Bí Ẩn Bộ Cờ Montglane

Lượt đọc: 80 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Câu Chuyện Của Letizia

❊ ❊ ❊

Căn nhà của Letizia Buonaparte là một dinh thự hai tầng nhỏ nhắn, sơn màu trắng nằm trên con phố hẹp trong những ngọn đồi phía trên Ajaccio. Hai tán cây ô liu bám lên tường trước và mặc cho sương mù dày đặc, vài con ong chăm chỉ vẫn hút mật trên hàng rào cây hương thảo nở muộn um tùm che kín phân nửa cánh cổng.

Không ai nói lời nào trên đường về nhà nhưng lúc xuống xe, Maria-Carolina đã được phân công nhiệm vụ thu xếp chỗ cho Mireille trong khi những người khác lăng xăng chuẩn bị bữa tối. Vẫn còn mặc chiếc áo sơmi cũ thùng thình của Courtiade và chiếc váy quá chật của Elisa, sau một chuyến đi dài mái tóc bám đầy bụi bẩn và làn da rịn ẩm do bệnh nên Mireille cảm thấy nhẹ nhõm vô cùng khi cô bé Carolina mười tuổi xuất hiện với hai bình đồng đựng nước nóng để tắm.

Tắm xong, thay đồ len dày vừa vặn họ tìm cho cô, Mireille cảm thấy có phần khỏe hơn. Bữa tối dọn lên bàn đầy những món đặc sản địa phương: bruccio - phô mai kem làm từ sữa dê, những chiếc bánh bột ngũ cốc nhỏ, bánh mì làm từ hạt dẻ, mứt làm từ anh đào mọc sum suê trên đảo, mật ong từ cây ngải, mực ống nhỏ tự đánh bắt trên biển Địa Trung Hải, thịt thỏ rừng trộn nước sốt đặc biệt của Letizia, và loại cây mới được trồng ở Corsica - khoai tây.

Sau khi ăn tối và mấy đứa trẻ nhỏ đi ngủ, Letizia rót rượu táo vào những chiếc cốc nhỏ cho bốn "người lớn" quanh bàn đặt gần lò than nóng trong phòng ăn.

"Trước khi nói gì khác", Letizia cất lời, "ta muốn xin lỗi con về cơn giận nhất thời của mình. Các con ta đã kể về sự gan dạ của con khi một mình rời khỏi Paris vào ban đêm trong tình trạng khủng bố. Ta muốn Napoleon và Elisa nghe điều ta sắp nói. Ta muốn chúng biết ta trông đợi ở chúng điều gì, ta làm vậy cũng như xem con là thành viên trong gia đình. Bất kể tương lai ra sao ta trông mong chúng giúp đỡ con như người trong nhà".

"Thưa phu nhân", Mireille nói, hâm nóng ly rượu táo cạnh lò than, "con đến Corsica chỉ với một lý do, để nghe chính miệng người nói ra ý nghĩa thông điệp của nữ viện trưởng. Nhiệm vụ con đang gánh vác khiến con phải nhận lấy nhiều chuyện xảy ra. Người thân cuối cùng của con đã bị giết hại vì Bộ cờ Montglane và con thề phải khám phá ra bí mật đen tối nằm khuất trong những quân cờ cho đến giọt máu cuối cùng, hơi thở cuối cùng, giờ phút cuối cùng còn trên đời".

Letizia nhìn Mireille, mái tóc vàng đỏ của cô lung linh trong ánh lửa của lò than, sự tươi trẻ trên khuôn mặt cô tương phản đến chua xót với sự bất mãn trong lời nói của cô - và bà cảm thấy sự day dứt trong tim về điều cô quyết định làm. Bà hy vọng nữ viện trưởng của Montglane cũng sẽ đồng tình rằng bà làm đúng.

"Ta sẽ kể con nghe điều con muốn biết", cuối cùng bà nói. "Trong bốn mươi hai năm ta chưa từng nhắc đến chuyện ta sắp nói ra. Hãy kiên nhẫn, vì đây không phải một câu chuyện đơn giản. Khi ta kể xong, con sẽ hiểu gánh nặng kinh khủng ta đã đeo mang suốt ngần ấy năm trời, nhưng giờ đây ta giao phó nó lại cho con.

Khi ta là một đứa trẻ lên tám, Pasquale Paoli giải phóng hòn đảo Corsica khỏi tay bọn Genoese. Cha ta qua đời, mẹ ta tái giá với một người Thụy Sĩ tên là Franz Fesch. Để cưới mẹ ta, ông ấy phải từ bỏ lòng trung thành với học thuyết Canvin và trở thành tín đồ công giáo. Gia đình ông ấy cắt đứt mọi quan hệ, không trợ cấp một xu. Chính hoàn cảnh này đã tạo nên thăng trầm đưa nữ viện trưởng của tu viện Montglane bước vào cuộc đời chúng ta.

Ít người biết rằng Helene de Roque thuộc dòng dõi gia đình quý tộc lâu đời ở Savoy, có đất đai ở nhiều vùng, và bản thân bà đã đi đây đó khắp nơi. Năm 1764 khi ta gặp bà ấy, dù chưa đầy bốn mươi tuổi nhưng bà đã đạt tới vị trí nữ tu trưởng của tu viện Montglane. Bà ấy quen biết với gia đình ông Fesch và tuy theo đạo thiên chúa nhưng lại thuộc dòng dõi quý tộc mang một phần dòng máu Thụy Sĩ nên bà rất được những người hoàn toàn thuộc giai cấp tư sản kính trọng. Biết tình cảnh, bà tự ý quyết định đứng ra giảng hòa cho người cha kế của ta và gia đình ông ấy, thiết lập lại mối quan hệ gia đình, một hành động lúc đó được cho là hoàn toàn vì người khác.

Cha kế Franz Fesch của ta là một người đàn ông cao lớn, khẳng khiu với khuôn mặt góc cạnh quyến rũ. Như một người Thụy Sĩ đích thực, ông ấy nói năng nhỏ nhẹ, hiếm khi bộc lộ quan điểm và hầu như không tin tưởng ai. Ông ấy tất nhiên rất biết ơn nữ tu de Roque đã dàn xếp việc hòa giải với gia đình ông, và mời bà đến nhà tại Corsica. Không ai đoán được đó là mục tiêu suốt bấy lâu nay của bà ấy.

Ta sẽ không bao giờ quên cái ngày bà ấy đến ngôi nhà đá cũ của chúng ta, xây tít trên cao những dãy núi Corsica cách mặt biển gần tám nghìn foot. Để lên đến nơi, người ta phải vượt qua những vách đá cheo leo có địa thế hiểm trở nhất, lội quá khe núi, và vượt qua đám cây cối um tùm mọc khắp nơi tạo thành những bức tường cao đến sáu foot. Thế nhưng chuyến đi không làm nản lòng người viện trưởng. Ngay khi được miễn màn nghi thức chào hỏi, bà vào đề ngay.

"Tôi đến đây không chỉ vì lời mời tử tế của ông, Franz Fesch", bà bắt đầu, "mà còn vì một vấn đề vô cùng khẩn cấp. Có một người đàn ông, một người Thụy Sĩ như ông, và cũng cải đạo theo thiên chúa như ông. Tôi rất khiếp sợ ông ấy vì ông ta theo dõi mọi động tĩnh của tôi. Tôi tin là ông ấy tìm kiếm để nắm được bí mật tôi bảo vệ, một bí mật từ cả ngàn năm nay. Mọi hành tung của ông ấy cho thấy điều đó, vì ông ấy học nhạc, thậm chí viết cả từ điển nhạc, và sáng tác nhạc kịch với nhân vật nổi tiếng Andre Philidor. Ông ta kết thân với các triết gia Grimm và Diderot, cả hai đều được triều đình của Catherine Đệ nhất ở Nga bảo trợ. Ông ta thậm chí còn trao đổi thư từ với Voltaire - một người ông ấy xem thường và hiện giờ, dù quá yếu không thể tự mình đi lại nhiều nhưng ông ta lôi kéo một gián điệp tiến đến Corsica này. Tôi mong được sự trợ giúp của ông, ông sẽ làm vì lợi ích của tôi, như tôi đã làm vì ông".

"Người Thụy Sĩ đó là ai ?" Fesch cực kỳ tò mò. "Có lẽ tôi biết ông ta".

"Dù có quen biết hay không, ông cũng sẽ biết tên ông ta", vị nữ tu đáp. "Đó là Jean-Jacques Rousseau".

"Rousseau ! Không thể nào !" mẹ Angela-Maria của ta hét lên. "Ngài ấy là một người vĩ đại ! Học thuyết của ngài về đạo đức con người là nền tảng thiết lập nên cuộc cách mạng Corsica ! Thực tế Paoli đã nhờ ngài ấy viết hiến pháp cho chúng tôi, chính Rousseau là người phát biểu 'Con người sinh ra được tự do nhưng lại sống trong xiềng xích ở mọi nơi "

"Đề cập về nguyên tắc tự do và đạo đức một đường", nữ tu trưởng nói cộc lốc, "còn thực hiện là một nẻo. Đây là người nói rằng sách vở là công cụ cho cái xấu, thế mà viết một mạch sáu trăm trang sách. Ông ta bảo trẻ con nên được mẹ chăm sóc thân thể và cha nuôi dưỡng trí tuệ, thế mà chính ông ta là đứa trẻ bị bỏ rơi tại bậc thềm căn nhà dành cho trẻ mồ côi ! Sẽ có thêm một cuộc cách mạng nổ ra dưới cái lớp bọc "đạo đức" ông ta lên lớp thuyết giáo, chưa kể việc ông ta tìm kiếm công cụ quyền lực để đặt tất cả mọi người vào xiềng xích.. trừ người sở hữu nó !" Đôi mắt vị nữ tu rực sáng như than trong lò. Fesch thận trọng nhìn bà chăm chú.

"Ông muốn biết tôi muốn gì" ? nữ tu trưởng nói và mỉm cười. "Tôi hiểu người Thụy Sĩ, thưa ông. Tôi gần như cũng là một người Thụy Sĩ, tôi vào thẳng vấn đề ngay đây. Tôi muốn thông tin và sự hợp tác. Tôi hiểu ông sẽ không cung cấp được thứ gì trong cả hai điều tôi muốn, cho đến khi nào tôi nói ông biết bí mật tôi đang bảo vệ, được chôn giấu tại tu viện Montglane".

Vị nữ tu đã dành phần lớn thời gian trong ngày để kể một câu chuyện dài và kỳ lạ về bộ cờ huyền thoại được cho rằng thuộc về hoàng đế Charlemagne và tin rằng được chôn trong tu viện Montglane cả ngàn năm. Tôi nói rằng "tin" vì không ai trên đời thực sự nhìn thấy nó, dù nhiều người cất công tìm kiếm để biết nơi cất giấu và bí mật về quyền năng người ta đồn đại về nó. Như các vị tiền nhiệm, chính bản thân nữ tu trưởng cũng khiếp sợ rằng phải khai quật kho báu trong nhiệm kỳ của mình và bà phải gánh trách nhiệm mở chiếc hộp Pandora. Vì thế, bà sợ những người cản đường ở quá gần, như tay cờ hoài nghi tất cả các quân có thể giữ chân mình, kể cả chính mình, và lên kế hoạch phản công trước. Đó chính là lý do đưa bà đến Corsica.

"Có lẽ tôi biết thứ Rousseau tìm kiếm ở đây", nữ tu nói, "vì lịch sử hòn đảo này vừa cổ xưa vừa bí ẩn. Như tôi đã nói, Bộ cờ Montglane được người Ma-rốc của Barcelona trao về tay hoàng đế Charlemagne. Nhưng vào năm 809 sau Công nguyên năm năm trước khi Charlemagne mất, một nhóm người Ma-rốc khác đã chiếm hòn đảo Corsica.

"Số giáo phái theo đạo Hồi nhiều gần bằng theo đạo Thiên chúa", bà nói tiếp với nụ cười cay đắng. "Ngay sau cái chết của Muhammed, gia đình ông ấy gây chiến, chia cắt tín ngưỡng. Giáo phái định cư trên Corsica là dòng Shia, những người huyền bí theo thuyết giáo Talim, một học thuyết bí mật cho rằng một vị Chúa cứu thế sắp xuất hiện. Họ thiết lập hệ thống thờ cúng sùng bái bí ẩn cùng một nơi hội họp, những nghi lễ kết nạp bí mật, một kiện tướng, và hội Tam điểm hiện nay dựa trên những nghi thức đó. Họ chinh phục Carthage và Tripoli, thiết lập vương triều đầy quyền lực ở đó. Trong hội có một người Ba Tư đến từ vùng Mesopotamia mang tên Q'armat, lấy theo tên nữ thần Car cổ đại. Chính hắn phát động quân đội tấn công Mecca và đánh cắp bức trướng của ngôi đền thánh Kaaba cùng viên đá đen linh thiêng bên trong. Cuối cùng sản sinh ra Hashhashin, một nhóm chính trị chuyên đi giết người mà từ đó chúng ta có được cái tên "kẻ ám sát".

"Tôi kể ông nghe những điều này", nữ tu nói, "vì giáo phái dòng Shi'ite tàn nhẫn đi theo động cơ chính trị này đã biết về Bộ cờ Montglane khi đặt chân đến Corsica. Họ đã nghiên cứu những bản viết tay cổ xưa của người Ai Cập, Babylon, và Sumer, nói về những bí ẩn đen tối mà họ tin chìa khóa nằm trong bộ cờ. Và họ muốn vực dậy những bí ẩn này.

"Suốt nhiều thế kỷ chinh chiến sau đó, nỗ lực định vị và lấy được bộ cờ của những con người bí ẩn này cứ liên tục bị cản trở. Cuối cùng người Ma-rốc bị đánh đuổi hoàn toàn khỏi pháo đài ở Ý và Tây Ban Nha. Họ bị rò rỉ thông tin từ bè phái nội bộ nên không còn là lực lượng chủ chốt trong lịch sử nữa".

Suốt toàn bộ câu chuyện của vị nữ tu, mẹ ta im lặng một cách lạ lùng. Tính thẳng thắn bộc trực thường có của bà giờ dường như bị che khuất và ngăn lại. Cả Fesch và ta để ý điều đó và ông ấy lên tiếng, có lẽ để mẹ ta nói ra:

"Gia đình và tôi bị buộc lòng tin câu chuyện bà kể", ông nói. "Nhưng tất nhiên chúng tôi muốn biết ngài Rousseau tìm kiếm bí mật gì trên hòn đảo này, và tại sao bà lại chọn chúng tôi để thổ lộ ý muốn cản trở ông ấy".

"Như tôi đã nói, mặc dù Rousseau quá yếu đến nỗi không đi lại được", nữ tu đáp, "nhưng chắc chắn ông ta sẽ cử đặc nhiệm sang chỗ một trong vài người bạn Thụy Sĩ sinh sống ở đây. Về phần bí mật ông ấy tìm kiếm, có lẽ vợ ông, Angela-Maria có thể nói chúng ta biết nhiều hơn. Nếu tôi không lầm, gia đình bà ấy sống rất lâu trên hòn đảo Corsica này, thậm chí còn trước cả những người Ma-rốc."

Thoáng chốc, ta hiểu vì sao vị nữ tu đến đây ! Khuôn mặt duyên dáng, yếu đuối của mẹ ta đỏ bừng trong lúc bà liếc nhanh về phía Fesch và ta. Bà vặn vẹo đôi tay trên vạt áo và có vẻ không chắc nên làm gì.

"Tôi không có ý khiến bà bối rối, thưa bà Fesch", vị nữ tu nói với giọng điềm tĩnh, tuy nhiên cũng hàm chứa ý khẩn nài. "Nhưng tôi hy vọng danh dự người dân Corsica sẽ đền đáp đặc ân tôi đã dành cho ông bà. Tôi thừa nhận mình đã cố tình đứng ra làm cái việc không ai yêu cầu, nhưng giờ tôi hy vọng nỗ lực của mình sẽ không vô ích". Fesch trông bối rối nhưng ta thì không. Ta sống ở Corsica từ khi chào đời và ta biết truyền thuyết của gia đình bên ngoại, dòng họ Pietra-Santas, những người sống trên đảo này ngay từ thời kỳ đầu tiên xa xưa nhất.

"Mẹ à", ta nói, "chỉ là những thần thoại cổ xưa mà mẹ luôn kể con nghe. Có khác biệt gì đâu khi mẹ kể cho nữ tu de Roque nghe trong khi bà ấy đã làm rất nhiều thứ cho chúng ta ?" Khi đó, Fesch đặt tay lên vai mẹ ta và bóp mạnh, tỏ ý ủng hộ.

"Thưa bà de Roquef, mẹ ta nói với giọng run run, "tôi nợ bà lòng biết ơn và nhất định phải đền đáp. Nhưng câu chuyện của bà khiến tôi sợ hãi, mê tín dị đoan ăn sâu trong máu chúng tôi. Mặc dù hầu hết các gia đình trên đảo này là hậu duệ của Etruscany, Lombardy, hay Sicily, nhưng gia đình tôi là những người định cư đầu tiên. Chúng tôi đến từ Phoenicia, dân tộc cổ đại ở phía đông bờ biển Địa Trung Hải. Chúng tôi chiếm đóng Corsica một ngàn sáu trăm năm trước khi Chúa giáng thế".

Vị nữ tu chầm chậm gật đầu trong khi mẹ ta kể tiếp.

"Người Phoenicia là những thương nhân, nhà buôn, trong lịch sử cổ đại được gọi là 'cư dân của biển cả'. Người Hy Lạp gọi họ bằng tên Phoinikes, tóc "máu đỏ", có lẽ vì màu tóc đỏ tía nhuộm từ vỏ sò, hay có lẽ từ loài chim lửa thần thoại, hoặc lá cọ, tất cả được đặt tên là Phoinix: 'đỏ như lửa'. Có những người nghĩ họ đến từ Hồng Hải và tên gọi xuất phát từ mảnh đất quê hương. Nhưng không phải, chúng tôi được đặt tên do màu tóc. Và tất cả những nhóm người thuộc dân tộc Phoenicia sau này, như dân Venice, đều được biết đến bởi dấu hiệu đỏ như lửa này. Tôi nhấn mạnh điểm này, vì những thứ màu đỏ, màu của lửa và máu, được những con người kỳ lạ và nguyên thủy tôn thờ.

"Mặc dù người Hy Lạp gọi họ là Phoinikes nhưng họ tự xưng mình là cư dân của Khna, hay Knossos, sau này là Canaanite. Theo Kinh thánh, chúng tôi biết họ thờ phụng nhiều vị thần, những vị thần của Babylon: họ gọi thần Bel là Ba'al; thần Ishtar là Astarte; và Mel'Quarth, vị thần mà người Hy Lạp gọi là Car, nghĩa là 'Định mệnh' hay 'Số phận', được người dân chúng tôi gọi là Moloch".

"Moloch", nữ tu trưởng thì thầm. "Việc thờ phụng ngoại đạo vị thần này bị người Do Thái phàn nàn, buộc tội mù quáng. Họ ném những đứa trẻ còn sống vào lửa để xoa dịu vị thần.. "

"Đúng vậy", mẹ ta nói, "và còn tệ hơn thế. Mặc dù hầu hết người cổ đại tin rằng việc rửa hận chỉ dành cho các vị thần nhưng người Phoenicia tin họ được quyền làm vậy. Ở những nơi họ sinh sống - Corsica, Sardinia, Marseilles, Venetia, Sicily - hành động dối trá chỉ là phương tiện đạt đến đích; còn sự báo thù có nghĩa là công lý. Thậm chí ngày nay hậu duệ của họ còn cướp bóc người Địa Trung Hải. Tổ tiên cướp biển Barbary không phải là người Berber mà là Barbarossa, tức 'râu đỏ' và thậm chí đến giờ, tại Tunis và Algiers, họ còn giữ hai mươi ngàn người châu Âu trong cảnh nô lệ để đòi tiền chuộc và nhờ đó làm giàu. Đó là những người nối dõi chân chính của Phoenicia: những người cai trị biển cả từ pháo đài trên đảo, người tôn sùng thần trộm cắp, sống bằng hành vi lừa đảo, và chết bởi mối thù truyền kiếp !"

"Đúng thế", nữ tu trưởng kêu lên kích động. "Đúng như người Ma-rốc nói với hoàng đế Charlemagne, chính bộ cờ đã thực hiện Sar - việc báo thù ! Nhưng đó là gì ? Bí mật đen tối mà người Ma-rốc tìm kiếm và người Phoenicia biết được là gì ? Quyền lực một thời chứa đựng trong những quân cờ, sẽ thất lạc vĩnh viễn nếu không có chiếc chìa khóa bị chôn vùi là gì ?"

"Tôi không chắc", mẹ ta đáp, "nhưng từ những gì bà nói, tôi có thể lần ra manh mối. Bà nói có tám người Ma-rốc mang bộ cờ cho Charlemagne, và họ không muốn xa rời bộ cờ, thậm chí theo nó đến tận Montglane, nơi đây họ đã thực hiện những nghi thức bí mật. Tôi biết nghi thức này là gì. Tổ tiên của tôi, người Phoenicia, thực hiện nghi lễ kết nạp giống những người bà đã mô tả. Họ thờ cúng hòn đá linh thiêng, đôi khi là một tấm bia hay nguyên khối đá, tin rằng bên trong chứa tiếng nói của vị thần. Như hòn đá đen của ngôi đền thánh Kaaba ở Mecca, như mái vòm đá ở Jerusalem, tất cả những nơi linh thiêng của người Phoenicia đều có một cột đá chống đỡ.

"Trong truyền thuyết của chúng tôi, có câu chuyện về một phụ nữ tên Elissa đến từ Tyre. Anh bà ấy là một vị vua, và khi ông ta mưu sát chồng bà, bà đã đánh cắp viên đá linh thiêng và trốn sang Carthage trên bờ biển Bắc Phi. Anh bà săn lùng vì bà đã đánh cắp vị thần của ông ta. Theo câu chuyện của chúng tôi, bà ấy đã hy sinh thân mình trên giàn thiêu để xoa dịu cơn giận của các vị thần và cứu thoát dân lành. Nhưng khi tự sát, bà quả quyết mình sẽ sống lại như chim phượng hoàng hồi sinh từ đống tro tàn, vào cái ngày những viên đá bắt đầu cất lời ca. Và đó sẽ là ngày báo thù của trái đất".

Nữ tu trưởng ngồi lặng thinh một lúc lâu khi mẹ ta kể xong câu chuyện. Cả cha kế lẫn ta không ai muốn cắt ngang dòng suy nghĩ của họ. Cuối cùng, vị nữ tu nói lên những gì bà đang nghĩ.

"Điều thần bí về Orpheus", bà nói, "người cất lời ca mang sự sống đến cho các hòn đá. Giọng ca ngọt ngào của anh ta đến cả cát sa mạc còn nhỏ nước mắt đỏ như máu. Mặc dù chúng chỉ là những chuyện thần thoại nhưng chính tôi cảm thấy ngày báo thù đang đến gần. Nếu Bộ cờ Montglane trỗi dậy, cầu cho thiên đường bảo vệ tất cả chúng ta, vì tôi tin nó chứa đựng chìa khóa mở đôi môi câm nín của Tạo hóa, để phát ra giọng nói của các vị thần".

Letizia nhìn quanh chiếc bàn ăn nhỏ nhắn. Than trong lò đã cháy thành tro. Hai đứa con bà ngồi lặng thinh nhìn bà nhưng Mireille hăng hái hơn.

"Và nữ tu trưởng có nói bà ấy nghĩ bộ cờ có thể xua tan điều đó thế nào không ?" cô hỏi.

Letizia lắc đầu. "Không, nhưng tiên đoán khác của bà ấy đã thành sự thật, tiên đoán về Rousseau. Đến mùa thu sau chuyến thăm của bà ấy, đặc vụ của ông ta đến, một người Scotland trẻ tuổi tên là James Boswell. Viện cớ viết về lịch sử Corsica, anh ta kết thân với Paoli và ăn tối với ông ấy mỗi ngày. Nữ tu trưởng nhờ chúng tôi thông báo cho bà ấy nhất cử nhất động của anh chàng đó và cảnh báo những người dòng dõi Phoenicia không được chia sẻ những câu chuyện cổ cho anh ta. Nhưng điều này chắc chắn không cần thiết vì bản chất chúng tôi là dân tộc trung thành với thị tộc và hay giữ kẻ, không dễ dàng nói chuyện với người lạ trừ khi chúng tôi nợ họ một khoản lớn như đối với vị nữ tu. Cũng như bà ấy tiên đoán, Boswell liên lạc với Franz Fesch nhưng bị tống khứ bằng thái độ tiếp đón lạnh nhạt và hắn giễu cợt gọi cha kế ta là người Thụy Sĩ điển hình. Khi quyển 'Lịch sử Corsica và cuộc đời Pasquale Paoli' về sau được xuất bản, khó mà cho rằng anh ta biết được nhiều điều để về báo lại Rousseau. Và giờ đây, dĩ nhiên, Rousseau đã chết..

"Nhưng Bộ cờ Montglane đã trỗi dậy", Mireille nói, đứng lên và nhìn thẳng vào mắt Letizia. "Tuy câu chuyện của người nhằm giải thích thông điệp của nữ viện trưởng và bản chất tình bạn giữa người với bà ấy nhưng nó còn giải thích đôi điều khác nữa. Thưa phu nhân, người có mong con sẽ chấp nhận câu chuyện về những hòn đá biết hát và người Phoenicia đầy thù hận không ?

Có lẽ con có bộ tóc đỏ như Elissa của Q'ar - nhưng bên dưới mái tóc là bộ óc ! Nữ tu trưởng của Montglane không phải kiểu người thần bí hơn con và cũng sẽ không chấp nhận câu chuyện này. Vả lại, có những điều trong thông điệp người chưa giải thích, nữ viện trưởng nói với con gái người rằng khi người nhận được tin này sẽ biết làm gì ! Ý nữ viện trưởng là sao, thưa phu nhân Buonaparte ? Và nó liên hệ với công thức thế nào ?"

Nghe những lời này, Letizia mặt tái mét và đặt tay lên ngực. Elisa và Napoleon ngồi bất động trên ghế nhưng Napoleon thì thầm trong lặng lẽ, "Công thức gì ?"

"Công thức Voltaire biết, Hồng y giáo chủ Richelieu biết, Rousseau rõ ràng biết, và mẹ anh gần như chắc chắn đã biết !" Mireille hét lên, giọng cô cất cao từng lời. Đôi mắt xanh của cô rực sáng lên như ngọc lục bảo sẫm màu dán chặt vào Letizia trong lúc bà vẫn còn ngồi đó, choáng váng.

Với hai sải chân dài mau lẹ, Mireille băng qua căn phòng và túm chặt cánh tay Letizia, kéo bà đứng lên. Napoleon và Elisa cũng bật dậy nhưng Mireille giơ một tay lên cản họ lại.

"Hãy trả lời con đi, thưa phu nhân, những quân cờ này đã giết chết hai người phụ nữ ngay trước mắt con. Con đã trông thấy bản chất xấu xa ghê tởm của kẻ tìm kiếm chúng - kẻ ngay lúc này đang săn lùng con và sẽ giết con vì điều con biết. Chiếc hộp đã mở và tử thần đã thoát ra. Con đã chính mắt trông thấy, ngay khi nhìn Bộ cờ Montglane, và những dấu hiệu khắc vào nó ! Con biết có một công thức. Giờ hãy nói con nghe nữ tu trưởng muốn người làm gì ?" Cô gần như lay Letizia, khuôn mặt xúc động dữ dội khi trước mắt lại hiện lên hình ảnh Valentine, Valentine, người đã bị giết vì những quân cờ.

Môi Letizia run run, bà đang khóc, người phụ nữ kiên cường này không bao giờ rơi lệ. Trong khi Mireille nắm chặt bà, Napoleon vòng tay qua người mẹ và Elisa nhẹ nhàng chạm vào cánh tay Mireille.

"Mẹ ơi", Napoleon lên tiếng, "mẹ nói cho cô ấy nghe đi, nói ra những gì cô ấy muốn biết. Chúa ơi, mẹ đã khinh thường cả trăm tên lính Pháp có súng ! Nỗi kinh hoàng nào quá khiếp đảm đến nỗi mẹ thậm chí không thể nói ra ?"

Letizia cố nói, lệ tuôn xuống đôi môi khô ran khi bà cố kềm tiếng nấc.

"Ta đã thề, tất cả chúng ta đã thề, sẽ không bao giờ nói về chuyện đó", bà nói. "Helene, nữ tu trưởng đã biết có một công thức trước khi bà ấy thấy bộ cờ. Và nếu bà ấy phải là người đầu tiên mang nó ra ánh sáng sau cả ngàn năm thì bà ấy nói với ta là bà ấy sẽ viết nó ra, viết ra những ký hiệu trên quân cờ và bàn cờ, và gửi nó cho ta bằng cách nào đó !"

"Cho người ư ?" Mireille nói. "Sao lại cho người ? Lúc ấy người chỉ là một đứa trẻ".

"Đúng, một đứa trẻ", Letizia nói, mỉm cười qua làn nước mắt. "Một đứa trẻ mười bốn tuổi, sắp sửa kết hôn. Một đứa trẻ mang nặng đẻ đau mười ba đứa con và nhìn thấy năm đứa qua đời. Ta vẫn còn là một đứa trẻ, vì ta không hiểu mối hiểm họa của lời ta hứa với nữ tu trưởng".

"Nói con nghe đi", Mireille nói nhỏ nhẹ. "Nói con nghe người đã hứa với viện trưởng làm gì".

"Ta đã dành cả đời nghiên cứu lịch sử cổ đại. Ta đã hứa với Helene rằng, khi bà ấy có những quân cờ trong tay, ta đi tới những người dân của mẹ ta ở Bắc Phi, tới giáo sĩ Hồi giáo cổ đại của sa mạc. Và ta sẽ giải mã công thức".

"Người biết dân chúng ở đó ai có thể giúp người sao ?" Mireille nói với sự kích động. "Nhưng thưa phu nhân, đó là nơi con sẽ đến. Ồ, để con gánh vác nhiệm vụ này. Đó là mong ước duy nhất của con ! Con biết con bị bệnh, nhưng con còn trẻ, và con sẽ hồi phục nhanh chóng”.

"Không, cho đến khi chúng ta liên lạc với nữ tu trưởng", Letizia nói, lấy lại chút sự tự tin trước đó. "Vả lại, con cần nhiều thời gian để học những điều ta đã tìm hiểu suốt bốn mươi năm qua ! Mặc dù con nghĩ con khỏe mạnh nhưng con không đủ sức đi đây đó, ta nghĩ ta đã thấy căn bệnh kiểu này đủ nhiều để đoán rằng sáu bảy tháng nữa nó mới hết. Vừa đủ thời gian để con tìm hiểu.. ."

"Sáu bảy tháng nữa !" Mireille kêu lên. "Không thể nào ! Con không thể ở lại Corsica lâu đến thế !'

"Ta e phải như vậy, con thân yêu", Letizia nói và mỉm cười. "Con thấy đấy, con không bệnh gì cả. Con đang có thai".

LUÂN ĐÔN. Tháng mười một năm 1792

Sáu trăm năm mươi dặm phía bắc Corsica, cha của đứa bé trong bụng Mireille, Charles Maurice de Talleyrand-Périgord, ngồi câu cả trên bờ sông Thames lạnh giá.

Bên dưới anh, nhiều tấm khăn choàng len có lớp vải dầu bao phủ trải dài trên bãi cỏ trơ gốc. Chiếc quần ngắn ống rộng được cuộn lên trên đầu gối, buộc với mảnh lụa sọc ngang, giày tất đặt ngay ngắn cạnh bên. Anh đang mặc một chiếc áo chẽn da dày và giày ống viền lông thú cùng mũ rộng vành thiết kế để tuyết khỏi rơi xuống cổ áo.

Phía sau anh, bên dưới những nhánh cây đầy tuyết của gốc sồi lớn, Courtiade đứng đó, một tay cầm chiếc giỏ rơm đựng cá và một tay nâng áo đuôi tôm nhung của ông chủ được gấp gọn gàng. Dưới đáy giỏ rơm có lót những tờ giấy ố vàng để thấm máu cá. Chúng là các trang của một tờ báo tiếng Pháp cách đây hai tháng, được đính tạm trên tường thông báo cho đến sáng nay.

Courtiade biết nội dung bài báo và Talleyrand đã thình lình giật nó khỏi tường, nhét vào giỏ cá và thông báo tới lúc đi câu. Những tin tức đến đầu tiên từ Pháp thường khiến ông chủ của anh trở nên yên lặng. Họ viết:

TRUY NÃ VÌ TỘI PHẢN QUỐC

Talleyrand, nguyên Giám mục xứ Autun, đã di cư... lấy thông tin từ họ hàng bạn bè có thể chứa chấp hắn ta. Mô tả... khuôn mặt dài, mắt xanh, mũi trung bình hơi hất lên. Talleyrand-Périgord đi khập khiễng, bên chân trái hay phải...

Đôi mắt Courtiade dõi theo đường nét mờ mịt của chiếc xà lan lên xuống theo dòng nước xám lạnh lẽo của sông Thames. Dòng nước trôi nhanh khiến những tảng băng vỡ ra từ bờ sống nhấp nhô trên làn sóng như vật trang trí. Dây câu của Talleyrand nổi lềnh bềnh trên những khe nứt hình mũi tên của lớp băng đen. Ngay cả trong khí trời lạnh lẽo, Courtiade cũng có thể ngửi thấy mùi cá mặn mà. Như nhiều thứ khác, mùa đông đã đến quá sớm.

Giờ là ngày hai mươi ba tháng chín, vừa đúng hai tháng Talleyrand đến Luân Đôn, tá túc trong căn nhà nhỏ trên đường Woodstock mà Courtiade đã chuẩn bị để đón anh sang. Không sớm chút nào, vì ngày hôm trước ủy ban đã mở "tủ sắt" của nhà vua tại Tuilleries, và tìm thấy những bức thư của Mirabeau và Laporte tiết lộ nhiều vụ hối lộ trao quyền hành từ Nga, Tây Ban Nha và Thổ Nhĩ Kỳ, thậm chí từ Louis XVI, cho các thành viên tận tụy của Quốc hội.

Mirabeau may mắn, ông ta đã chết, Talleyrand vừa nghĩ thầm vừa quay dây câu và ra hiệu cho Courtiade mang thêm mồi câu đến. Lễ tang của vị chính khách vĩ đại đó có đến khoảng ba trăm ngàn người tham dự. Giờ đây khi ông ta không còn trong Quốc hội, bọn chúng đã lột bỏ lớp mặt nạ giả tạo và quẳng tro ông ra khỏi đền thờ. Đối với đức vua, vấn đề sẽ tồi tệ hơn. Tính mệnh ngài đã như ngàn cân treo sợi tóc, bị tống giam cùng gia đình trong tháp của Hiệp sĩ dòng Đền, những nhân vật quyền cao chức trọng trong hội Tam điểm đó hò hét đòi mang đức vua ra xét xử.

Talleyrand cũng bị mang ra xét xử vắng mặt và buộc tội. Mặc dù không có bằng chứng đanh thép chống lại anh nhưng những bức thư bị tịch thu từ Laporte cho thấy vị giám mục nguyên chủ tịch Quốc hội cũng sẽ sẵn lòng phục vụ vì quyền lợi của đức vua, với một cái giá.

Talleyrand buộc miếng mỡ Courtiade đưa cho anh vào móc câu và thở dài quăng cần vào lớp nước sậm màu của dòng sông Thames. Tất cả mọi sự lo liệu để rời khỏi Pháp cùng giấy thông hành ngoại giao của anh đã không ích gì. Một người hiện bị truy nã trên chính quê hương mình thì cánh cửa của giới quý tộc Anh quốc cùng đã đóng sầm trước mặt anh ta. Ngay cả người di cư ở Anh quốc cũng rất khinh ghét phải chứa chấp kẻ phản quốc như anh nên họ ủng hộ cuộc cách mạng. Điều tồi tệ nhất bây giờ là anh hoàn toàn trắng tay. Ngay cả những nhân tình từng chu cấp tiền bạc cho anh trước đây hiện cũng sống thiếu thốn ở Luân Đôn, họ phải làm nón rơm đem bán hoặc viết tiểu thuyết.

Cuộc đời thật ảm đạm. Anh nhìn thấy ba mươi tám năm tồn tại của mình bị con sóng cuốn sạch cũng như miếng mồi anh vừa quăng vào làn nước sẫm, không còn dấu vết. Thế nhưng anh vẫn còn một trụ cột. Dù hiếm khi nhắc đến nhưng anh không thể quên tổ tiên mình là Charles the Bald, cháu trai của hoàng đế Charlemagne. Adalbert của Périgord đã đưa Hugh Capet lên ngai vàng cai trị nước Pháp; Taillefer là anh hùng của trận đánh Hastings; Hélie de Talleyrand đã đưa Giáo hoàng John XXII vào chức vị. Anh xuất thân từ dòng dõi lâu đời của những người tạo dựng nên các bậc đế vương với phương châm "Reque Dieu": không phục vụ ai khác ngoài Chúa. Khi cuộc đời trở nên ảm đạm, Talleyrand của Périgord muốn được quẳng vào nghịch cảnh hơn là ném xuống ấm êm.

Anh quay dây câu lấy mồi ra và ném vào giỏ của Courtiade. Anh chàng người hầu đỡ anh đứng lên.

"Courtiade", Talleyrand nói, đưa anh ta cần câu, "ngươi biết vài tháng nữa sẽ là sinh nhật thứ ba mươi chín của ta". 

"Tất nhiên là biết ạ", người đầy tớ đáp. "Giám mục có muốn con chuẩn bị một bữa tiệc không ?"

Lúc ấy, Talleyrand quay đầu lại và bật cười. "Cuối tháng này ta buộc phải giao trả căn nhà trên đường Woodstock và ở trong một nơi chật hơn tại Kensington. Cuối năm nếu không còn tiền, ta sẽ phải bán thư viện của mình..."

"Có lẽ Giám mục đã bỏ sót điều gì đó", Courtiade lễ độ nói, giúp Talleyrand thu dọn đồ đạc và mặc áo đuôi tôm vào. Điều gì đó có thể do định mệnh mang đến để chống chọi lại tình hình khó khăn - con muốn nói đến những thứ hiện nằm phía sau các quyển sách trong chồng sách của Cha tại đường Woodstock".

"Không như trước nữa, Courtiade à", Talleyrand đáp, "ta không nghĩ đến những điều như vậy. Tuy nhiên ta không tin chúng dành để bán”.

"Nếu con đánh liều hỏi", Courtiade nói tiếp, gấp quần áo Talleyrand lại và cầm đôi giày mềm sáng bóng đặt ở bờ sông lên, "Cha có tin tức gì mới của cô Mireille không ?"

"Không", anh thú nhận, "nhưng ta nghĩ cô ấy vẫn còn trên đời. Cô ấy là một phụ nữ dũng cảm và đang theo đuổi con đường chính nghĩa. Ý ta là, kho báu trong tay ta giờ đây có lẽ còn giá trị hơn nhiều sức nặng thuần túy của vàng, một giá trị khác khiến nó bị nhiều người truy tìm từ lâu nay ? Thời đại ảo tưởng tại Pháp giờ đã kết thúc. Nhà vua bị đem ra xem xét đánh giá và, như tất cả các vị vua, ông tỏ ra bất tài yếu kém. Việc xét xử nhà vua sẽ chỉ đơn thuần là thủ tục, nhưng tình trạng vô chính phủ không thể thay thế thậm chí với luật lệ dễ dãi nhất. Điều mà nước Pháp cần là một nhà lãnh đạo chứ không phải một nhà cầm quyền. Và khi người lãnh tụ ấy xuất hiện, ta sẽ là người đầu tiên nhận ra vị ấy".

"Ý Cha là người sẽ đáp ứng nguyện vọng của Chúa, và khôi phục hòa bình cho đất nước chúng ta", Courtiade nói, quỳ xuống xếp vài mẩu băng vào giỏ cá.

"Không, Courtiade à", Talleyrand thở dài. "Nếu Chúa muốn hòa bình trên trái đất thì chắc chắn giờ chúng ta đã có được nó. Ta trích dẫn lời một vị cứu tinh từng nói: "Ta đến không phải mang hòa bình mà là một thanh gươm". Vị lãnh tụ ta mô tả sẽ hiểu giá trị Bộ cờ Montglane, được tóm tắt trong một từ: quyền lực. Đó chính là thứ ta trao cho người sẽ lãnh đạo nước Pháp vào một ngày không xa".

Khi Talleyrand và Courtiade đi dọc bờ sông Thames đóng băng, người đầy tớ lưỡng lự, muốn hỏi một câu đã nảy ra trong đầu kể từ khi họ thấy bài báo bằng tiếng Pháp giờ đã bị vò nát nằm dưới lớp băng tan và cá tươi:

"Cha dự định tìm ra người đó thế nào, khi tội phản quốc ngăn không cho chúng ta trở về Pháp ?"

Talleyrand mỉm cười, vỗ lên vai người đầy tớ với sự thân thiện khác thường. "Courtiade thân mến", anh nói, "phản quốc chỉ đơn thuần là vấn đề kỳ hạn".

PARIS. Tháng mười hai năm 1792

Ngày mười một tháng mười hai, phiên xét xử vua Louis XVI, vua nước Pháp với tội danh phản quốc.

Khi Jacques-Louis David bước vào cửa trước, trụ sở hội Jacobin đã chật cứng. Những người tụ họp cuối cùng từ những phiên tòa trong buổi đầu tiên đang theo đuôi phía sau ông, và vài người vỗ lên vai ông. Ông nghe được vài đoạn đối thoại của họ, những người phụ nữ ngồi trên ghế trong phiên tòa đang uống rượu, những gánh hàng rong bán kem khắp tòa, những nhân tình của Công tước d'Orléans thì thầm và cười khúc khích sau mấy cây quạt thêu. Còn nhà vua, khi trông thấy những lá thư lấy từ tủ sắt, giả vờ chưa từng nhìn thấy chúng, từ chối chính chữ ký của mình, biện hộ trí nhớ kém cỏi khi đối mặt với nhiều lời buộc tội phản quốc. Tất cả những người ở hội Jacobin đều đồng ý nhà vua là một anh hề đã được huấn luyện. Và hầu hết đã quyết định lá phiếu trước cả khi bước vào cánh cửa lớn bằng gỗ sồi của trụ sở hội Jacobin.

Có người chạm vào tay áo David khi ông đang băng qua sàn nhà lót gạch của nơi nguyên là chỗ tu viện thường tổ chức các cuộc hội họp của giáo phái Jacobin. Ông quay sang nhìn vào đôi mắt xanh lấp lánh lạnh lùng của Maximilien Robespierre.

Ăn mặc không chê vào đâu được như mọi khi, trong bộ trang phục xám bạc với cổ áo cao và mái tóc chải chuốt kỹ lưỡng, Robespierre trông xanh xao và có lẽ giản dị hơn lần cuối David gặp ông ta. Ông gật đầu chào David và để tay vào trong áo, rút ra hộp kẹo ngậm nhỏ, ông lấy một viên rồi mời David.

"David thân mến", ông nói, "chúng tôi đã không gặp ngài nhiều tháng nay. Tôi nghe nói ngài đang vẽ tranh Jeu de Paume. Tôi biết ngài là một họa sĩ tận tụy, nhưng ngài thực sự không thể vắng mặt lâu đến thế, cuộc cách mạng cần ngài".

Đây là cách khôn khéo của Robespierre để chỉ ra rằng một nhà cách mạng không hoạt động thì không còn an toàn nữa, điều đó có thể bị gán cho là thiếu nhiệt tình.

"Dĩ nhiên tôi có nghe về số phận những đứa trẻ ngài bảo trợ tại nhà ngục l'Abbaye", ông ta nói thêm. "Dù đã muộn nhưng cũng xin cho phép tôi thể hiện sự thương cảm sâu sắc nhất của mình. Ngài biết đấy, tôi cho rằng, Marat đã bị Girondin trừng phạt trước toàn thể Quốc hội, đúng không ? Khi họ thét to hình phạt của hắn, hắn ta đứng trên núi, rút ra một khẩu súng lục, huơ huơ lên thái dương như thể định tự sát ! Một màn phô trương ghê tởm, nhưng nó mang lại cho hắn sự sống. Nhà vua có thể noi theo gương hắn".

"Ngài có nghĩ tòa sẽ cho biểu quyết về cái chết của đức vua không ?" David nói, chuyển đề tài để khỏi đau đớn nghĩ về cái chết của Valentine, nỗi đau mà ông chỉ vừa có thể gạt ra khỏi đầu trong những tháng nay.

"Một vị vua còn sống là một vị vua nguy hiểm", Robespierre nói. "Dù tôi không phải người đề xướng chuyện giết vua nhưng từ mớ thư từ, không nghi ngờ gì nữa chuyện nhà vua có liên quan đến tội phản quốc, cũng như ông bạn Talleyrand của ngài ! Giờ ngài thấy các tiên đoán của tôi về hắn ta đã đúng".

"Danton gửi cho tôi mảnh giấy yêu cầu có mặt đêm nay", David nói. "Dường như có vài câu hỏi về việc định đoạt số phận nhà vua cần người dân bỏ phiếu".

"Đúng vậy, đó là lý do chúng ta họp mặt", Robespierre nói. "Phái Girondin, những con người hy sinh, đang ủng hộ điều đó. Nhưng nếu chúng ta cho phép tất cả các cử tri tỉnh lẻ bỏ phiếu thì tôi e rằng số phiếu đòi trở lại chế độ quân chủ sẽ thắng lớn. Và nói về Girondin, tôi muốn ngài làm quen với một người Anh trẻ tuổi đến đây với chúng ta, một người bạn của nhà thơ André Chénier. Tôi mời anh ta tới đêm nay để khi chứng kiến mặt trái trong hành động, ảo tưởng lãng mạn về cuộc cách mạng của anh ta có thể vỡ tan !"

David nhìn thấy một thanh niên gầy gò, cao lêu ngêu tiến đến. Anh ta có nước da vàng vọt, mái tóc mỏng thẳng rũ xuống hất ngược ra sau trán, và thói quen cúi khom về phía trước như thể phi nước kiệu trên lưng ngựa. Anh ta mặc áo choàng lính màu nâu lùng thùng như lấy ra từ túi đựng vải vụn. Thay vì choàng khăn lụa mỏng, anh ta quấn quanh cổ chiếc khăn tay đen thắt rút khá sờn cũ. Nhưng đôi mắt anh ta lanh lợi và sáng rực, chiếc cằm yếu ớt không cân xứng với chiếc mũi nhô cao mạnh mẽ, đôi tay trẻ trung đã có vết chai sạn của những người lớn lên ở vùng quê và phải bươn chải kiếm sống.

"Đây là thi sĩ William Wordsworth trẻ tuổi", Robespierre nói khi người thanh niên đến và nắm lấy bàn tay đưa ra của David. "Cậu ta tới Paris hơn tháng nay, nhưng đây là lần đầu đến trụ sở hội Jacobin. Tôi xin giới thiệu công dân Jacques-Louis David, nguyên chủ tịch Quốc hội".

"Ngài David !" Wordsworth kêu lên, bắt tay David nồng nhiệt. "Tôi có vinh dự lớn lao nhìn thấy tranh của ngài trưng bày tại Luân Đôn khi từ Cambridge đến đó, bức Cái chết của Socrates. Ngài là cảm hứng cho người như tôi, những người có mong ước to lớn ghi chép lại tiến trình lịch sử".

"Cậu là nhà văn ư ?" David hỏi "Vậy Robespierre sẽ đồng ý rằng cậu đã đến đúng lúc để chứng kiến sự kiện vĩ đại - sự sụp đổ của chế độ quân chủ Pháp".

"Năm ngoái nhà thơ người Anh William Blake thần bí của chúng tôi đã cho ra mắt bài "Cuộc cách mạng Pháp", trong đó tuyên bố, như trong kinh thánh, lời tiên tri nhìn xa trông rộng về sự sụp đổ của các vị vua. Chắc ngài đã đọc nó ?"

"Tôi e là mình dành hết thời gian đọc Herodotus, Plutarch, và Livy", David mỉm cười đáp. "Trong những tác phẩm đó, tôi tìm thấy chủ đề thích hợp cho các bức tranh của mình, để không thành người huyền bí hay nhà thơ".

'Thật kỳ lạ", Wordsworth nói. "Vì ở Anh chúng tôi tin rằng những người đứng sau cuộc cách mạng Pháp này là hội viên hội Tam Điểm, mà các hội viên đó chắc chắn được coi là người thần bí".

"Đúng là hầu hết chúng tôi thuộc về cái hội đó", Robespierre đồng tình. "Thật ra bản thân trụ sở hội Jacobin ban đầu được Talleyrand thành lập làm nơi hội họp của hội viên hội Tam Điểm. Nhưng ở nước Pháp hội viên hội Tam Điểm chúng tôi chắc chắn không phải người bí ẩn..."

"Một vài người là vậy" David ngắt lời. "Marat chẳng hạn".

"Marat ư ?" Robespierre nhướn mày. "Chắc chắn ngài nói đùa, điều gì khiến ngài nghĩ vậy ?"

"Thật ra, tôi đến đây đêm nay không chỉ theo mệnh lệnh của Danton", David miễn cưỡng thú nhận. "Tôi đến để gặp ngài, vì tôi nghĩ chắc ngài có thể giúp tôi. Ngài cho rằng những chuyện xảy đến với con gái nuôi của tôi ở nhà ngục l'Abbaye chỉ là tình cờ sao ? Ngài có biết cái chết của con bé không phải ngẫu nhiên. Marat cố tình tra khảo con bé và hành hình vì hắn tin con bé biết gì đó về.. Ngài có bao giờ nghe nói đến Bộ cờ Montglane chưa ?"

Nghe những lời đó, Robespierre trở nên tái mét. Chàng thanh niên Wordsworth liếc nhìn hết người này sang người khác với vẻ mặt bối rối.

"Ngài có biết mình đang nói về cái gì không ?" Robespierre thì thào, kéo David sang bên bất chấp Wordsworth theo sau họ và chăm chú để ý. "Con gái nuôi của ngài biết gì về những thứ đó ?"

"Cả hai đứa nó trước kia đều là nữ tu học việc tại tu viện Montglane...", David bắt đầu nhưng lại bị ngắt lời.

"Tại sao trước đây chưa bao giờ ngài đề cập điều đó ?" Robespierre hỏi, giọng run sợ. "Nhưng tất nhiên, điều này giải thích được sự tận tụy mà Giám mục xứ Autun đã hào phóng dành cho hai cô gái đó kể từ lúc họ đặt chân đến đây ! Giá như ngài nói tôi biết sớm hơn, trước khi tôi để hắn ta chuồn khỏi kẽ tay !"

"Tôi chưa bao giờ tin câu chuyện này, Maximilien à", David nói. "Tôi nghĩ nó chỉ là một truyền thuyết, một điều mê tín dị đoan. Tuy nhiên Marat tin nó là thật. Và Mireille, để cố cứu mạng sống em mình, đã nói hắn nghe kho báu hoang đường kia thật sự có tồn tại ! Con bé nói nó và em mình có giữ một phần kho báu, và đã chôn giấu nó trong vườn nhà tôi. Nhưng ngày hôm sau khi hắn ta cùng đoàn đại biểu đến để đào bới thì.. .”

"Sao ? Sao ?" Robespierre nói một cách hung dữ, những ngón tay ông ta gần như đè sát xuống cánh tay David. Wordsworth đang nuốt lấy từng lời.

"Mireille đã biến mất", David thì thầm, "và gần hòn non bộ trong vườn có một khoảnh đất mới bị xới tung lên..”

"Con gái nuôi của ngài giờ ở đâu ?" Robespierre gần như la lên trong cơn bối rối. "Cô ấy phải được mang ra tra hỏi, ngay lập tức".

"Đó là điều tôi mong ngài có thể giúp", David nói. "Giờ tôi không còn hy vọng con bé sẽ trở lại. Với những người ngài quen biết, tôi nghĩ ngài có thể biết con bé ở đâu và điều gì đã xảy ra với nó".

"Chúng ta sẽ tìm ra cô ấy nếu phải lật tung cả cái nước Pháp này lên", Robespierr cam đoan. "Ngài phải cho tôi diện mạo đầy đủ, càng nhiều chi tiết càng tốt".

"Tôi còn có thể làm hơn thế nữa", David đáp. "Tôi có một bức chân dung của con bé trong xưởng vẽ".

CORSICA. Tháng giêng năm 1793

Những người trong bức tranh, như định mệnh an bài, không dự định nán lại lâu trên đất Pháp.

Đã hơn nửa đêm, một đêm gần cuối tháng giêng, Mireille bị Letizia Buonaparte đánh thức. Cô đang chìm vào giấc ngủ sâu trong căn phòng nhỏ của Elisa tại ngôi nhà trên những ngọn đồi phía trên Ajaccio. Mireille đã ở lại Corsica được ba tháng và Letizia đã dạy cô nhiều thứ, nhưng chưa phải tất cả những điều cô cần nán lại để học.

"Các con phải thay đồ nhanh lên", Letizia hạ thấp giọng nói với hai cô con gái vẫn còn dụi mắt ngái ngủ. Trong căn phòng tối tăm, cạnh Letizia là hai đứa con nhỏ, Maria-Carolina và Girolamo. Cả ba đã ăn mặc chỉnh tề chuẩn bị lên đường.

"Gì vậy mẹ ?" Elisa kêu lên.

"Chúng ta phải bỏ trốn", Letizia nói bằng giọng bình tĩnh và kiên quyết. "Binh lính của Paoli đã ở đây, vua Pháp chết rồi".

"Không !" Mireille hét lên, bật dậy.

"Nhà vua bị hành hình mười ngày trước ở Paris", Letizia nói, lấy quần áo ra khỏi cái tủ đặt trong phòng để hai đứa có thể nhanh chóng thay. "Và Paoli nổi binh, tại Corsica này, để kết hợp với lực lượng Sardinia và Tây Ban Nha lật đổ chính quyền Pháp".

"Nhưng mẹ ơi", Elisa kêu ca, chưa sẵn sàng rời khỏi chiếc giường ấm áp, "chuyện đó thì liên quan gì đến chúng ta ?"

"Các anh con, Napoleon và Lucciano đã thẳng thắn chống đối Paoli hồi chiều nay tại Quốc hội Corsica", Letizia nói với nụ cười méo xệch. "Paoli đã đặt mối thù truyền kiếp dòng họ lên hai anh con".

"Đó là gì ?" Mireille hỏi, trèo xuống giường và kéo áo qua đầu trong khi Letizia đưa áo cho cô.

"Sự báo thù bàng hệ !" Elisa thì thầm. "Nó là tập tục ở Corsica, khi có người xúc phạm chị thì báo thù lên toàn thể gia đình kẻ đó ! Nhưng hai anh con giờ ở đâu ?"

"Lucciano đang ẩn nấp với anh của mẹ, Hồng y giáo chủ Fesch", Letizia đáp, đưa quần áo cho Elisa. "Napoleon đã trốn khỏi đảo. Giờ đi nào, chúng ta không đủ ngựa để đến Bocognano đêm nay, thậm chí khi hai người đi một ngựa. Chúng ta phải lấy cắp thêm vài con và đến nơi trước khi trời sáng". Bà ra khỏi phòng, đẩy những đứa con nhỏ đi trước. Khi chúng khóc thút thít sợ hãi trong bóng tối, Mireille nghe Letizia cất giọng mạnh mẽ, "Mẹ không khóc, đúng không nào ? Vậy cái gì khiến các con khóc ?"

"Có gì ở Bocognano ?" Mireille thì thầm với Elisa khi họ hấp tấp rời phòng.

"Bà Angela-Maria di Pietra-Santa của em sống ở đó", Elisa đáp. "Điều đó có nghĩa vấn đề thật sự rất nghiêm trọng".

Mireille sửng sốt. Cuối cùng, vậy là cuối cùng cô cũng gặp được người phụ nữ lớn tuổi mà cô đã nghe nhiều về bà, người bạn của nữ tu trưởng tu viện Montglane..

Elisa quàng tay qua eo Mireille khi họ vội vã đi vào bóng đêm mờ mịt.

"Bà Angela-Maria đã sống cả đời ở Corsica. Từ anh em ruột, anh em họ, và cháu chắt, bà có thể tập hợp một đội quân triệt hạ phân nửa hòn đảo này. Đó là lý do mẹ em về chỗ bà, điều đó có nghĩa mẹ chấp nhận sự báo thù bàng hệ !" 

❀ ❀ ❀

Ngôi làng Bocognano là một pháo đài có tường bao quanh, nằm tít trên cao những ngọn núi cheo leo hiểm trở, cách mặt biển gần tám ngàn foot. Họ ngồi trên lưng ngựa, từng người một, băng qua cây cầu cuối cùng khi trời gần sáng, dòng nước xoáy sục sôi trong làn sương bên dưới. Khi leo lên ngọn đồi cuối cùng, Mireille trông thấy vùng Địa Trung Hải giống hạt ngọc trai trải dài sang phía đông, những hòn đảo nhỏ Pianosa, Formica, Elba, và Monte Cristo như nổi lềnh bềnh giữa trời và xa xa bờ biển Tuscany lung linh vừa hiện lên khỏi làn sương.

Bà Angela-Maria di Pietra-Santa không vui khi trông thấy họ.

"Thế đấy !" người phụ nữ nhỏ bé trông như vị thần lùn lên tiếng, tay chống hông khi bước ra khỏi căn nhà đá nhỏ để gặp những người kiệt sức ngồi trên ngựa. "Lại gặp rắc rối, những đứa con trai của Carlo Buonaparte ! Ta đoán một ngày nào đó chúng sẽ dẫn chúng ta đến chuyện này".

Nếu Letizia ngạc nhiên khi thấy mẹ mình biết lý do họ đến thì bà đã không như thế. Khuôn mặt bà vẫn thản nhiên và lặng lẽ,

không biểu lộ cảm xúc nào, bà nhảy xuống ngựa rồi đến ôm lấy người mẹ rắc rối và giận dữ, hôn cả hai bên.

"Được rồi, được rồi", người bà cáu kỉnh, "đủ lễ nghi hình thức rồi đây. Đỡ mấy đứa cháu ta xuống ngựa đi, vì trông chúng như sắp chết đến nơi rồi kìa ! Con không cho chúng ăn à ? Tất cả chúng nhìn như gà bị vặt lông ấy !" Và bà ấy lăng xăng tới lui, đỡ mấy đứa nhỏ xuống đứng dưới đất. Khi đến chỗ Mireille, bà ngừng lại và nhìn cô xuống ngựa. Sau đó bà bước tới đưa tay bóp chặt cằm của cô, quay mặt cô qua lại để nhìn cho rõ.

"Vậy ra đây là người con nói với ta”, bà quay ra sau nói với Letizia. "Con bé mang thai phải không ? Đứa đến từ Montglane đấy à ?"

Mireille mang thai đã gần năm tháng và sức khỏe cô đã hồi phục đúng như Letizia nói.

"Cô ấy phải được đưa đi khỏi hòn đảo, thưa mẹ", Letizia đáp. "Chúng ta không thể bảo vệ cô ấy được nữa, dù con biết vị tu trưởng mong chúng ta làm thế".

"Con bé học được bao nhiêu rồi ?" người bà hỏi gặng.

"Tất cả những gì con có thể dạy trong thời gian ngắn như thế", Letizia nói, đôi mắt xanh nhạt của bà nhìn thoáng qua Mireille "Nhưng không đủ".

"Thôi, đừng đứng đây bép xép cho khắp thế giới nghe chứ !" người bà kêu lên. Bà quay sang Mireille và đặt bàn tay khô héo ôm quanh người cô. "Con đi với ta, cô gái trẻ. Có lẽ Helene de Roque sẽ nguyền rủa ta vì điều ta sắp làm, nhưng nếu vậy, bà ấy sẽ trả lời thư nhanh chóng hơn ! Ta không nghe hồi âm trong suốt ba tháng con ở đây.

"Đêm nay", bà ta nói tiếp bằng giọng thì thầm bí ẩn, dẫn Mireille vào nhà, "thừa lúc tối trời, ta sẽ thu xếp một con tàu đưa con đến chỗ một người bạn của ta, nơi đó con sẽ an toàn đến khi sự báo thù bàng hệ kết thúc".

"Nhưng thưa bà" Mireille nói, "Letizia chưa dạy con xong. Nếu con phải đi và trốn đến khi cuộc chiến này kết thúc thì nó sẽ trì hoãn nhiệm vụ của con còn lâu hơn nữa. Con không thể đợi thêm được".

"Ai bắt con đợi ?" Bà vỗ vỗ lên bụng Mireille và mỉm cười. "Vả lại, ta cần con đi tới nơi ta gửi con đến, và ta nghĩ con không phiền. Bạn ta, người bảo vệ con được báo tin con đang tới, dù ông ấy không trông đợi con đến quá sớm như vậy. Tên ông ấy là Shahin, đúng là một cái tên chớp nhoáng, theo tiếng Ả Rập có nghĩa là chim ưng. Ông ấy sẽ tiếp tục dạy con ở Algiers". 

NGƯỜI DỊCH: NGUYỄN LÂM XUÂN CÁC
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.