịu khi ở cùng những nô bộc và nông dân. Gần như họ xem cậu là vị thánh và trông chờ cậu lên nắm quyền.
Điều này cũng thật nguy hiểm. Cha Paul của cậu tích cực canh giữ cái ngai vàng đã bị tước khỏi tay từ lâu. Giờ đây, cha cậu nắm giữ thứ quyền lực bản thân đã khao khát, ấp ủ nó, tận hưởng nó và lạm dụng nó như thể sức mạnh đó là một cô nhân tình người ta thèm muốn nhưng không thể điều khiển.
Alexander băng qua sông Neva và đi vào những khu chợ thành đô, chỉ khi đi qua vùng đồng cỏ thoáng đãng và băng vào các cánh đồng mùa thu ẩm ướt mới để con ngựa trắng lớn của mình chạy nước kiệu.
Cậu phi ngựa hàng giờ qua rừng rậm như thể đi dạo vu vơ. Đám lá vàng nằm rạp xuống mặt đất như những đống vỏ ngô. Cuối cùng, trong khoảng rừng trống trải, cậu đến một thung lũng yên tĩnh, nơi đó là mê cung gồm những nhánh cây khẳng khiu và mảng lá vàng ẩm ướt che phủ một phần hình dáng túp lều cỏ cũ. Cậu thản nhiên xuống ngựa và bắt đầu dẫn bộ con ngựa kiệt sức.
Nắm nhẹ dây cương trong tay, cậu giẫm lên lớp lá cây ướt át, tỏa mùi ngào ngạt trong rừng. Dáng vẻ khỏe mạnh rắn rỏi, chiếc áo quân phục màu đen có cổ cao gần chạm tới cằm, quần ống túm ôm màu trắng và giày ống đen cứng khiến cậu trông như một anh lính giản dị thơ thẩn trong rừng. Vài giọt nước từ cành cây rơi xuống. Cậu gạt nó khỏi tua rua trên cầu vai vàng và rút kiếm ra, quơ vu vơ như chỉ để kiểm tra độ sắc nhọn của kiếm. Cậu liếc mắt nhanh nhìn túp lều, nơi có hai con ngựa được thả gần đó.
Alexander nhìn quanh khu rừng yên tĩnh. Một con chim cu cất tiếng gáy ba lần, rồi im ắng. Chỉ còn nghe tiếng nước rơi khẽ khỏi nhánh cây. Cậu buông dây cương và đi về phía túp lều.
Cậu đẩy cánh cửa khép hờ phát ra tiếng cót két. Bên trong gần như tối đen. Mắt không thể điều tiết nhìn thấy nhưng cậu có thể ngửi được mùi nến mỡ mới tắt dưới sàn trống trơn. Alexander nghĩ mình nghe gì đó chuyển động trong bóng tối khiến tim cậu đập nhanh hơn.
"Cô có đó không ?" Alexander thì thầm trong bóng tối. Sau đó một tia sáng nhỏ xuất hiện, ngọn nến đang được thắp, lửa bốc lên tỏa mùi rơm cháy. Trên ánh nến, cậu trông thấy một khuôn mặt trái xoan xinh đẹp, mái tóc đỏ rối bời nổi bật, cặp mắt xanh lấp lánh ngước lên nhìn xuyên thấu cậu.
"Biết được gì không ?" Mireille hỏi bằng giọng rất khẽ khiến cậu phải căng tai ra nghe.
"Được, bà ấy ở nhà ngục Ropsha", Alexander thì thào đáp lại, dù biết hàng dặm quanh đây không có ai nghe được. "Tôi có thể đưa cô đến đó. Còn nữa, ông ấy có một quân cờ, đúng như cô lo sợ".
"Và phần còn lại thì sao ?" Mireille bình thản hỏi tiếp, ánh mắt xanh khiến cậu lóa mắt.
"Tôi không thể tìm hiểu gì thêm mà không gây nghi ngờ cho ông ấy. Cha tôi nói nhiều vậy quả là phép màu. À, đúng rồi, hình như đội viễn chinh của Pháp vào Ai Cập đông hơn chúng ta nghĩ, có lẽ là cái cớ che đậy. Viên tướng Bonaparte đưa nhiều nhà khoa học theo cùng".
"Nhà khoa học ư ?" Mireille hỏi nhanh, chồm ra phía trước ghế.
"Nhà toán học, nhà vật lý học, nhà hóa học", Alexander đáp.
Mireille liếc ra sau nhìn vào góc phòng tối tăm. Từ trong bóng tối hiện ra dáng vẻ cao gầy của một người đàn ông xương xẩu, có khuôn mặt như chim ưng mặc toàn đồ đen. Ông ta nắm tay một đứa bé khoảng năm tuổi, nó ngước lên mỉm cười đáng yêu với Alexander và chàng hoàng tử mỉm cười lại.
"Ông nghe rồi chứ ?" Mireille hỏi Shahin và ông lặng lẽ gật đầu. "Napoleon đang ở Ai Cập nhưng không phải theo thỉnh cầu của tôi. Anh ta làm gì ở đó cơ chứ ? Anh ta đã biết được bao nhiêu ? Tôi muốn anh ta trở lại Pháp. Nếu ông đi ngay bây giờ thì nhanh nhất bao lâu gặp được anh ta ?"
"Có lẽ anh ấy ở Alexandria, cũng có thể ở Cairo", Shahin đáp. "Nếu qua khỏi Đế chế Thổ Nhĩ Kỳ thì trong vòng hai tháng tôi có thể đến cả hai nơi đó tìm anh ta. Tôi phải đưa Al-Kalim theo cùng, dân Ottoman sẽ biết thằng bé là nhà tiên tri, Người canh cửa sẽ để tôi qua và dẫn tôi đến chỗ cậu con trai của Letizia Bonaparte".
Alexander đang trố mắt kinh ngạc dõi theo cuộc trò chuyện này. "Cô nói về vị tướng Bonaparte như thể quen biết anh ta", Alexander nói với Mireille.
"Anh ấy là một người Corsica", cô nói cộc lốc. "Dân các anh tốt hơn dân xứ đó nhiều. Nhưng chúng ta không có thời gian rề rà, đưa tôi đến nhà ngục Ropsha trước khi quá trễ".
Alexander quay người về phía cửa, trong lúc giúp Mireille khoác áo choàng thì để ý cậu bé Charlot cao tới khuỷu tay đang đứng cạnh.
'Tâu Bệ hạ, Al-Kalim có chuyện nói với ngài" Shahin lên tiếng, ra hiệu cho Charlot. Alexander cúi nhìn đứa bé mỉm cười.
"Chẳng bao lâu ngài sẽ trở thành một vị hoàng đế vĩ đại", Charlot bé nhỏ cất lời bằng giọng lanh lảnh, ngây ngô. Alexander vẫn mỉm cười nhưng nụ cười của cậu héo dần theo từng lời nói của đứa bé. "Tay người sẽ nhuốm máu ít hơn người bà quá cố của người nhưng cũng bởi một việc làm tương tự. Người ngài ngưỡng mộ sẽ phản bội ngài, con nhìn thấy mùa đông lạnh lẽo và ngọn lửa dữ dội. Ngài giúp đỡ mẹ con, vì vậy ngài sẽ được cứu thoát khỏi bàn tay kẻ bất trung này và sống để trị vì hai mươi lăm năm..
"Charlot, quá đủ rồi đấy !" Mireille rít lên, vừa chụp lấy tay con trai mình vừa ném một ánh nhìn dữ dằn về phía Shahin.
Alexander đứng ngây người tại đó, ớn lạnh thấu xương. "Đứa bé này nhìn thấy được tương lai !" cậu thì thầm.
"Vậy hãy để nó lấy khả năng đó làm vài điều có ích", cô nạt ngang, "thay vì đi khắp nơi tiên đoán vận mệnh như mụ phù thủy già bói bài". Lôi Charlot về cạnh mình, Mireille vội vã đi ra cửa, để lại sau lưng vị hoàng tử nước Nga sững sờ. Khi cậu quay về phía Shahin và nhìn vào đôi mắt đen bí hiểm, cậu nghe giọng nói của Charlot bé nhỏ ngân vang:
"Con xin lỗi mẹ", đứa trẻ nói giọng lanh lảnh. "Con quên mất, con hứa sẽ không tái phạm".
***
So với Ropsha, nhà ngục Bastille có vẻ như một lâu đài. Lạnh lẽo và ẩm ướt, không có cửa sổ nên thậm chí đến một tia sáng nhỏ
nhoi cũng không lọt vào được, những thứ ấy làm cho Ropsha không khác gì căn hầm của nỗi tuyệt vọng. Hai năm trời ròng rã, nữ tu trưởng đã sống sót nơi đây, uống thứ nước lờ lợ và ăn cái món đỏ hơn cám heo một chút. Hai năm trời, Mireille không bỏ sót một giờ một phút nào để cố tìm ra nơi ở của vị nữ tu này.
Alexander dẫn họ lẻn vào ngục và nói chuyện với đám lính gác yêu quý cậu hơn cha cậu nhiều và sẽ làm theo bất cứ điều gì cậu yêu cầu. Mireille vẫn nắm tay Charlot, đi qua những hành lang tăm tối phía sau ngọn đèn lồng của lính gác trong khi Alexander và Shahin phía sau.
Xà lim của nữ tu trưởng nằm sâu trong lòng nhà ngục, một hốc nhỏ xíu được ngăn cách cẩn trọng bằng cánh cổng kim loại nặng nề. Mireille dâng lên cảm giác sợ hãi lạnh lẽo khủng khiếp. Người lính nhích sang và cô bước qua bên kia căn phòng. Một phụ nữ lớn tuổi nằm đó như con búp bê bị moi hết bông bên trong, làn da quắt queo vàng ủng như lá héo trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn. Mireille quỳ xuống cạnh tấm ván, vòng tay quanh người nữ tu trưởng đỡ bà ngồi dậy. Cơ thể bà không chút sức lực nào hết, như thể bà đã tan thành cát bụi.
Charlot tới gần, đặt bàn tay nhăn nhúm của nữ viện trưởng vào bàn tay bé xíu của mình. "Mẹ ơi", cậu bé thì thầm, "bà này yếu lắm. Bà mong được chúng ta đưa ra khỏi nơi này trước khi chết..." Mireille cúi nhìn con rồi ngước mắt hướng lên Alexander đang đứng cạnh cô.
"Để tôi xem có làm được gì không" cậu nói rồi cùng lính gác bước ra ngoài. Shahin đến gần kế bên giường. Gắng gượng cùng cực, nữ tu trưởng cố mở mắt nhưng không nổi Mireille cúi đầu lên ngực người phụ nữ gỉà nua và cảm nhận những giọt nước mắt nóng hổi chảy sau khóe mắt, thiêu đốt cổ họng cô. Charlot đặt tay lên vai mẹ.
"Bà ấy cần nói điều gì đó", đứa bé bình thản nói với mẹ. "Con có thể nghe được suy nghĩ của bà... Bà không muốn những người khác chôn cất mình... Mẹ", Charlot thì thào, "có gì đó trong áo bà ! Có gì đó chúng ta phải có, bà ấy muốn chúng ta có nó".
"Chúa ơi", Mireille kêu khẽ đúng lúc Alexander quay vào phòng.
"Nào, đưa bà ấy đi trước khi lính canh đổi ý", cậu thì thầm cấp bách. Shahin cúi xuống giường nâng bổng nữ viện trưởng lên trong tay như nhấc một sợi lông tơ. Bốn người gấp rút ra khỏi nhà ngục bằng cánh cửa dẫn tới một hành lang dài chạy bên dưới mặt đất. Cuối cùng họ ra tới ngoài, nơi có ánh sáng mặt trời, không cách xa chỗ để ngựa là bao. Shahin ôm vị nữ tu mỏng manh, đặt lên yên ngựa dễ dàng rồi tiến vào rừng với những người khác đi theo ngay sau.
Ngay khi đến một nơi biệt lập, họ ngừng lại và xuống ngựa. Alexander đỡ nữ tu trưởng trong cánh tay. Mireille trải áo choàng xuống đất cho người phụ nữ gần đất xa trời này nằm lên. Đôi mắt vẫn khép chặt, vị nữ tu đang vất vả cố sức nói. Alexander khum tay đựng nước lấy từ dòng suối gần đó cho bà uống nhưng bà quá yếu không thể uống nổi.
"Ta biết..." bà nói bằng giọng khàn khàn và đứt quãng.
"Người biết con đến gặp người", Mireille lên tiếng, vuốt cặp chân mày nhíu lại của nữ tu trưởng vì bà phải gắng sức nói. "Nhưng con e mình đã đến quá trễ. Người sẽ có lễ mai táng theo đúng nghi thức nhà thờ. Con sẽ đích thân nghe người xưng tội vì không còn ai khác ở đây". Nước mắt giàn giụa trên mặt trong lúc cô quỳ cạnh và nắm chặt tay nữ tu trưởng. Charlot cũng đang quỳ, đặt tay lên chiếc áo choàng của nữ viện trưởng đang buông lơi trên thân hình mong manh của bà.
"Mẹ ơi, nó ở trong chiếc áo này đây, giữa bề mặt và lớp vải lót !" đứa bé reo lên. Shahin đứng ra, rút cái bousaadi bén nhọn để cắt chiếc áo. Mireille đặt tay lên cánh tay ông ngăn lại nhưng ngay lúc đó nữ tu trưởng mở mắt và nói bằng giọng thì thào khàn khàn.
"Shahin", bà cất lời, nụ cười nở rộng trên khuôn mặt khi bà cố nhấc tay chạm vào ông. "Cuối cùng ông cũng đã tìm thấy nhà tiên tri của mình. Tôi đi gặp đấng Ala của ông đây... đúng là có sớm. Tôi mang Người... tình yêu của ông..." Tay bà rơi xuống và mắt khép lại. Mireille bắt đầu nức nở nhưng môi nữ tu trưởng vẫn đang mấp máy. Charlot ngả người tới trước chồm qua Mireille và đặt môi lên trán vị nữ tu. "Đừng cắt... cái áo..." bà nói, rồi nhắm mắt xuôi tay.
Shahin và Alexander đứng bất động dưới tán cây nhiễu nước trong lúc Mireille gục lên thi thể nữ tu trưởng khóc ngất. Vài phút sau, Charlot kéo mẹ ra. Bàn tay nhỏ bé của nó nhấc chiếc áo choàng nặng nề ra khỏi thân hình tiều tụy của nữ tu trưởng. Trên lớp vải lót mặt trước áo, bà đã dùng máu của chính mình vẽ một bàn cờ có nhiều cạnh nhọn. Giờ máu đã ngả sang nâu và biến màu do mặc lâu. Trong mỗi ô vuông có một ký hiệu được vẽ cực kỳ cẩn thận. Charlot ngước nhìn Shahin và ông này đưa thằng bé con dao. Nó cẩn thận cắt rời đường chỉ may nối lớp áo với vải lót. Ở đó, bên dưới bàn cờ là một mảnh vải xanh sậm nặng trĩu, phủ đầy những viên đá quý sặc sỡ.
Paris. Tháng giêng năm 1799
Charles Maurice Talleyrand rời văn phòng Hội đồng Đốc chính và khập khiễng bước xuống những bậc thang đá dài, đi ra khoảng sân có xe ngựa đứng đợi. Quả là một ngày vất vả khi anh bị năm vị đốc chính ném tới tấp vào mặt đầy các cáo trạng và lời sỉ nhục về tội nhận hối lộ của phái đoàn Mỹ. Anh quá kiêu căng đến nỗi không thèm thanh minh hay bào chữa và ký ức về sự nghèo đói quá gần đến nỗi anh cũng không thể nhận tội và chuyển giao khoản tiền. Anh cứ đứng đó câm như hến trong khi bọn họ lép nhép đến sùi bọt mép. Khi họ kiệt sức, anh bỏ đi không nêu nguyên cớ.
Anh mệt lử khập khiễng băng qua khoảng sân đá sỏi đi đến xe ngựa. Tối nay anh sẽ ăn một mình, mở chai rượu vang lâu đời của đảo Madeira và đi tắm nước nóng. Trong đầu anh chỉ xuất hiện những ý nghĩ đó khi người đánh xe trông thấy chủ vội vàng chạy ào đến xe ngựa. Talleyrand vẫy tay ra hiệu cho anh ta leo lên yên trước và tự mình mở cửa. Khi chui vào ghế ngồi, anh nghe tiếng sột soạt vang trong bóng tối của khoang ghế rộng khiến anh lập tức điếng người.
"Đừng sợ", giọng phụ nữ nhỏ nhẹ cất lên, giọng nói khiến anh lạnh buốt sống lưng. Một bàn tay đeo găng đặt lên tay anh trong bóng tối. Khi chiếc xe ngựa chạy tới dưới ánh sáng ngọn đèn đường, anh thoáng thấy làn da trắng mịn đẹp đẽ cùng mái tóc đỏ.
"Mireille !" Talleyrand kêu lên nhưng cô đặt ngón tay đeo găng lên môi. Trước khi biết chuyện gì đang diễn ra, anh quỳ xuống sàn xe ngựa lắc lư, hôn tới tấp lên mặt cô, vùi tay vào tóc cô, thì thầm cả ngàn điều trong lúc đầu óc cố kiểm soát lại. Anh nghĩ mình điên mất rồi.
"Em có biết anh tìm kiếm em bao lâu rồi không, không chỉ ở đây, mà ở khắp mọi hang cùng ngõ hẻm. Sao em bỏ anh đi lâu vậy mà không một lời nhắn, không một dấu hiệu gì cả ? Anh cứ canh cánh nỗi lo sợ cho em..”. Mireille lặng im đặt môi lên môi anh trong khi anh hít sâu mùi hương cơ thể cô rồi bật khóc. Anh đánh rơi giọt nước mắt bảy năm trời kìm nén và uống nước mắt trên má cô trong lúc cả hai ôm sát lấy nhau như những đứa trẻ lạc giữa biển.
Trong bóng đêm, cả hai bước vào nhà anh qua những khung cửa sổ kiểu Pháp rộng lớn nhìn ra bãi cỏ. Không dừng lại đóng cửa sổ hay bật đèn, anh cuốn cô vào vòng tay mình và đưa cô đến trường kỷ, mái tóc dài của cô chảy tràn lên cánh tay anh. Không nói một lời, anh cởi bỏ y phục của cô và đè mình lên thân người run rẩy, chìm đắm vào da thịt ấm áp và mái tóc óng mượt của cô.
"Anh yêu em", lần đầu tiên những lời này thốt ra khỏi miệng anh.
"Tình yêu của anh đã mang đến cho chúng ta một đứa con", Mireille thì thầm, ngước nhìn anh trong ánh trăng chiếu qua cửa sổ. Anh nghĩ tim mình sắp vỡ òa.
"Chúng ta sẽ có thêm đứa khác nữa nhé", anh nói rồi cảm nhận niềm đam mê cuốn trôi mình như cơn bão quét.
***
"Anh chôn chúng rồi", Talleyrand nói khi họ ngồi tại bàn lát gỗ trong phòng khách cạnh phòng ngủ. "Ở dãy núi xanh tươi của Mỹ, mặc dù đầy tớ Courtiade cố thuyết phục anh đừng làm vậy. Cậu ta có niềm tin hơn anh, cứ nghĩ em vẫn còn sống". Talleyrand mỉm cười với Mireille, cô ngồi bên kia bàn, mái tóc rối bời, quấn mình trong áo choàng. Cô quá đỗi xinh đẹp, anh ao ước được nhào đến bên cô lần nữa. Nhưng người đầy tớ bảo thủ Courtiade ngồi giữa hai người, vừa gấp khăn ăn cẩn thận vừa lắng nghe câu chuyện.
"Courtiade", anh nói, cố kìm nén cảm xúc dâng tràn mãnh liệt, "ta có một đứa con, con trai. Tên nó là Charlot, đặt theo tên ta". Anh quay sang Mireille. "Khi nào anh sẽ được gặp báu vật nhỏ bé này đây ?"
"Sớm thôi", Mireille trả lời. "Nó sang Ai Cập rồi, nơi viên tướng Bonaparte đi đến. Anh có biết gì về Napoleon không ?"
"Chính anh là người thuyết phục anh ta đến đó, hay ít ra anh ta khiến anh tin vậy". Anh mô tả ngắn gọn buổi gặp gỡ Bonaparte và David. "Chính nhờ vậy mà anh mới biết em vẫn còn sống, và em có con" anh nói với cô. "David kể anh nghe về Marat". Anh quan sát cô một cách trang nghiêm nhưng Mireille lắc đầu như thể giũ sạch ý nghĩ đó khỏi mình.
"Còn một chuyện em nên biết", Talleyrand chậm rãi nói, ánh nhìn chạm phải cặp mắt Courtiade. "Có một phụ nữ tên là Catherine Grand. Cô ta có liên quan thế nào đó trong cuộc săn lùng Bộ cờ Montglane. David nói anh rằng Robespierre gọi cô ấy là Nữ Hoàng Trắng..."
Mireille xanh mặt, tay cô siết chặt con dao trét bơ như thể muốn bẻ nó gãy làm đôi. Trong phút chốc cô cứng họng, đôi môi tái nhợt đến mức Courtiade với lấy chai rượu rót thêm cho cô. Mireille nhìn vào mắt Talleyrand.
"Giờ cô ta ở đâu ?" cô thì thầm.
Talleyrand nhìn đĩa thức ăn giây lát rồi ngước đôi mắt xanh trực diện về phía cô. "Nếu đêm qua anh không gặp em trong xe ngựa", anh chậm rãi nói, "thì cô ta đã ở trên giường cùng anh".
Họ ngồi lặng thinh, Courtiade ngó chằm chằm cái bàn còn đôi mắt Talleyrand dán chặt vào Mireille. Cô đặt dao xuống, kéo ghế ra và đứng dậy đi qua bên phía cửa sổ. Talleyrand đứng lên theo, đến gần phía sau và vòng tay qua người cô.
"Anh có rất nhiều phụ nữ”, Talleyrand thì thầm đặt môi lên tóc cô. "Anh cứ tưởng em đã không còn. Và ngay sau đó khi anh biết em không... Nếu trông thấy cô ấy thì em sẽ hiểu”.
"Em đã thấy cô ta", Mireille cất giọng thẳng thừng. Cô quay sang nhìn vào mắt anh "Người phụ nữ đó đứng sau tất cả chuyện này, cô ta có tám quân cờ...
"Bảy", Talleyrand nói. "Anh có quân thứ tám”. Mireille vô cùng ngạc nhiên nhìn anh.
"Bọn anh đã chôn nó trong khu rừng cùng những quân khác”, anh lên tiếng. "Nhưng Mireille này, anh đã đúng khi giấu chúng đi để giải thoát cho chúng ta khỏi lời nguyền kinh khiếp kia. Đã có thời anh mong muốn có bộ cờ. Anh đùa giỡn với em và Valentine với hy vọng lấy được lòng tin của cả hai. Thế nhưng thay vào đó, em lại chiếm giữ tình yêu của anh”. Anh ôm ghì vai cô, không thể thấy những ý nghĩ gì đang giày vò tâm trí cô. "Anh đã nói, anh yêu em mà”, Talleyrand nói. "Tất cả phải bị lôi kéo vào cái hố căm thù này sao ? Ván cờ bắt chúng ta trả giá chưa đủ à ?..”.
"Quá nhiều là đằng khác", Mireille cất giọng, khuôn mặt hơi lạnh lùng trong lúc bước đi ra xa. "Quá nhiều việc để tha thứ và quên đi. Người phụ nữ đó đã nhẫn tâm giết chết năm nữ tu. Cô ả phải chịu trách nhiệm cho Marat và Robespierre về vụ hành hình Valentine. Anh quên rồi sao, em đã tận mắt chứng kiến em ấy mất, bị tàn sát như một con vật !" Cặp mắt xanh của cô long lên sòng sọc. "Em đã trông thấy tất cả họ chết, Valentine, nữ tu trưởng và Marat. Charlotte Corday hy sinh mạng sống của mình để cứu em ! Hành động gian ngoa của cô ả kia sẽ phải đền trả. Em nói anh biết em sẽ có các quân cờ kia bằng bất cứ giá nào !"
Talleyrand thụt lùi và đang nhìn cô với đôi mắt rưng rưng. Anh không để ý Courtiade đã đứng lên và đi qua bên này đặt tay lên cánh tay anh.
"Thưa giám mục, cô ấy nói đúng đấy", Courtiade khẽ nói. "Bất kể chúng ta có mong mỏi hạnh phúc đến đâu, có ao ước nhắm mắt làm ngơ thế nào thì ván cờ này sẽ không bao giờ kết thúc, đến chừng nào những quân cờ được tập hợp lại đặt cùng nhau. Cha biết rõ điều đó như con mà. Tiểu thư Grand phải bị chặn đứng".
“Máu đổ đầu rơi như vậy còn chưa đủ sao ?" Talleyrand lên tiếng.
“Em không còn mong trả thù nữa", Mireille đáp, trước mắt hiện lên khuôn mặt kinh tởm của Marat khi gã chỉ cô đâm dao cắm vào chỗ nào. "Em muốn các quân cờ, ván cờ phải kết thúc".
"Cô ta tự nguyện đưa anh một quân cờ", Talleyrand nói. "Ngay đến thế lực hung tàn cũng sẽ không thuyết phục được cô ta xa lìa các quân còn lại đâu".
"Nếu anh cưới cô ấy", Mireille cất lời, "theo luật pháp nước Pháp, toàn bộ tài sản của cô ấy sẽ là của anh. Cô ta sẽ thuộc về anh".
"Cưới à !" Talleyrand kêu toáng lên, nhảy giật lùi như bị bỏng. "Nhưng anh yêu em mà ! Hơn nữa, anh là giám mục của nhà thờ Thiên chúa giáo. Có giữ chức giám mục hay không thì anh cũng bị ràng buộc theo luật lệ giáo hội La Mã chứ không phải của nước Pháp".
Courtiade đằng hắng. "Cha có thể nhận sự miễn thứ của giáo hoàng", người đầy tớ lễ phép gợi ý. "Con tin có những tiền lệ".
"Courtiade, đừng quên bộ cờ ngươi muốn có là của ai", Talleyrand nạt ngang. "Điều này không thể được. Nói cho cùng, tôi phải hành động như bản tính đàn bà, làm sao hai người có thể nảy ra ý kiến đó nhỉ ? Vì bảy quân cờ cỏn con mà bán đi linh hồn của tôi".
"Để chấm dứt ván cờ này một lần cho mãi mãi", Mireille nói, ánh lửa u ám lập lòe trong đáy mắt cô. "Em sẽ bán linh hồn mình".
Cairo, Ai Cập. Tháng hai năm 1799
Shahin dừng lạc đà ở gần cụm kim tự tháp Gizeh vĩ đại và để Charlot trượt từ yên cương xuống đất. Họ đã đặt chân đến Ai Cập, ông muốn lập tức đưa thằng bé đến chốn linh thiêng này. Shahin nhìn Charlot chạy vụt qua sa mạc đến chân bức tượng Nhân Sư khổng lồ và bắt đầu trèo lên bàn chân to tướng của bức tượng. Sau đó, ông leo xuống lưng lạc đà và đi qua đó, chiếc áo choàng sẫm màu bay phất phơ trong gió.
"Đây là Nhân Sư", Shahin nói với Charlot khi đến nơi. Đứa bé tóc đỏ sắp lên sáu tuổi có thể nói lưu loát tiếng Kabyle và Ả Rập cũng như tiếng Pháp, ngôn ngữ mẹ đẻ, thế nên Shahin có thể chuyện trò thoải mái với nó. "Một nhân vật cổ xưa và thần bí, mang đầu của người phụ nữ còn thân mình giống sư tử. Bà ấy ở giữa chòm sao Sư Tử và Xử Nữ, nơi mặt trời dừng chân suốt thời gian hạ chí".
"Nếu đây là một phụ nữ", Charlot nói, ngước nhìn bức tượng đá khổng lồ lù lù trên đầu, "tại sao nó lại có bộ râu ?"
"Bà ấy là một nữ hoàng vĩ đại - Nữ Hoàng Bóng Đêm", Shahin đáp. "Hành tinh của bà là Sao Thủy, vị thần cứu chữa. Bộ râu thể hiện quyền lực to lớn của bà ấy".
"Như ông nói với con, mẹ con cũng là một nữ hoàng vĩ đại", Charlot nói. "Nhưng mẹ con có râu đâu".
"Có lẽ mẹ con chọn cách không thể hiện quyền lực ra ngoài", Shahin trả lời.
Cả hai nhìn qua bên kia sa mạc trải dài. Xa xa nhiều căn lều cắm trại dựng lên từ chỗ họ xuất phát. Xung quanh là những kim tự tháp cực kỳ to lớn lù lù trong ánh sáng vàng vọt, phân bố như những khối đồ chơi của trẻ con bị bỏ quên trên vùng đất đai rộng lớn hoang vắng. Charlot ngước đôi mắt xanh to tròn nhìn Shahin.
"Ai để chúng ở đây ?" cậu bé hỏi.
"Vô số vị vua qua rất nhiều ngàn năm", Shahin đáp. "Những vị vua này là các thầy pháp vĩ đại. Đó là tên chúng ta gọi họ theo từ kahin trong tiếng Ả Rập, nghĩa là người biết được tương lai. Trong số các dân tộc Do Thái như Phoenicia, Babylon và Khabiru, thầy pháp mang tên hohen. Và theo ngôn ngữ Kabyle của ta thì người đó được gọi là kahuna”.
"Đó có phải là con không ?" Charlot hỏi trong lúc Shahin đỡ cậu bé xuống khỏi bàn chân sư tử họ đang ngồi. Xa kia, một đoàn người cưỡi ngựa từ khu dựng trại đang băng qua sa mạc tiến đến, vó ngựa làm cát bốc thành từng luồng bay mù mịt trong ánh sáng vàng vọt.
"Không" Shahin khẽ đáp. "Con còn hơn thế nữa".
Khi đoàn người ngựa dừng chân, một thanh niên đi đầu nhảy xuống đất và sải bước qua lớp đất gồ ghề, vừa đi đến gần vừa cởi găng tay ra. Mái tóc dài màu hạt dẻ của anh ta phất phơ xõa xuống vai. Anh ngồi xuống trên mũi chân trước mặt cậu bé Charlot trong khi những người khác trong đoàn lục tục xuống ngựa.
"Cháu đây rồi", người thanh niên lên tiếng. Anh mặc quần ống túm vừa vặn ôm sát người và áo vét cổ cao của quân đội Pháp. "Con trai của Mireille ! Chú là tướng Bonaparte, bạn thân của mẹ cháu. Nhưng tại sao mẹ cháu không đến cùng cháu ? Ở trại họ nói cháu đến tìm chú một mình".
Napoleon đặt tay lên mái tóc đỏ rực của Charlot và xoa đầu thằng bé, sau đó nhét găng tay vào áo và đứng dậy trịnh trọng cúi chào Shahin.
Không đợi cậu bé trả lời, anh đã nói "Và ông đây chắc hẳn là Shahin. Bà tôi, Angela-Maria di Pietra-Santa, thường nói về ông như một người rất cao quý. Tôi tin là chính bà đã gửi mẹ cậu bé này đến chỗ ông tại sa mạc, phải không ? Ít nhất đã năm năm rồi còn gì..."
Shahin nghiêm nghị kéo mạng che dưới thấp xuống. "Al-Kalim mang đến một thông điệp vô cùng cấp bách", ông nói giọng ôn tồn. "Chỉ nói cho mình cậu nghe thôi".
"Đi nào", Napoleon lên tiếng, vẫy tay về phía đám binh lính. "Đây là những sĩ quan của tôi. Chúng tôi đã lên đường đến Syria từ sớm tinh mơ, một cuộc hành quân gian khổ. Bất kể chuyện gì cũng để tối nói đi. Tôi mời hai người làm khách của tôi đến dùng bữa tối tại cung điện thống đốc". Anh quay người như thể bỏ đi nhưng Charlot đã nắm lấy tay viên tướng trẻ.
"Chiến dịch này thật xui xẻo", cậu bé nói. Napoleon ngạc nhiên quay nhìn nhưng Charlot chưa nói xong. "Con thấy mọi người bị đói khát. Nhiều người sẽ chết và không thu lại được gì. Chú phải quay về Pháp ngay lập tức. Ở đó chú sẽ trở thành nhà lãnh đạo vĩ đại. Chú sẽ nắm giữ nhiều quyền lực trên thế giới, nhưng điều đó chỉ tồn tại trong mười lăm năm thôi, rồi nó sẽ kết thúc..”
Napoleon giật tay ra trong khi những sĩ quan của anh lo lắng đứng ngó. Sau đó vị tướng trẻ tuổi này ngửa đầu ra sau bật cười.
"Họ nói với chú con được gọi là Nhà tiên tri nhỏ tuổi", anh nói, cúi xuống mỉm cười với Charlot. "Trong doanh trại, họ nói con cho những người lính biết mọi thứ chuyện, đại loại như họ sẽ có bao nhiêu con, trong cuộc chiến họ sẽ lập chiến công hay bị tử trận. Chú chỉ mong rằng khả năng kiểu như vậy là có tồn tại. Nếu các vị tướng là nhà tiên tri thì họ có thể tránh được rất nhiều cạm bẫy".
"Đã từng có một vị tướng cũng là nhà tiên tri", Shahin nhẹ nhàng nói. "Tên vị ấy là Muhammed".
'Tôi cũng đã đọc kinh Koran", Napoleon đáp lại, vẫn mỉm cười. "Nhưng vị ấy đấu tranh vì vinh quang của Chúa, còn dân Pháp kém cỏi chúng tôi chỉ đấu tranh vì vinh quang của quốc gia mình thôi".
"Chính những người phấn đấu vì vinh quang của riêng họ mới phải thận trọng", Charlot lên tiếng.
Napoleon nghe tiếng những sĩ quan lẩm bẩm phía sau lưng mình trong khi anh nhìn trừng trừng vào Charlot. Nụ cười trên môi anh vụt tắt, khuôn mặt sa sầm với thứ cảm xúc cố hết sức kìm nén. "Chú không cho phép một đứa trẻ ném vào mình những lời lăng mạ", anh thì thào. Rồi sau đó anh lớn tiếng nói thêm "Chú không tin vinh quang của mình sẽ bừng sáng rực rỡ hay bị dập tắt quá nhanh chóng như cháu nghĩ đâu, anh bạn nhỏ à. Từ lúc rạng sáng, chú đã lên đường hành quân băng qua Sinai, và chỉ có mệnh lệnh của chính phủ nước chú mới có thể thúc giục chú quay về Pháp thôi".
Quay lưng lại với Charlot, anh đi tới leo lên ngựa, cáu kỉnh ra lệnh cho một sĩ quan đưa Charlot và Shahin đến lâu đài tại Cairo đúng giờ vào bữa tối. Nói xong anh phóng ngựa một mình băng qua sa mạc, bỏ lại những người khác dõi mắt trông theo.
Shahin nói với đám binh lính đang bối rối kia rằng họ sẽ tự đi, rằng đứa bé vẫn chưa nhìn ngắm kỹ các kim tự tháp. Khi binh lính đã miễn cưỡng bỏ đi hết, Charlot mới nắm tay Shahin và họ thả bộ băng qua vùng rộng lớn bao la.
"Ông Shahin", Charlot trầm ngâm, "tại sao tướng Bonaparte lại tức giận với những gì con nói ? Mọi thứ con nói với chú ấy đều là thật mà".
Shahin im lặng giây lát, cuối cùng ông lên tiếng. "Hãy tưởng tượng con ở trong một khu rừng tối tăm không thể thấy được gì, người bạn đồng hành duy nhất của con là một con cú. Con vật có thể nhìn xa trông rộng giỏi hơn con vì cặp mắt của nó vốn nhìn được trong bóng tối. Con cũng có tầm nhìn kiểu như con cú vậy, con thấy xa hơn nơi người khác còn đang lần mò trong bóng tối. Nếu con là họ thì con cũng không lo sợ sao ?"
"Có thể", Charlot thú nhận. "Nhưng chắc chắn con sẽ không tức giận với con cú nếu nó cảnh báo con sắp bị rơi xuống một cái hố !"
Shahin cúi nhìn đứa bé hồi lâu, một nụ cười bất chợt thoáng qua khóe môi ông, sau cùng ông lên tiếng.
"Sở hữu thứ người khác không có luôn luôn là chuyện khó khăn, và thường nguy hiểm. Đôi lúc tốt hơn là để nó trong vòng bí mật".
"Như Bộ cờ Montglane hả ông ?" Charlot nói. "Mẹ con nói nó được chôn giấu hàng ngàn năm rồi".
"Đúng vậy", Shahin đáp. "Giống như thế".
Ngay lúc đó, họ đi vòng sang bên hông kim tự tháp hùng vĩ và ở đó, hai người trông thấy một người đàn ông ngồi trên tấm áo choàng len trải dưới cát với nhiều cuộn dây cói mở ra trước mặt. Ông ta đang nhìn chằm chằm kim tự tháp cao vút nhưng khi Charlot và Shahin tiến đến thì ông ngoái lại, khuôn mặt rạng ngời nhận ra họ.
"Nhà tiên tri nhỏ tuổi !" ông kêu lên, đứng dậy vừa phủi cát khỏi quần vừa đi đến chào hỏi. Hất ngược chùm tóc trước trán ra sau, phần gò má nhiều nếp nhăn và cái cằm tròn của ông dúm dó lại thành nụ cười. "Hôm nay ông ở doanh trại và nghe binh lính đánh cuộc tướng Bonaparte sẽ bác bỏ lời khuyên quay về Pháp mà con định cho anh ta ! Viên tướng của ông không tin lắm vào lời tiên tri. Có lẽ anh ấy nghĩ cuộc viễn chinh thứ chín này của mình thành công tại nơi tám lần trước đã thất bại“.
“Ông Fourier" Charlot reo, rút khỏi tay Shahin chạy tới bên nhà vật lý danh tiếng. “Ông khám phá ra bí mật của các kim tự tháp này chưa ? Ông đã ở đây rất lâu và làm việc cực kỳ chăm chỉ“.
“Ông e là chưa“. Fourier mỉm cười và vỗ nhẹ lên đầu Charlot trước lúc Shahin đến chỗ họ. "Chỉ có những con số trong cuộn giấy cói là chữ số Ả Rập. Phần còn lại tất cả đều là những lời lẽ nhập nhằng hoàn toàn không thể đọc được. Chúng là kiểu nét vẽ phác họa và đại loại thế. Người ta nói tìm thấy ở Rosetta một số viên đá, trên đó hình như có viết vài thứ ngôn ngữ. Có lẽ nó sẽ giúp chúng ta dịch ra được những thứ này. Người ta đang mang nó trở về Pháp, nhưng tới lúc họ giải mã nó xong thì chắc ông chết rồi !“ Fourier bật cười và nắm lấy tay Shahin. "Nếu anh bạn nhỏ của ông thật sự là nhà tiên tri như ông tuyên bố thì nó có thể đọc được những hình vẽ và cứu chúng ta thoát khỏi vô vàn điều phiền hà".
"Ông Shahin hiểu được một vài điều đó ạ", Charlot hãnh diện khoe, đi đến bên hông kim tự tháp, nhìn hàng hàng lớp lớp các hình vẽ kỳ lạ khắc và vẽ trên đó. "Vị này, người đàn ông có đầu chim, là thần Thoth vĩ đại. Ông thần đây là thầy thuốc có thể chữa lành bất cứ bệnh tật nào. Đây cũng là người sáng tạo nên chữ viết, công việc của ông ấy chính là viết tên mọi người vào Tử thư. Ông Shahin nói mỗi người khi chào đời được vị thần ấy trao cho một danh tính bí mật, cái tên được viết lên hòn đá và đưa cho người đó khi chết. Và mỗi vị thần có một con số thay cho tên gọi bí mật.."
"Con số à !" Fourier kêu lên, nhìn nhanh sang Shahin. "Ông có thể đọc các bức vẽ này à ?"
Shahin lắc đầu. 'Tôi chỉ biết những câu chuyện cổ thôi", ông nói bằng giọng Pháp lơ lớ đứt quãng. "Dân xứ tôi cực kỳ sùng kính các con số, phú cho chúng những thuộc tính thiêng liêng. Chúng tôi tin vũ trụ được tạo thành bởi các con số và vấn đề chỉ là rung động theo sự cộng hưởng chính xác với các con số này đế trở thành con số của Thần thánh".
"Nhưng bản thân tôi cũng tin điều đó mà" nhà toán học thốt lên. "Tôi là người nghiên cứu vật lý dao động và đang viết quyển sách trong đó cái tôi gọi là "Thuyết Hòa Âm" áp dụng vào cả nhiệt và quang'. Dân Ả Rập các ông đã khám phá ra tất cả những sự thật về các con số mà dựa vào chúng, chúng tôi xây dựng nên lý thuyết của mình...”
"Ông Shahin không phải người Ả Rập", Charlot xen vào. "Ông ấy là người Xanh của bộ tộc Touareg".
Fourier bối rối nhìn đứa bé rồi quay lại phía Shahin. "Vậy ông biết rõ điều tôi tìm kiếm phải không, những công trình của al' Kwarizmi được nhà toán học vĩ đại Leonardo Fibonacci mang sang châu Âu, đó là các chữ số Ả Rập và môn đại số đã cách mạng hóa lối suy nghĩ của chúng ta ? Những thứ đó không bắt nguồn từ Ai Cập này sao ?”
"Không", Shahin đáp, nhìn các hình vẽ trên bức tường trước mặt "Chúng xuất xứ từ Mesopotamia, những chữ số Ấn Độ được mang từ các dãy núi của vùng Turkestan xuống. Nhưng cuối cùng người biết được bí mật và viết chúng ra lại là al-Jabir al-Hayan, một quần thần nghiên cứu hóa học tại Mesopotamia dưới triều Harun al- Rashid, vị vua trong Ngàn lẻ một đêm. Al-Jabir đi theo chủ nghĩa thần bí Sufi, là thành viên của Hashhashin, hội những kẻ ám sát nổi danh. Ông ta ghi chép bí mật và dẫn đến hậu quả bản thân bị nguyền rủa muôn đời. Ông ta giấu bí mật trong Bộ cờ Montglane".