Bí Ẩn Bộ Cờ Montglane

Lượt đọc: 151 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phân Tích Vị Trí

❊ ❊ ❊

Cờ vua là nghệ thuật phân tích.

- Mikhaii Bolvinnik-

Kiện tướng Liên Xô, Quán quân thế giới

Cờ vua là trí tưởng tượng.

- David Bronstein – Kiện tướng Liên Xô

Nếu bạn không cảm nhận được nó thì bạn sẽ không bao giờ lấy được nó.

-Faust- Johann Wolfgang Goethe

Con đường dọc bờ biển uốn những đường cong dài mỗi khúc quanh lộ ra một khung cảnh sóng vỗ bờ đá bên dưới thật ngoạn mục. Những thân cây xương rồng nhỏ ra hoa và địa y um tùm trên bề mặt đá thẳng đứng bị bọt sóng đánh vào tung tóe. Những cây giọt băng trổ hoa rực rỡ và vàng tươi những chiếc lá kết thành mũi nhọn như ren thêu xòa xuống những mỏm đá phủ lớp muối biển. Bãi biển lung linh xanh ngắt màu xanh của mắt Solarin.

Tuy nhiên tôi xao lãng với cảnh vật bởi mớ suy nghĩ rối bời kẹt trong đầu từ đêm trước. Tôi đang cố phân loại chúng ra khi chiếc taxi lao trên con đường thoáng đãng dọc bờ biến đến Algiers.

Mỗi lần suy ra, tôi cứ được con số tám, số tám có mặt khắp nơi. Đầu tiên bà thầy bói chỉ ra con số đó liên quan đến sinh nhật tôi

Sau đó Mordecai, Sharrif, và Solarin viện dẫn nó như một dấu hiệu kỳ bí: không chỉ số tám khắc trong lòng bàn tay tôi mà Solarin còn nói có một công thức của Bộ Tám, bất kể nó có ý nghĩa gì. Đó là những lời cuối cùng anh ta nói trưóc khi biến mất vào đêm, để Sharrif hộ tống tôi về và tôi không có chìa khóa trở vào phòng khách sạn vì Solarin đã bỏ nó vào túi.

Sharrif đương nhiên tò mò muốn biết người bạn đẹp trai ở quán rượu của tôi là ai và tại sao anh ta biến mất quá đột ngột. Thật hãnh diện giải thích một cô gái giản dị như tôi không chỉ có một, mà đến hai cuộc hẹn, mới vài giờ sau khi đáp máy bay xuống bờ biển một lục địa mới. Và tôi để anh ta nghĩ sao thì tùy trong lúc anh ta và gã hung tợn dưới trướng làm tài xế đưa tôi về trên chiếc xe tuần tra của cảnh sát.

Chìa khóa nằm tại bàn khi tôi về đến nơi và chiếc xe đạp của Solarin không còn dựng ngoài cửa sổ phòng nữa. Vì dù gì một đêm ngon giấc đã bị phá hỏng nên tôi quyết định dành thời gian còn lại nghiên cứu đôi chút.

Giờ tôi biết có một công thức, và nó không chỉ là nước đi của quân Mã. Như Lily đã hình dung nó là kiểu công thức khác, một công thức thậm chí Solarin còn chưa giải mã. Và tôi chắc chắn nó có liên quan đến Bộ cờ Montglane.

Nim đã cố cảnh báo tôi, phải thế không ? Anh ta đã gửi cho tôi đủ sách vở về các công thức và thuật toán. Tôi quyết định bắt đầu với quyển Sharrif có vẻ đang quan tâm nhất, quyển do chính Nim viết - dãy số Fibonacci. Tôi thức đọc đến gần sáng và quyết định của tôi đã mang lại kết quả, dù tôi không chắc chính xác là thế nào. Hình như dãy số Fibonacci được áp dụng cho nhiều thứ hơn các dự án về thị trường chứng khoán. Nó như sau: Leonardo Fibonacci đã quyết định lấy những số bắt đầu với "một": bằng cách cộng từng số cho số liền trước nó, ông ta cho ra một dãy số có đặc tính rất thú vị. Vậy là một cộng không bằng một, một cộng một bằng hai; hai cộng một bằng ba; ba cộng hai bằng năm; năm cộng ba bằng tám và vv. 

Fibonacci là kiểu người bí ẩn, ông cũng như những người Ả Rập tin rằng tất cả các con số đều có đặc tính thần kỳ. Ông ta khám phá ra công thức mô tả mối liên hệ giữa từng con số trong dãy số, đó là một phần hai căn bậc hai của năm trừ một, nó cũng mô tả cấu trúc mọi thứ trong tự nhiên có dạng xoắn ốc.

Theo sách của Nim, các nhà thực vật học đã sớm biết lá cây hay thân cây mang hình xoắn ốc tuân theo dãy số Fibonacci. Các nhà nghiên cứu sinh vật học biết ốc anh vũ và tất cả dạng xoắn ốc của sinh vật biển đều tuân theo dãy số đó. Những nhà thiên văn khẳng định mối liên hệ giữa các hành tinh trong thái dương hệ, kể cả hình dạng của dãy ngân hà, đều được mô tả theo dãy số Fibonacci. Nhưng tôi để ý vài thứ khác, kể cả trước khi quyển sách của Nim nói tới. Không phải vì tôi biết về toán học, mà vì tôi chuyên về âm nhạc. Bạn thấy đấy, công thức nho nhỏ này không phải được tạo ra bởi Leonardo Fibonacci mà được tìm thấy hai ngàn năm trước, bởi một người tên Pythagoras. Người Hy Lạp gọi nó là aurio sectio: nguyên lý về sự dung hòa.

Nói một cách đơn giản, nguyên lý về sự dung hòa mô tả bất kỳ điểm gì trên một đường thẳng nơi tỷ lệ của phần nhỏ hơn so với phần lớn hơn tương tự tỷ lệ của phần lớn hơn so với toàn bộ đường đó. Tỷ lệ này được tất cả các dân tộc cổ đại sử dụng trong kiến trúc, hội họa, và âm nhạc. Nó được Plato và Aristot xem là mối quan hệ "hoàn hảo" để quyết định vật đó có vẻ đẹp thẩm mỹ không. Nhưng đối với Pythagoras, điều đó có ý nghĩa to lớn hơn thế nữa.

Lòng tận tụy của Pythagoras đối với thuyết thần bí đến cả Fibonacci cũng không sánh được. Người Hy Lạp gọi ông là "Pythagoras của Samos" vì ông từ đảo Samos đến Crotona để trốn tránh những vấn đề chính trị. Nhưng theo những người bạn của ông, ông được sinh ra ở Tyre, một thành phố của người Phoenicia cổ mà giờ chúng ta gọi đó là Lebanon, và ông đi khắp nơi, sống ở Ai Cập hai mươi mốt năm và Mesopotamia mười hai năm, cuối cùng đến Crotona khi đã hơn năm mươi tuổi. Ở đó ông lập ra một hội bí ẩn, ngụy trang sơ sài là trường học, cho sinh viên nghiên cứu những bí mật ông lượm lặt được từ những chuyến đi. Những bí mật này tập trung quanh hai vấn đề: toán học và âm nhạc.

Chính Pythagoras là người khám phá ra nền tảng thang âm nhạc phương Tây là quãng tám vì gảy phân nửa dây đàn sẽ cho âm thanh tám quãng cao hơn gảy cả dây đàn. Tần số rung của một dây đàn tỉ lệ nghịch với chiều dài của nó. Một trong những bí mật của ông là quãng năm (năm phím âm nguyên, hay nguyên lý dung hòa của quãng tám), khi lặp đi lặp lại mười hai lần khúc xê-căng lên cao lẽ ra sẽ trở lại phím ban đầu của quãng tám cao hơn. Nhưng thay vì vậy, đến khúc đó, nó sẽ dừng ở phần thứ tám của phím, vì vậy thang âm lên cao cũng sẽ tạo thành đường xoắn ốc.

Nhưng bí mật to lớn trên hết của Pythagoras là lý thuyết về vạn vật được làm nên từ những con số, mỗi số có đặc tính thiêng liêng. Những tỷ lệ bí ẩn của các con số này xuất hiện khắp nơi trong tự nhiên, theo Pythagoras nó có cả trong âm thanh các hành tinh chuyển động khi đi qua lỗ đen vũ trụ tạo ra. "Trong sự rung chuyển của những dây đàn có hình dạng", ông nói. "Trong sự dàn trải của các thiên thể có âm nhạc".

Vậy điều này liên quan gì đến Bộ cờ Montglane ? Tôi biết một bộ cờ vua có tám con tốt và mỗi phe có tám quân; bản thân bàn cờ có sáu mươi bốn ô, tức là tám bình phương. Dứt khoát có một công thức. Solarin đã gọi nó là công thức Bộ Tám. Còn nơi nào để cất giấu công thức đó tốt hơn trong một bộ cờ gồm toàn những con số tám ? Như nguyên lý của sự dung hòa, như dãy số Fibonacci, như đường xoắn ốc lên cao bất tận - Bộ cờ Montglane còn vĩ đại hơn toàn bộ các phần của nó.

Tôi rút nhanh một tờ giấy ra khỏi cặp sách trong khi chiếc xe taxi đang chạy và vẽ một hình số tám. Sau đó tôi quay ngang tờ giấy, đó là biểu tượng vô cực trong toán học. Tôi nghe giọng nói vang vọng trong đầu khi nhìn chằm chằm vào hình ảnh lượn lờ trước mắt. Giọng nói cất lên: CHỈ LÀ MỘT VÁN ĐẤU KHÁC, TRẬN ĐÁNH NÀY SẼ TIẾP TỤC MÃI MÃI.

Nhưng trước khi tham gia cuộc ẩu đả đó, tôi còn một vấn đề to lớn hơn: để nán lại Algiers chắc chắn tôi phải có công việc, một công việc với đủ tai tiếng khó tránh khỏi. Tôi nếm mùi vị hiếu khách kiểu dân Bắc Phi từ ông bạn Sharrif, và hắn sẽ nhúng tay vào công việc sau này của tôi. Và còn nữa, tôi sẽ săn lùng Bộ cờ Montglane bằng cách nào đây, khi cuối tuần này, ông chủ Petard sẽ đeo bám theo tôi ?

Tôi cần nơi ở, và chỉ duy một người có thể thu xếp điều đó cho tôi. Tôi đang ngồi trong những hàng người dài vô tận của phòng đợi để cố gặp được ông ta. Ông là người phê chuẩn thị thực cho tôi nhưng bỏ mặc những nhân viên cấp cao của Fulbright Cone để đi đánh quần vợt, người sẽ thanh toán hóa đơn một hợp đồng máy vi tính lớn nếu đồng ý ký kết. Và không biết sao tôi cảm thấy sự ủng hộ của ông ấy tuyệt đối cần thiết nếu muốn những nỗ lực trước mắt có thể thành công, dù lúc đó tôi không hình dung được thành công đến mức nào. Tên ông ấy là Emile Kamel Kader.

Chiếc taxi đi đến tận cùng Algiers, dọc khúc quanh rộng lớn của khu cảng thông thoáng. Đối diện mặt biển là mái vòm cao của những khung tò vò trắng phía trước tòa nhà chính quyền. Chúng tôi dừng xe trước Bộ Công nghiệp và Năng lượng.

Khi tôi bước vào tiền sảnh lát đá hoa cương, rộng lớn, tối tăm, và lạnh lẽo, đôi mắt tôi từ từ quen với ánh đèn. Nhiều nhóm người đứng đây đó, vài người mặc com-lê, những người khác mặc áo choàng trắng và áo ngoài kiểu Hồi giáo màu đen dài rũ xuống, họ trùm khăn choàng lên đầu để tránh cái nóng gay gắt của khí hậu sa mạc. Vài người đang trùm đầu bằng vải ca rô đỏ trắng nhìn như khăn trải bàn ăn của người Ý. Tất cả các cặp mắt đểu sửng sốt đổ dồn về phía tôi khi tôi vào tiền sảnh, và tôi có thể biết tại sao. Hình như tôi là một trong số ít ỏi những người tại nơi này mặc quần tây.

Không có danh mục khu vực hay bàn tiếp tân, và có ba gã to như chiếc xe tải đứng ở mỗi thang máy. Vả lại, tôi không thích thú gì đi qua lại trước những cặp mắt tò mò dõi theo khi không chắc mình đang tìm kiếm khu vực nào. Vì thế tôi tiến đến cầu thang rộng rãi lát đá hoa cương dẫn lên gác trên. Một anh chàng da ngăm đen mặc com-lê chặn tôi lại.

"Tôi có thể giúp gì cô ?" anh ta thình lình lên tiếng, đưa thân hình vào chắn giữa tôi với cầu thang.

"Tôi có cuộc hẹn", tôi nói, cố vượt qua anh ta, "với ngài Kader. Emile Kamel Kader. Ông ấy đang đợi tôi".

"Bộ trưởng dầu khí ư ?" anh chàng nói, nhìn tôi hoài nghi. Tôi hoảng hồn khi anh ta gật đầu một cách lịch sự và nói, "Tất nhiên rồi, thưa cô. Tôi sẽ dẫn đường cho cô đến chỗ ông ấy".

Chết thật. Tôi không có nhiều lựa chọn, đành phải để anh ta hộ tống tôi trở lại chỗ thang máy. Anh chàng đặt tay dưới khuỷu tay tôi và mở đường cho tôi qua đám đông như thể tôi là hoàng thái hậu. Tôi tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra khi anh ta phát hiện ra tôi không có cuộc hẹn nào hết.

Khi anh ta dùng thang máy riêng chỉ dành cho hai người chúng tôi, tình huống tồi tệ hơn bất chợt nảy ra trong đầu tôi. Đó là tôi không nói tiếng Pháp rành rọt như tiếng Anh. Ồ, được rồi, tôi có thể vạch ra chiến lược khi ngồi hàng giờ trong cái phòng đợi mà theo lời Petard là rất khó chịu. Lúc ấy tôi sẽ có thời gian suy nghĩ.

Khi bước ra khỏi thang máy tầng trên cùng, tôi thấy một nhóm cư dân sa mạc mặc áo choàng trắng tụ tập đây đó gần bàn tiếp tân, chờ người nhân viên nhỏ bé chít khăn kiểm tra xem cặp sách có súng không. Anh ta đứng sau cái bàn cao, cầm máy dò quơ qua từng cái cặp với một động tác vẫy tay. Đám đông quanh anh ta khá ấn tượng. Mặc dù trang phục của họ trông như khăn trải giường nhưng những viên ngọc mài tròn và hồng ngọc trên ngón tay có thể khiến Louis Tiffany chết ngất.

Người hộ tống kéo tôi đi qua đám đông, lên tiếng xin lỗi khi chen qua nhóm người như những tấm vải liệm. Anh ta nói vài câu bằng tiếng Ả Rập với nhân viên tiếp tân và anh này bật dậy từ sau bàn, lóc cóc đưa chúng tôi xuống hành lang. Ở cuối dãy, tôi thấy anh ta dừng lại nói chuyện với người lính đeo súng trường trên vai. Cả hai quay nhìn tôi chằm chằm và anh lính biến mất sau góc tường. Giây lát sau, anh lính quay lại ra hiệu bằng cái vẫy tay. Người hộ tống ở tiền sảnh gật đầu và quay sang tôi.

"Ngài bộ trưởng sẽ gặp cô bây giờ", anh ta nói.

Liếc nhanh lần cuối Ku Klux Klan xung quanh, tôi xách cặp lên và đi xuống đại sảnh cùng anh lính.

Ở cuối hành lang, một người lính ra hiệu cho tôi đi theo. Anh ta đi kiểu duỗi thẳng chân, vòng qua góc tường và xuống một hành lang khác dài hơn dẫn đến hai khung cửa chạm trổ cao phải đến mười hai foot.

Người lính dừng lại, đứng nghiêm và đợi tôi bước qua. Tôi hít thật sâu và mở một cánh cửa. Bên trong là gian phòng khổng lồ có sàn đá hoa cương xám sậm, trang trí ngôi sao màu hồng chính giữa. Đối diện cánh cửa hé mở lộ ra một văn phòng rộng lớn phủ kín sàn bằng tấm thảm đen kiểu Boussac với những ô vuông có hình hoa cúc to. Tường phía sau văn phòng uốn cong lắp các ô cửa sổ kiểu Pháp, tất cả đều mở toang để những tấm màn mỏng phất phơ bay từ ngoài vào trong. Những ngọn cây chà là cao phía xa xa che phủ một phần cảnh biển nước.

Một người đàn ông cao, mảnh khảnh với mái tóc vàng như cát đang nhìn ra biển, tựa người vào hàng rào lan can bằng sắt rèn, đứng quay lưng lại với tôi. Ông quay lại khi tôi đến.

"Thưa cô, ông nói một cách chân thành, đi vòng qua bàn, chìa tay ra chào đón tôi. "Cho phép tôi tự giới thiệu. Tôi là Emile Kamel Kader, bộ trưởng dầu khí. Tôi mong chờ được gặp cô.

Toàn bộ phần giới thiệu này được nói bằng tiếng Anh. Tôi gần như muốn ngã ra sàn, thật là nhẹ nhõm.

"Cô ngạc nhiên với vốn tiếng Anh của tôi", ông ta nói và cười, đó không phải kiểu cách "nghi thức" như dân địa phương mà là một trong những nụ cười ấm áp nhất tôi từng thấy. Ông ta tiếp tục bắt tay tôi hơi lâu.

"Tôi lớn lên ở Anh và học ở Cambridge. Nhưng mọi người ở bộ đều nói được một chút tiếng Anh. Nói cho cùng đó là ngôn ngữ của ngành dầu khí".

Ông ta cũng có giọng nói ấm áp, trầm lắng và ngọt ngào như mật ong rót vào tai. Ông ấy cũng khiến tôi nghĩ đến mật ong, đôi mắt màu hổ phách, mái tóc quăn màu vàng tro, và nước da nâu nhạt, ông thường mỉm cười và khi cười, những nếp nhăn như mạng nhện xuất hiện quanh mắt, dấu vết ra nắng quá thường xuyên. Tôi nghĩ đến những trận quần vợt và mỉm cười đáp lại.

"Cô ngồi đi", ông ta nói, mời tôi ngồi vào một chiếc ghế gỗ chạm khắc xinh đẹp. Đi đến bàn làm việc, ông nhấn nút hệ thống liên lạc và nói vài câu Ả Rập. "Tôi kêu người mang trà tới", ông ta nói với tôi. "Tôi biết cô ở khách sạn El Riadh. Thức ăn ở đó phần lớn là đồ hộp, mùi vị không ngon mấy, dù khách sạn đó đẹp. Nếu cô không có kế hoạch gì, tôi sẽ đưa cô đi ăn trưa sau khi chúng ta nói chuyện. Sau đó cô có thể tham quan đôi chút thành phố này".

Tôi vẫn còn bối rối về sự đón tiếp nồng hậu này và chắc vẻ mặt tôi biểu lộ điều đó, vì ông ấy nói thêm: "Cô có thể tự hỏi tại sao cô được vào văn phòng tôi nhanh đến vậy".

"Tôi phải thú nhận rằng, tôi nghe nói sẽ lâu hơn chút".

"Cô biết đấy, thưa cô... tôi gọi cô là Catherine được không ? Tốt, và cô cứ gọi tôi là Kamel, tên thánh của tôi. Văn hóa nước tôi xem việc từ chối người phụ nữ bất cứ điều gì là thô lỗ, thật ra là hèn nhát. Nếu một người phụ nữ nói rằng cô ấy có cuộc hẹn với bộ trưởng thì không thể để cô ấy chờ mòn mỏi ở phòng đợi mà phải cho cô ấy vào ngay lập tức !" Ông ta bật cười với giọng ấm áp tuyệt vời. "Cô có thể làm gì cũng được suốt thời gian ở lại đây, giờ cô đã biết bí quyết để thành công".

Chiếc mũi dài cao và vầng trán rộng của Kamel khiến ông ta trông giống được nặn theo hình trên đồng xu. Có gì đó ở người đàn ông này trông rất quen thuộc.

"Ông là người Kabyle phải không ?" tôi đột nhiên hỏi.

"Sao cơ, đúng vậy !" ông ta trông rất thích thú. "Sao cô biết ?"

"Chỉ là đoán thôi", tôi đáp. 

"Đoán hay lắm. Phần lớn người trong bộ là dân Kabyle. Mặc dù người Kabyle chiếm chưa đầy mười lăm phần trăm dân số Algeria nhưng lại chiếm đến tám mươi phần trăm các chức vụ chính quyền cấp cao. Cặp mắt màu vàng luôn luôn khiến dân Kabyle chúng tôi bị lộ, nó do nhìn quá nhiều tiền mà ra". Ông bật cười.

Dường như ông ấy đang trong tâm trạng vui vẻ nên tôi quyết định đây là thời điểm đề cập vấn đề khó khăn nhất, mặc dù tôi không chắc làm thế nào để mở miệng. Nói cho cùng, những cộng sự của tôi đã bị ném ra khỏi văn phòng này vì phá hỏng trận đánh quần vợt của ông ta. Điều gì giúp tôi khỏi bị đá văng khi lỡ nói điều thất thố ? Nhưng tôi đang ở trong phòng làm việc riêng, không có cơ hội như vậy lần thứ hai nên tôi quyết định chộp lấy.

"A, có chuyện tôi phải bàn bạc với ông trước khi đồng nghiệp tôi đến vào cuối tuần", tôi mở lời.

"Đồng nghiệp của cô à ?" ông nói, ngồi xuống ghế sau bàn. Ông ấy bất chợt có vẻ cảnh giác, hay chỉ do tôi tưởng tượng ?

"Chính xác là sếp của tôi", tôi nói. "Vì chưa ký được hợp đồng nên công ty quyết định cần sếp của tôi có mặt để giám sát mọi việc. Thật ra, tôi làm trái mệnh lệnh khi đến đây hôm nay. Nhưng tôi đã đọc hợp đồng", tôi nói thêm, rút một bản in từ cặp sách ra và đặt nó lên bàn, "và thực lòng mà nói tôi không thấy nó cần quá nhiều sự giám sát".

Kamel liếc qua bản hợp đồng và nhìn lại tôi. Ông gập tay theo kiểu cầu nguyện và cúi đầu lên tay như đang suy nghĩ. Giờ tôi chắc mình đã đi quá xa. Cuối cùng ông ta lên tiếng.

"Vậy cô tin vào việc phá luật ?" ông ta nói. "Điều đó thật thú vị, tôi muốn biết vì sao".

"Đây là ‘Hợp đồng trọn gói' để có cố vấn trợ giúp", tôi nói, ra hiệu về phía tờ giấy vẫn còn nằm im trên bàn, giữa chúng tôi. "Nó đề cập việc tôi tiến hành phân tích nguồn dầu khí, cả dưới đất lẫn trong thùng. Tất cả những thứ tôi cần để thực hiện công việc là một chiếc máy vi tính, và một hợp đồng đã ký. Sếp của tôi chỉ gây cản trở thêm thôi". 

"Tôi hiểu", Kamel nói, vẫn không mỉm cười. "Cô đưa ra cho tôi lời giải thích mà không trả lời câu hỏi của tôi. Để tôi hỏi cô câu khác, cô có biết gì về dãy số Fibonacci không ?"

Tôi quyết định không để lộ sự kinh ngạc. "Một chút", tôi thú nhận. "Chúng được dùng cho dự án thị trường chứng khoán. Ông có thể nói tôi biết ông quan tâm gì trong chủ đề có thể là quá uyên bác này ?"

"Tất nhiên", Kamel nói, nhấn một cái nút trên bàn. Giây lát sau một người nhân viên đi vào, mang theo hồ sơ bìa da, đưa cho Kamel và đi khỏi.

"Chính phủ Algeria", ông nói, lấy tài liệu ra đưa cho tôi, "tin rằng đất nước chúng tôi chỉ có một lượng dầu cung cấp giới hạn, có lẽ đủ trong tám năm. Có thể chúng tôi sẽ tìm thêm ở sa mạc hoặc có thể không. Dầu là thứ xuất khẩu chính yếu duy nhất vào lúc này; nó hỗ trợ hoàn toàn cho quốc gia trả tất cả chi phí nhập khẩu, kể cả thực phẩm. Như cô thấy, nước tôi có rất ít đất trồng trọt. Chúng tôi nhập khẩu tất cả sữa, thịt, sản phẩm ngũ cốc, gỗ... kể cả cát".

"Ông nhập khẩu cát ư ?" tôi nói, ngước mắt khỏi tài liệu đang bắt đầu đọc. Algeria có hàng trăm ngàn cây số sa mạc cơ mà.

"Cát công nghiệp dùng trong sản xuất. Chất lượng cát ở sa mạc Sahara không thích hợp vào mục đích công nghiệp. Vì thế chúng tôi hoàn toàn phụ thuộc vào dầu. Chúng tôi không có nguồn dự trữ nhưng chúng tôi có mỏ khí tự nhiên rất rộng lớn, rộng đến nỗi lúc này giá như tìm được cách vận chuyển nó thì chúng tôi có thể trở thành một trong những nhà xuất khẩu dầu lớn nhất thế giới".

"Nó có liên quan gì đến dự án của tôi ?" tôi hỏi, nhanh chóng liếc qua những trang tài liệu dù viết bằng tiếng Pháp nhưng không đề cập gì đến dầu hay khí tự nhiên.

"Algeria là nước thành viên của tổ chức OPEC. Hiện từng nước thành viên đàm phán các hợp đồng và ra giá cho dầu của nước mình, với những điều khoản khác nhau cho nhưng nước khác nhau. Nhiều nước trong tổ chức trao đổi hàng hóa một cách chủ quan và tùy tiện. Là quốc gia chủ nhà của OPEC, chúng tôi đề xuất các thành viên chuyển sang khái niệm trao đổi tập thể. Điều này nhằm hai mục đích. Thứ nhất, nó sẽ đột ngột gia tăng giá từng thùng dầu trong khi vẫn giữ lại chi phí cố định để phát triển. Thứ hai, chúng tôi có thể tái đầu tư khoản tiền này vào nhiều tiến bộ công nghệ như dân Do Thái đã làm với nguồn trợ cấp phương Tây".

"Ý ông là về vũ khí à ?"

"Không", Kamel mỉm cười nói, "mặc dù đúng là tất cả chúng tôi có vẻ chi rất nhiều cho khoản đó. Tôi đang đề cập đến tiến bộ trong lĩnh vực công nghiệp, và hơn thế nữa. Chúng tôi có thể mang nước cho sa mạc. Cô biết đây, việc tưới nước là cội nguồn của mọi nền văn minh mà". 

"Nhưng tôi không thấy điều gì trong tài liệu này phản ánh cái ông đang nói", tôi lên tiếng.

Ngay lúc đó trà được người phục vụ đeo găng tay trắng mang ra trên chiếc xe đẩy. Anh ta rót thứ trà bạc hà tôi đã từng uống. Dòng nước bốc hơi chảy ra từ trên không trung, rơi vào những chiếc ly nhỏ phát ra tiếng kêu.

"Đây là cách phục vụ trà bạc hà truyền thống", Kamel giải thích. "Họ ép lá bạc hà và nhúng vào nước sôi, nó hấp thu đường hết mức. Nhiều nơi người ta nghĩ đây là thức uống bổ dưỡng, có nơi khác cho rằng đây là thuốc kích thích". Ông ta bật cười khi chúng tôi nghiêng ly về phía nhau và hớp ngụm trà thơm nồng.

"Có lẽ giờ chúng ta có thể tiếp tục cuộc trò chuyện", tôi nói ngay khi cánh cửa đóng lại sau lưng người phục vụ. "Ông có bản hợp đồng chưa ký với công ty tôi nói rằng muốn đo lượng dầu dự trữ; ông có tài liệu ở đây cho hay muốn phân tích việc nhập khẩu cát và các nguyên liệu thô khác. Ông muốn đề ra vài xu hướng hay ông sẽ không ngừng lưu tâm đến dãy số Fibonacci. Tại sao có quá nhiều những câu chuyện khác nhau đến thế ?"

"Chỉ có một câu chuyện mà thôi", Kamel nói, đặt tách trà xuống và chăm chú nhìn tôi. "Bộ trưởng Belaid và tôi đã xem xét 

rất kỹ lý lịch của cô. Chúng tôi đồng tình rằng cô là lựa chọn tốt cho dự án này — hồ sơ trong quá khứ của cô cho thấy cô sẵn lòng từ bỏ luật lệ", ông ta mỉm cười thật tươi khi nói. "Cô thấy đấy, Catherine thân mến, tôi đã từ chối thị thực cho sếp cô, ngài Petard, mới sáng nay thôi".

Ông ta kéo bản sao hợp đồng chữ hơi mờ qua phía bàn mình, rút bút ra ký cái rẹt vào cuối tờ giấy. "Giờ cô đã có bản hợp đồng được ký kết giải thích nhiệm vụ của cô ở đây", ông ta nói, đưa cho tôi tờ giấy. Tôi nhìn chằm chằm chữ ký giây lát rồi mỉm cười. Kamel cười lại với tôi.

"Tuyệt, thưa ngài", tôi nói. "Giờ ai đó vui lòng giải thích tôi sẽ làm gì ?"

"Chúng tôi muốn một mô hình máy tính", ông nói khẽ. "Nhưng phải làm hết sức bí mật".

"Mô hình làm gì ?" tôi giữ chặt tờ hợp đồng đã ký trên ngực, ước gì mình có thể thấy khuôn mặt Petard khi ông giở nó ra ở Paris, tờ hợp đồng mà toàn bộ cộng sự của tôi không thể nào có được chữ ký.

"Chúng tôi muốn dự đoán", Kamel nói, "thế giới sẽ làm gì, về phương diện kinh tế, khi chúng tôi cắt giảm việc cung cấp xăng dầu".

***

Những ngọn đồi Algiers dốc hơn những ngọn đồi ở La Mã hay San Francisco. Có những nơi thậm chí đồi núi dựng đứng. Tôi mệt đứt hơi khi leo lên tới nhà hàng, một căn phòng nhỏ trên tầng hai của một tòa nhà nhìn ra quảng trường lộ thiên. Nó mang tên El Bacour, theo Kamel giải thích có nghĩa "Yên Lạc đà". Tại lối vào nhỏ tí và quán rượu, những mảnh da lưng lạc đà cứng rải rác khắp nơi, từng miếng được thêu hình hoa lá màu sắc đẹp đẽ.

Gian phòng chính có nhiều bàn trải khăn trắng bằng vải hồ cứng và màn ren trắng phất phơ nhè nhẹ trong gió thổi từ cửa sổ để mở. Bên ngoài, đỉnh những cây keo dại đập nhẹ vào tấm kính cửa sổ mở toang. 

Chúng tôi ngồi vào một cái bàn trong hốc cửa sổ hình tròn, Kamel gọi món pastilla au pigeon: bánh nướng vỏ giòn ngâm trong quế và đường, nhồi hỗn hợp rất ngon gồm thịt bồ câu xay nhuyễn, trứng đánh xắt nhỏ, nho khô, quả hạnh nướng, và những gia vị lạ. Khi chúng tôi thưởng thức xong bữa trưa năm món truyền thống của Địa Trung Hải, uống rượu vang cây nhà lá vườn như nước, Kamel kể cho tôi nghe những câu chuyện về Bắc Phi để tiêu khiển.

Tôi không hiểu rõ lắm lịch sử văn hóa lạ thường của đất nước giờ tôi gọi là nhà này. Đầu tiên là những bộ tộc người Berber cổ đại như Tuaregs, Kabyle, và Ma-rốc chiếm lấy vùng bờ biển, sau đó là người Minoan và Phoenicia đến đóng quân. Rồi đến những nhóm La Mã, người Tây Ban Nha chiếm đất người Ma-rốc sau khi thắng trận; và đế chế Ottoman thống trị chiếu lệ bọn hải tặc bờ biển Barbary trong ba trăm năm. Từ năm 1830 trở đi, những vùng đất này nằm dưới sự cai trị của Pháp cho đến mười năm trước khi tôi đặt chân đến, cuộc cách mạng Algeria nổ ra giành lại chính quyền.

Trong khoảng thời gian đó, vương triều của những vị quốc trưởng và vua chúa nhiều không đếm xuể, tất cả có những cái tên nghe kỳ bí và những thông lệ lạ lùng. Mỗi ngày hậu cung nạp thêm một người và một người bị đem đi chém đầu dường như là thủ tục. Hiện luật lệ Hồi giáo có hiệu lực nên tình hình ổn thỏa đôi chút. Mặc dù tôi để ý Kamel đã uống rượu đỏ khi ăn thịt và cơm nghệ tây, uống rượu trắng khi ăn rau trộn nhưng ông ta vẫn tự nhận mình là người theo đạo Hồi.

"Đạo Hồi", tôi nói khi họ dọn cà phê đen ngọt và món tráng, miệng. "Nó có nghĩa là 'Hòa Bình’ phải không ?"

"Theo một cách", Kamel nói. Ông ta đang cắt rahad lakhoum ra làm những hình vuông: một món như thạch tẩm bột đường và có mùi thơm như mật ong, hoa nhài, và quả hạnh. "Nó tương tự với lời chào 'shalom' trong tiếng Do Thái cổ tức là chúc bạn bình an. Theo tiếng Ả Rập, đó là 'chào kiểu salam', cùng động tác cúi thấp đến khi đầu chạm đất. Nó biểu thị sự phủ phục với ý nguyện của Đấng Ala, có nghĩa hoàn toàn khuất phục”. Ông đưa cho tôi một miếng rahad lakhoum và cười. "Đôi khi sự khuất phục trước ý nguyện của Đấng Ala có nghĩa là hòa bình. Nhưng đôi khi không phải vậy".

"Thường thì không phải nhiều hơn là phải", tôi nói. Nhưng Kamel nhìn tôi nghiêm trang.

"Hãy nhớ trong tất cả những đấng tiên tri vĩ đại trong lịch sử - Moses ((1393-1273 TCN) là một lãnh tụ tôn giáo người Do Thái trong Kinh Thánh, nhà tiên tri, người được truyền thông cho là tác giả của Torah. Ông cũng là một nhà tiên tri quan trọng trong Do Thái giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo, đạo Bahá'í, đạo Mormon, Rastafari, đạo Rael và nhiều tôn giáo khác), Đức Phật, thánh John the Baptist (Thánh John the Baptist là chứng nhân của Đức Kitô ánh sáng), Zarathustra, Chúa cứu thế, chỉ có Muhammed là người duy nhất thật sự đi đến chiến tranh. Ngài chiêu mộ đội quân bốn mươi ngàn người và đích thân ngồi trên lưng ngựa lãnh đạo tấn công Mecca và đánh chiếm lại được !"

'Thế còn Joan của Arc thì sao ?" tôi mỉm cười hỏi. (Joan of Arc (còn gọi là Jeanne d'Arc hay Johanna von Orleans) (6/1/1412 - 30/5/1431) là một nữ anh hùng người Pháp trong cuộc Chiến tranh Trăm năm giữa Pháp và Anh. Ngày 16/5/1920, Joan of Arc được Giáo hoàng Benedict XV chính thức phong thánh)

"Bà ấy không sáng lập tín ngưỡng", ông ta đáp. "Nhưng bà ấy có tâm hồn tốt đẹp. Tuy nhiên, thánh chiến Hồi giáo không như dân phương Tây nghĩ. Cô có đọc kinh Koran chưa ?" Khi tôi lắc đầu, ông ấy nói, "Tôi sẽ gửi một bản sao bằng tiếng Anh rõ ràng cho cô. Tôi nghĩ cô sẽ thấy nó thú vị và khác với những gì cô hình dung".

Kamel trả tiền và chúng tôi ra phố. "Giờ đi dạo Algiers như tôi đã hứa", ông ta nói. "Tôi muốn bắt đầu bằng việc dẫn cô tham quan Bưu điện Trung tâm".

Chúng tôi tiến xuống bưu điện trung tâm rộng lớn trên khu cảng. Trên đường đi ông ta nói, "Tất cả đường dây điện thoại đều chạy qua Bưu điện Trung tâm. Đây là một hệ thống khác trong số những thứ chúng tôi thừa hưởng lại của người Pháp, nơi mọi thứ chạy vào và không gì trở ra lại, y như đường phố. Các cuộc gọi quốc tế được chuyển bằng tay. Cô sẽ thấy thích nó, nhất là khi cô sắp làm việc với hệ thống điện thoại cổ xưa này để thiết kế mô hình máy tính tôi vừa ký kết xong. Nhiều dữ liệu cô thu thập sẽ lấy từ đường dây điện thoại".

Tôi không chắc mô hình ông ta diễn tả sẽ cần điện thoại thế nào nhưng chúng tôi đã đồng ý không đề cập nó công khai, vì thế tôi nói, "Vâng, tối qua tôi có vài vấn đề về việc gọi một cú điện thoại đường dài".

Chúng tôi đi lên những bậc tam cấp vào Bưu điện Trung tâm. Như tất cả những tòa nhà khác, nơi đây rộng lớn và tối tăm với sàn lát đá hoa cương và mái trần cao. Những ngọn đèn tinh xảo treo trên trần như văn phòng ngân hàng được thiết kế từ những năm 1920. Khắp nơi đầy những khung ảnh lớn lộng hình Houari Boumédienne, tổng thống Algeria. Ông ta có một khuôn mặt dài, đôi mắt to u buồn và bộ ria rậm rạp kiểu Victoria.

Tất cả những tòa nhà tôi thấy đều có nhiều không gian trống, và bưu điện này cũng không ngoại lệ. Mặc dù Algiers là một thành phố lớn nhưng dường như không bao giờ có nhiều người để lấp đầy diện tích, kể cả ngoài đường. Đến từ New York nên điều này gây ấn tượng cho tôi. Khi chúng tôi băng qua bưu điện, âm thanh đế giày vang vọng khắp các bức tường. Người ta nói chuyện thì thầm khe khẽ như thể trong thư viện công cộng.

Tít góc kia, tại khoảng không rộng thoáng đặt một tổng đài điện thoại bé tí không lớn hơn cái bàn dưới nhà bếp. Nó trông như của Alexander Graham Bell thiết kế. Phía sau là một người phụ nữ khoảng bốn mươi, khuôn mặt nhỏ nhắn nghiêm nghị, có búi tóc nhuộm màu sáng trên đỉnh đầu. Đôi môi tô son đỏ tươi như máu, màu hết thịnh hành từ Thế chiến thứ hai, và bộ trang phục vải voan có hoa cũng cổ điển nốt. Một hộp sôcôla lớn đã tháo bao nằm trên cùng tổng đài điện thoại.

"Có phải ngài bộ trưởng đó không !" bà ấy kêu lên, kéo phích cắm ra khỏi tổng đài điện thoại và đứng lên chào ông ta. Bà chìa cả hai tay ra và Kamel bắt tay bà. "Tôi nhận được sôcôla của ngài rồi", bà nói, ra hiệu về phía cái hộp. "Của Thụy Sĩ ! Ngài không bao giờ dùng hàng thứ phẩm". Bà ta có giọng nói khẽ, nghiêm trang, như các nữ ca sĩ ở quán rượu Montmartre. Tính cách bà như kiểu người làm việc tận tụy, và tôi thích bà ấy ngay lập tức. Bà ấy nói tiếng Pháp với giọng những thủy thủ Marseilles mà cô hầu Valerie của Harry có thể bắt chước rất giống.

"Therese, tôi muốn chị gặp cô Catherine Velis", Kamel nói với bà ấy. "Cô ấy đang thực hiện vài công trình máy tính quan trọng cho bộ, thật ra là cho OPEC. Tôi nghĩ chị đúng là người cô ấy cần quen biết".

"A, OPEC !" Therese kêu lên, tròn mắt và lúc lắc các ngón tay. "Rất lớn. Rất quan trọng. Cô này hẳn phải là người thông minh !" bà ấy nói về tôi. "Ngài biết không, cô ấy sẽ nhanh chóng khiến mọi người chú ý đến tổ chức OPEC này, ngài cứ nghe tôi".

"Therese biết mọi thứ". Kamel bật cười. "Chị ấy nghe tất cả các cuộc điện thoại xuyên lục địa, chị ấy biết nhiều hơn cả bộ".

"Ồ, tất nhiên", bà ấy nói. "Ai sẽ trông nom những thứ này nếu tôi không ở đây ?"

"Therese là cộng đồng người Âu", Kamel nói với tôi.

"Có nghĩa là Bộ tộc black-foot ", bà ấy nói bằng tiếng Anh. Sau đó lại chuyển sang tiếng Pháp giải thích, "tôi được sinh ra ở châu Phi nhưng không phải người Ả Rập, gia đình tôi đến từ Lebanon".

Hình như tôi muốn giữ những hiểu biết mù mờ về khác biệt di truyền tại Algeria, mặc dù tất cả điều đó có vẻ rất quan trọng đối với họ. 

"Cô Velis có vài vấn đề khi gọi điện thoại tối qua", Kamel nói với bà ấy.

"Vào lúc mấy giờ ?" bà ấy muốn biết.

"Khoảng mười một giờ tối", tôi nói. "Tôi cố gọi đến New York từ khách sạn El Riadh".

"Nhưng tôi đã ở đó !" bà ấy kêu lên. Sau đó bà ấy lắc đầu cho tôi biết, 'Tuýp người' làm việc tại tổng đài điện thoại ở khách sạn rất lười biếng. Họ cắt đứt mọi kết nối. Đôi khi cô phải chờ tám tiếng để thông cuộc gọi. Lần sau cho tôi biết và tôi sẽ thu xếp mọi thứ. Cô muốn gọi đêm nay không ? Nói tôi giờ giấc và việc đó sẽ được thực hiện".

"Tôi muốn gửi tin nhắn đến máy tính tại New York", tôi nói với bà ấy, "cho người bạn biết tôi đã đến nơi. Đó là máy ghi âm giọng nói, chỉ cần đọc tin nhắn và máy sẽ ghi lại kiểu con số.

"Rất hiện đại !" Therese nói. "Tôi có thể gửi tin tiếng Anh cho cô, nếu cô muốn".

Chúng tôi đồng ý và tôi viết lời nhắn cho Nim, nói rằng tôi đã đến nơi an toàn và sẽ sớm đến khu vực các dãy núi. Anh ta sẽ biết điều đó có nghĩa gì: rằng tôi sẽ đi gặp nhà buôn đồ cổ của Llewellyn.

"Tuyệt vời", Therese nói, gấp mảnh giấy lại. "Tôi sẽ gửi nó đi ngay lập tức. Giờ chúng ta đã biết nhau nên các cuộc gọi của cô sẽ luôn nhận được ưu tiên số một. Lúc nào đó ghé lại thăm tôi nhé".

Khi Kamel và tôi ra khỏi bưu điện, ông nói, "Therese là người quan trọng nhất ở Algeria. Bà ấy có thể tạo ra hoặc phá vỡ sự nghiệp chính trị chỉ bằng cách cản trở người bà ấy không thích. Tôi nghĩ bà ấy thích cô. Biết đâu bà ấy thậm chí đưa cô lên làm tổng thống cũng nên !" Ông ấy bật cười.

Chúng tôi đang đi dọc khu cảng trở về bộ, và tình cờ ông ấy bình luận, "Tôi để ý trong tin nhắn của cô gửi nói rằng cô dự định đi đến các dãy núi. Có nơi nào đặc biệt cô muốn đến à ?"

"Chỉ để gặp bạn của một người bạn", tôi nói vòng vo, "và tham quan đất nước một chút". 

"Tôi hỏi vì các dãy núi ở đây là chỗ ở của dân Kabyle. Tôi lớn lên ở đó và tôi biết khu vực đó rất rõ. Tôi có thể cho xe đến hoặc đích thân chở cô đi, nếu cô thích", Mặc dù lời đề nghị của Kamel tình cờ như lời mời dẫn tôi tham quan Algierx nhưng tôi để ý một giọng điệu khác ẩn chứa bên trong mà tôi không thể nhận ra.

"Tôi nghĩ ông lớn lên ở Anh chứ ?", tôi nói.

"Tôi đến Anh năm mười lăm tuổi để nhập học trường công. Trước đó, tôi chạy chân trần khắp núi đồi Kabyle như con dê núi. Cô thật sự nên có người dẫn đường, đó là vùng hùng vĩ rộng lớn nhưng dễ bị lạc. Bản đồ đường sá của Algeria không có tất cả đâu".

Ông ta đang hơi khoác lác đôi chút, và tôi nghĩ từ chối thì thật thiếu khôn ngoan. "Chắc tốt nhất tôi nên đi đến đó với ông", tôi nói. "Ông biết đấy, đêm qua khi xuống sân bay, tôi bị đội An ninh theo dõi, một anh chàng tên Sharrif. Ông có nghĩ điều đó có ý gì không ?"

Kamel dừng bước. Chúng tôi đang đứng tại cảng, và chiếc tàu hơi nước khổng lồ bập bềnh trên con sóng chầm chậm.

"Sao cô biết đó là Sharrif ?" ông ta đột ngột hỏi.

"Tôi gặp hắn ta. Hắn... kêu tôi vào văn phòng tại sân bay khi tôi sắp đi qua hải quan. Hắn hỏi tôi vài câu, rất nhẹ nhàng, rồi cho tôi đi. Nhưng hắn cho người theo dõi tôi..."

"Câu hỏi gì ?" Kamel ngắt lời. Ánh mắt ông rất ảm đạm. Tôi cố nhớ mọi thứ đã xảy ra, thuật lại chi tiết tất cả với Kamel. Thậm chí tôi còn kể ông ta nhận xét của tài xế taxi.

Kamel im lặng khi tôi kể xong, có vẻ ông ta đang nghĩ ngợi kỹ càng điều gì đó. Cuối cùng ông lên tiếng, "Tôi sẽ cảm kích nếu cô không đề cập chuyện này với ai khác. Tôi sẽ xem xét nhưng không quá bận tâm, có lẽ là một trường hợp nhầm lẫn nhân dạng".

Chúng tôi đi dọc cảng trở về hướng bộ. Khi đến cổng bộ, Kamel nói, "Nếu Sharrif liên lạc với cô lần nữa vì bất cứ lý do gì thì nói với hắn ta cô đã cho tôi biết tất cả". Ông ta đặt tay lên vai tôi. "Và nói hắn tôi sẽ đưa cô đến vùng dân cư Kabyle".

NGƯỜI DỊCH: NGUYỄN LÂM XUÂN CÁC
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.