Hàng cây hạt dẻ đang trổ hoa ở Paris khi tôi rời khỏi nhà Charles Maurice Talleyrand vào mùa xuân năm 1799 để trở về Anh quốc. Tôi đau đớn ra đi, vì lại mang trong mình đứa con. Một sinh linh bé nhỏ đang hình thành bên trong tôi và cùng với đứa bé, hạt giống của ý đồ duy nhất đang nảy nở: kết thúc ván cờ một lần cho mãi mãi.
Thêm bốn năm tôi mới gặp lại Maurice. Trong bốn năm đó, nhiều sự kiện làm thế giới lay chuyển và biến động. Tại Pháp, Napoleon trở về lật đổ Hội đồng Đốc chính và trở thành Đệ nhất tổng tài đầu tiên, sau đó cai trị đất nước này. Ở Nga, Paul đại đế bị lực lượng quân lính nòng cốt của chính mình và nhân tình được sủng ái của mẹ anh ta, Plato Zubov, ám sát. Alexander thần bí và khó hiểu, người đứng cùng tôi trong khu rừng cạnh nữ tu trưởng hấp hối, giờ có cơ hội sở hữu quân cờ mang tên Nữ Hoàng Đen trong Bộ cờ Montglane. Thế giới tôi biết - Anh và Pháp, Áo, Phổ và Nga - sẽ lại giao chiến lần nữa. Và Talleyrand, cha của các con tôi, cuối cùng cũng nhận được sự miễn thứ của giáo hoàng theo lời thỉnh cầu của tôi, để kết hôn với Catherine Noel Worlee Grand — Nữ Hoàng Trắng.
Nhưng tôi có trong tay mảnh vải, họa tiết của bàn cờ, và những hiểu biết chắc chắn về mười bảy quân cờ gần như thuộc quyền hạn của tôi. Không chỉ có chín quân chôn ở Vermont giờ tôi đã biết địa điểm, mà còn thêm tám quân: bảy của cô ả Grand và một thuộc về Alexander. Với lượng thông tin đó, tôi đến Anh quốc, đến Cambridge, nơi những tài liệu của ngài Isaac Newton bị tịch thu theo lời William Blake kể với tôi. Bản thân Blake, người nhận thấy sức mê hoặc không tốt lành từ những thứ kiểu đó, đã tìm được cho tôi giấy phép tìm hiểu các công trình này.
Boswell mất vào tháng năm năm 1795, còn Philidor, kỳ thủ cờ vua vĩ đại, chỉ sống lâu hơn ba tháng. Tốp bảo vệ già nua đã chết, những kẻ miễn cưỡng đi theo Nữ Hoàng Trắng đã bị tử thần phá hủy. Trước khi ả ta có thời gian tập hợp người mới, tôi đã tiến hành nước đi của mình.
Ngay trước khi Shahin và Charlot cùng Napoleon từ Ai Cập trở về vào ngày mùng bốn tháng mười năm 1799, đúng sáu tháng sau sinh nhật tôi, tôi hạ sinh một bé gái tại Luân Đôn. Tôi đặt tên thánh cho con là Elisa, lấy theo tên Nữ Hoàng Đỏ Elissa, người phụ nữ vĩ đại sáng lập thành phố Carthage, và tên người cũng được lấy đặt cho em gái Napoleon. Thế nhưng tôi thường gọi con bé là Charlotte, không chỉ vì cha nó, Charles Maurice, và anh trai Charlot mà còn để tưởng nhớ xơ Charlotte đã thế mạng cho tôi.
Giờ đây, khi Shahin và Charlot về Luân Đôn với tôi, nhiệm vụ thật sự bắt đầu. Chúng tôi nghiên cứu đến tối mịt những bản viết tay cổ xưa của Newton, xem xét rất nhiều ghi chú và thí nghiệm của ông dưới ánh nến. Nhưng tất cả đường như vô vọng. Sau nhiều tháng, tôi sắp tin là ngay cả nhà khoa học vĩ đại này cũng chưa khám phá ra được bí mật, thì bỗng nhiên tôi nảy ra ý nghĩ có lẽ mình không biết bí mật thực sự là gì.
"Bộ Tám", một đêm nọ tôi nói lớn lúc mọi người đang ngồi trong những gian phòng ở Cambridge nhìn ra khu vườn nhà bếp nơi cũng chính Newton đã ngồi làm việc gần một thế kỷ trước. "Bộ Tám thực sự mang ý nghĩa gì ?"
"Ở Ai Cập", Shahin đáp, "người ta tin có tám vị thần đứng đầu hết thảy. Tại Trung Quốc người ta tin vào Bát Tiên. Người Ấn Độ nghĩ Krishna, người con trai thứ tám, cũng trở thành vị thần bất tử. Một văn kiện cứu rỗi linh hồn con người. Và các tín đồ đạo Phật tin vào Bát chính đạo dẫn đến cõi Niết bàn. Có rất nhiều số tám trong các thần thoại trên thế giới..."
"Nhưng tất cả đều cùng một ý nghĩa", Charlot xen vào, đứa con trai nhỏ của tôi già trước tuổi. "Các nhà giả kim không chỉ tìm cách thay đổi kim loại này thành kim loại khác mà họ còn muốn có thứ giống với mong ước khiến người Ai Cập xây nên kim tự tháp, khiến người Babylon hiến tế trẻ con cho các vị thần ngoại giáo. Những nhà giả kim luôn luôn bắt đầu bằng lời cầu nguyện thần Hermes, đó không chỉ là sứ giả mang linh hồn người chết đến địa phủ mà còn là vị thần chữa lành..."
"Shahin đã nhồi nhét cho con quá nhiều thuyết thần bí", tôi nói. "Điều chúng ta đang tìm kiếm ở đây là một công thức khoa học".
"Nhưng mẹ ơi, chính nó đó, mẹ không thấy sao ?" Charlot đáp lại. "Đó là lý do họ cầu khẩn thần Hermes (thần khoa học và hùng biện trong thần thoại Hy Lạp). Trong giai đoạn đầu của thí nghiệm, mười sáu bước, họ cho ra một chất bột đo đỏ dơ bẩn, chất cặn bã. Họ làm nó thành một khối gọi là hòn đá triết gia. Trong giai đoạn thứ hai, họ dùng nó làm chất xúc tác để biến đổi kim loại. Trong giai đoạn ba và giai đoạn cuối, họ trộn chất bột này với loại nước đặc biệt, nước tích tụ từ sương tại một thời điểm nhất định trong năm, khi mặt trời ở giữa chòm sao Kim Ngưu và Dương Cưu. Tất cả các bức tranh trong sách vở đều chỉ ra điều đó, vào ngay ngày sinh nhật của mẹ, nước từ mặt trăng đổ xuống rất dữ dội. Đó là thời điểm giai đoạn cuối cùng bắt đầu".
"Mẹ không hiểu", tôi bối rối. "Thứ nước đặc biệt này trộn với chai bột của hòn đá triết gia là gì ?"
"Người ta gọi nó là al-Iksir", Shahin khẽ nói. "Khi uống, nó mang đến sức khỏe, trường sinh và chữa lành mọi vết thương".
"Mẹ ơi", Charlot lên tiếng, nhìn tôi nghiêm nghị, "đây là bí mật của sự bất diệt. Trường sinh bất lão".
Chúng tôi mất bốn năm mới đến được điểm gắn kết trong ván cờ. Nhưng cho dù nắm được mục đích của công thức, chúng tôi vẫn không biết thực hiện nó bằng cách nào.
Tháng tám năm 1803, tôi cùng Shahin và hai con đến suối nước khoáng Bourbon-1'Archambault tại trung tâm nước Pháp. Thành phố này được đặt tên theo các vị vua dòng họ Bourbon. Năm nào cũng vậy, cứ vào tháng hè là Maurice Talleyrand cũng đều đến đây tắm suối nước nóng.
Suối nước nóng được các cây sồi già cỗi vây quanh, lối di dài giáp với các khóm mẫu đơn nặng trĩu hoa. Buổi sáng đầu tiên ở đó, tôi khoác chiếc áo choàng vải lanh dài mặc đi tắm suối, đứng đợi trên đường, giữa đàn bướm và luống hoa, và trông thấy Maurice đi dọc xuống con đường.
Bốn năm rồi tôi không gặp anh, anh đã thay đổi. Dù tôi chưa đến ba mươi nhưng anh đã xấp xỉ năm mươi. Khuôn mặt điển trai chằng chịt các nếp nhăn nhỏ, những lọn tóc quăn lấp loáng bạc dưới ánh mặt trời. Anh thấy tôi và đúng sững giữa đường, không rời mắt khỏi gương mặt tôi. Cặp mắt đó vẫn tinh anh, lấp lánh màu xanh biển như tôi nhớ từ buổi sáng đầu tiên gặp anh trong xưởng vẽ của David, cùng với Valentine.
Anh đến bên tôi như thể trông chờ tìm thấy tôi ở đây và đặt tay lên tóc tôi trong khi cúi nhìn tôi không rời mắt.
"Anh sẽ không bao giờ tha thứ cho em", lời đầu tiên anh thốt ra, "vì em cho anh biết tình yêu là gì, rồi em để anh lại một mình chống chọi với nó. Tại sao em không bao giờ hồi âm thư anh ? Tại sao em tan biến rồi khi tim anh vừa lành lặn, em lại xuất hiện làm tan nát nó lần nữa ? Đôi khi anh nhận thấy mình nghĩ về em, và ước gì anh chưa từng quen biết em".
Rồi sau đó, bất chấp những lời trách móc đã thốt ra, anh ôm ghì lấy tôi và kéo tôi vào trong vòng tay đam mê, môi anh lướt từ môi xuống cổ, xuống ngực tôi. Như trước đây, tôi cảm giác một sức mạnh vô hình của tình yêu nơi anh dâng tràn khắp người mình. Cố gắng chống cự ham muốn bản thân, tôi lùi ra xa.
"Em muốn anh thực hiện lời hứa", tôi nói bằng giọng yếu ớt.
"Anh đã làm mọi thứ như lời hứa, hơn cả lời hứa", anh cất giọng cay đắng. "Anh đã hy sinh mọi thứ vì em, cuộc đời, tự do, có lẽ cả linh hồn bất diệt của mình. Dưới mắt Chúa, anh vẫn là một linh mục. Vì em, anh cưới người mình không yêu, người không bao giờ sinh cho anh đứa con anh mong muốn. Trong khi đó, em với anh đã có hai đứa con mà anh chưa bao giờ được thoáng thấy chúng".
"Chúng hiện ở đây với em", tôi nói. Anh nhìn tôi bán tín bán nghi. "Nhưng trước hết, các quân cờ của Nữ Hoàng Trắng đâu ?"
"Các quân cờ", anh cộc cằn. "Đừng lo, anh có chúng. Dùng thủ đoạn lấy từ tay người phụ nữ yêu anh hơn em đã hay sẽ yêu anh. Giờ em lấy con anh ra làm con tin để buộc anh giao chúng. Chúa ơi, chuyện em muốn khiến anh hết sức kinh ngạc". Anh ngừng lời, không che đậy nỗi chua xót, nhưng trộn lẫn với cảm giác đó là niềm đam mê mãnh liệt. "Chuyện anh không thế sống thiếu em", anh thì thầm, "bỗng dưng có vẻ như là đỉnh điểm của sự bất khả thi".
Anh run rẩy trong cơn xúc động. Bàn tay đặt lên mặt tôi, tóc tôi, môi anh đè lên môi tôi trong lúc cả hai đứng giữa con đường công cộng, nơi dân chúng có thể qua lại bất cứ lúc nào. Như thường lệ, sức mạnh tình yêu của anh khó cưỡng lại được. Môi tôi đáp lại những nụ hôn cháy bỏng của anh, tay tôi lướt khắp trên những phần thân thể anh mà áo choàng đã tuột ra.
"Lần này", anh thì thầm, "chúng ta sẽ không có con, nhưng anh sẽ khiến em yêu anh nếu đó là việc cuối cùng anh làm".
***
Vẻ mặt Maurice sung sướng còn hơn cả nét mặt của vị thánh linh thiêng nhất khi lần đầu tiên trông thấy các con mình. Chúng tôi đến phòng tắm lúc nửa đêm, để Shahin canh cửa.
Charlot mười tuổi và trông thằng bé giống nhà tiên tri mà Shahin đã dự đoán, với mái tóc đỏ dày dài đến vai và đôi mắt xanh biển lanh lợi giống cha dường như nhìn thấu cả không gian và thời gian. Nhưng khi chúng tôi ngâm mình trong suối nước khoáng Bourbon- l'Archambault bốc hơi nóng hổi, chính cô bé Charlotte bốn tuổi giống Valentine lúc nhỏ đã hớp hồn Talleyrand.
"Anh muốn đưa con đi theo mình", cuối cùng Talleyrand lên tiếng, vuốt mái tóc vàng của Charlotte như không thể chịu nổi khi để con bé đi. "Cách sống em khăng khăng theo đuổi không dành cho trẻ con. Không cần ai biết quan hệ của chúng ta. Anh có một điền trang ở Valencay. Anh có thể cho con tước vị và đất đai, hãy giữ kín lai lịch của chúng. Chỉ cần em đồng ý điều này, anh sẽ đưa em các quân cờ".
Tôi biết anh nói đúng. Tôi có thể làm mẹ kiểu gì khi mà hướng đi cuộc đời mình đã được các đấng thần thánh chọn lựa vượt ngoài tầm kiểm soát của tôi ? Tôi có thể thấy trong mắt Maurice rằng anh yêu quý bọn trẻ còn hơn tình cảm tự nhiên của người rứt ruột sinh ra chúng. Thế nhưng còn một vấn đề khác.
"Charlot phải ở lại", tôi nói. "Thằng bé được sinh ra dưới mắt các vị thần, chính thằng bé là người sẽ giải tỏa điều bí ẩn. Việc đó đã được định sẵn". Charlot bơi qua làn nước nóng đến chỗ Talleyrand và đặt tay lên cánh tay cha.
"Cha sẽ là một người vĩ đại", cậu bé nói, "một thái tử nhiều quyền lực. Cha sẽ sống thọ nhưng không có thêm người con nào khác ngoài tụi con. Cha phải dẫn Charlotte, em con theo, gả em cho thành viên trong gia đình cha để các con của em sẽ lại có quan hệ gắn kết với dòng máu chúng ta. Nhưng con phải quay về sa mạc. Định mệnh của con ở đó..."
Talleyrand sửng sốt nhìn đứa con trai nhỏ nhưng Charlot chưa nói hết.
"Cha phải cắt đứt quan hệ với Napoleon, vì chú ấy sắp bị tước địa vị. Nếu làm thế, cha sẽ giữ vững được quyền lực của riêng mình qua nhiều cơn biến động trên thế giới. Và cha phải làm một chuyện nữa, vì ván cờ. Lấy quân Hậu đen từ tay Alexander của Nga. Nói chú ấy cha đến theo lời con. Với bảy quân đã có, cha sẽ được tám quân".
"Alexander ư ?" Talleyrand hỏi, nhìn tôi qua làn hơi dày đặc. "Cậu ta cũng là một quân cờ à ? Nhưng tại sao cậu ta nên đưa nó cho cha ?"
"Cha sẽ đáp lại bằng việc giao Napoleon cho chú ấy", Charlot đáp.
***
Talleyrand đã gặp Alexander tại Hội nghị Erfurt. Bất kể họ thực hiện hiệp ước nào thì mọi điều Charlot tiên đoán đều xảy ra như dự định. Napoleon xuống thế quay về và thân bại danh liệt. Cuối cùng anh biết ra chính Talleyrand đã phản bội đem giao nộp mình. "Thưa ngài", một buổi sáng anh nói với Talleyrand trong cảnh hỗn loạn trước mặt tất cả triều thần, "ngài không khác gì đống phân trong chiếc tất lụa". Nhưng Talleyrand đã có được quân cờ ở Nga, quân Hậu đen. Cùng với nó, anh cũng cho tôi một thứ giá trị: bản nước đi của quân Mã do Benjamin Franklin người Mỹ thực hiện mang nội dung mô tả sinh động công thức.
Tôi cùng Shahin và Charlot đến tỉnh Grenoble với tám quân cờ, mảnh vải và bức họa nữ tu trưởng đã vẽ về bàn cờ. Tại miền nam nước Pháp không xa mấy nơi ván cờ bắt đầu lần thứ nhất, chúng tôi tìm thấy nhà vật lý nổi tiếng Jean Baptiste Joseph Fourier, người Charlot và Shahin đã gặp ở Ai Cập. Dù có nhiều nhưng chúng tôi không sở hữu toàn bộ các quân cờ. Ba mươi năm chưa giải mã ra công thức, nhưng cuối cùng chúng tôi cũng đã làm được.
Đêm, trong bóng tối phòng thí nghiệm của Fourier, bốn người chúng tôi đứng quan sát hòn đá triết gia đang thành hình trong ống nghiệm. Trải qua ba mươi năm và nhiều nỗ lực bị thất bại, cuối cùng chúng tôi đi qua tất cả mười sáu giai đoạn đúng như ý nghĩa của chúng. Nó được gọi là sự kết hợp hài hòa giữa vị vua đỏ và nữ hoàng trắng, bí mật bị thất lạc cả ngàn năm. Quá trình nung khô, oxy hóa, đông đặc, cố định, hòa tan, sắc lại, chưng cất, bay hơi, thăng hoa, tách biệt, chiết xuất, tạo thành sáp, lên men, làm rữa ra, phát triển và giờ là thu hồi. Chúng tôi quan sát khí bay hơi bốc lên từ tinh thể trong ống thủy tinh tỏa sáng như những chòm sao trong vũ trụ. Luồng khí bay lên tạo thành các sắc màu: xanh sẫm, tím, hồng, đỏ tươi, đỏ, cam, vàng, vàng đồng... Người ta gọi đó là đuôi con công, quang phổ của độ dài các bước sóng nhìn thấy được. Và bên dưới, các bước sóng chỉ có thể nghe thấy chứ không nhìn được.
Khi nó đã tan đi và biến mất, chúng tôi nhìn thấy lớp cặn dày đo đỏ phủ ngoài đáy ống nghiệm. Chúng tôi cạo nó ra, phủ một ít sáp để thả vào thứ nước triết gia, nước đặc khó bay hơi.
Giờ chỉ còn lại duy nhất một vấn đề: ai sẽ uống nó ?
***
Năm 1830 chúng tôi hoàn tất công thức. Chúng tôi biết từ sách vở rằng nếu làm sai, thứ nước mang đến sự sống đó cũng có thể gây chết người. Còn một vấn đề khác: nếu thứ có được đúng thật là thuốc trường sinh bất lão thì chúng tôi phải lập tức giấu đi các quân cờ. Để thực hiện điều đó, tôi quyết định quay về sa mạc.
Tôi vượt biển lần nữa để chấm dứt nỗi lo sợ của mình. Tại Algiers, tôi cùng Shahin và Charlot đến khu Casbah, ở đó có người tôi nghĩ sẽ giúp ích được cho mình trong nhiệm vụ. Cuối cùng tôi tìm thấy cậu ta trong hậu cung, một bức tranh sơn dầu lớn đặt trước mặt, và nhiều phụ nữ che mặt dựa quanh cậu trên trường kỷ. Cậu quay sang tôi, cặp mắt xanh dương vụt sáng, mái tóc đen lòa xòa, giống hệt David cách đây rất nhiều năm, trước lúc chúng tôi, Valentine và tôi, đến làm mẫu cho ông trong xưởng vẽ. Nhưng chàng họa sĩ trẻ tuổi này còn mang nét tương đồng với một người khác ngoài David, cậu ta là hình ảnh lúc trẻ của Charles Maurice Talleyrand.
"Cha con cử ta đến gặp con", tôi nói với cậu thanh niên chỉ nhỏ hơn Charlot vài tuổi.
Chàng họa sĩ trẻ này nhìn tôi lạ lẫm. "Bà chắc hẳn là thầy pháp lên đồng". Cậu ta mỉm cười với tôi. "Cha tôi, ngài Delacroix, đã qua đời nhiều năm rồi". Cậu ta mân mê bút vẽ trong tay, nóng lòng muốn tiếp tục công việc.
"Ý ta là cha ruột của con", tôi nói trong lúc khuôn mặt chàng trai sa sầm xuống, quắc mắt nhìn. "Ta nói đến thái tử Talleyrand". "Những tin đồn đó hoàn toàn vô căn cứ", cậu ta cộc lốc.
"Ta lại nghĩ khác", tôi lên tiếng. "Tên ta là Mireille, và ta từ Pháp đến thực hiện một nhiệm vụ cần có con. Đây là con trai ta, Charlot, anh em cùng cha khác mẹ với con. Và Shahin, người hướng dẫn của chúng ta. Ta muốn con cùng ta đến sa mạc, nơi ta dự định trả về lòng đất một thứ mang giá trị và quyền lực vô cùng to lớn. Ta muốn ủy thác cho con nhiệm vụ vẽ bức họa đánh dấu địa điểm, và cảnh báo tất cả những ai đến gần rằng nơi đó được các vị thần bảo vệ".
Sau đó tôi kể cậu ta nghe câu chuyện.
Mất hàng tuần chúng tôi mới đến được Tassili. Cuối cùng, chúng tôi tìm thấy nơi cất giấu các quân cờ trong một hang động bí mật. Eugene Delacroix đảm nhận việc khắc họa lên tường trong khi Charlot hướng dẫn cậu ta nơi vẽ y hiệu, và bên ngoài vẽ thêm thân hình như mê cung của Nữ Hoàng Trắng lên khung cảnh săn bắn có sẵn.
Khi hoàn tất công trình, Shahin rút ra một lọ nhỏ đựng nước triết gia và cục bột đã bọc trong sáp ong để nó phân hủy chậm hơn, như quy định. Chúng tôi hòa tan cục bột và tôi nhìn cái lọ nhỏ cầm trong tay, trong khi Shahin và hai con trai của Talleyrand đứng quan sát.
Tôi nhớ lại những lời của Paracelsus, nhà giả kim vĩ đại, người đã tin là mình khám phá ra được công thức: "Chúng ta sẽ giống như các vị thần", ông nói. Tôi đưa cái lọ nhỏ lên môi, và uống cạn.
***
Khi đọc xong câu chuyện, tôi run rẩy từ đầu đến chân. Solarin ngồi cạnh bên siết tay tôi, các đốt ngón tay của anh trắng bệch. Thuốc trường sinh bất lão, đó là công thức ư ? Liệu một thứ như thế có tồn tại không ?
Tâm trí tôi quay cuồng. Solarin rót rượu cho hai đứa từ chiếc bình thon cổ trên cái bàn gần đó. Tôi nghĩ điều đó là thực, những người nghiên cứu di truyền học mới đây khám phá ra cấu trúc của DNA, phân tử cơ bản của tế bào di truyền tạo nên sự sống đó trông như y hiệu của Hermes, mang hình xoắn ốc kép tương tự số tám. Nhưng không có điều gì trong các tài liệu cổ xưa cho thấy trước đây người ta đã biết đến bí mật này. Và làm thế nào mà một thứ chuyển hóa được kim loại cũng có thể thay đổi cả sự sống ?
Đầu óc tôi chuyển đến các quân cờ, nơi chúng được chôn giấu. Và tôi càng thêm bối rối. Chẳng phải Minnie nói chính bà đã đặt chúng tại Tassili, bên dưới y hiệu, sâu trong bức tường đá sao ? Làm thế nào bà biết chính xác chúng ở đâu, nếu Mireille đã để chúng ở đó cách đây gần hai trăm năm ?
Rồi tôi nhớ ra bức thư Solarin đã đem từ Algiers đến đưa tôi tại nhà Nim, bức thư của bà Minnie. Với đôi tay lóng ngóng, tôi thọc váo túi lấy nó ra, xé toạc bì thư trong lúc Solarin ngồi lặng thinh cạnh bên uống rượu. Tối có thể cảm nhận được ánh mắt anh không hề rời khỏi tôi.
Tôi giật phắt lá thư ra khỏi phong bì và nhìn vào. Trước cả khi bắt đầu đọc, một cơn rùng mình lạnh buốt chạy dọc sống lưng tôi. Nét chữ trong lá thư và quyển nhật ký hệt như nhau ! Mặc dù chữ trong thư là tiếng Anh hiện đại còn chữ trong nhật ký là tiếng Pháp cổ xưa nhưng không cách nào có thể mô phỏng được dạng chữ uốn lượn hoa mỹ đã không còn sử dụng cả trăm năm rồi.
Tôi ngước nhìn Solarin. Anh đang trố mắt ngó chằm chằm lá thư trong nỗi kinh hoàng và hoài nghi. Mắt chúng tôi nhìn nhau rồi từ từ quay lại bức thư. Tôi mở nó ra đặt trong lòng và cả hai cùng đọc:
Catherine yêu quý,
Giờ con nắm được một bí mật rất ít người biết. Thậm chí Alexander và Ladislaus cũng không bao giờ đoán được ta không phải bà của chúng, vì mười hai thế hệ đã đi qua kể từ lúc ta hạ sinh Charlot - tổ tiên của chúng. Cha của Kamel, người cưới ta chỉ một năm trước khi mất, thật ra là hậu duệ của ông bạn cũ Shahin, người đã về với cát bụi cách đây hơn một trăm năm mươi năm.
Tất nhiên, con có thể cho rằng ta chỉ là một bà lão già nua mất trí. Con muốn tin sao cũng được nhưng giờ con là Nữ Hoàng Đen. Con nắm giữ các phần của một bí mật vừa uy quyền vừa nguy hiểm. Có đủ các phần con có thể làm sáng tỏ điều bí ẩn, như ta đã làm rất rất nhiều năm về trước. Nhưng con có làm vậy không ? Đó là lựa chọn giờ đây con phải quyết định, và tự mình quyết định.
Nếu con muốn lời khuyên của ta thì ta gợi ý con nên tiêu hủy những quân cờ kia đi, nấu chảy chúng ra để chúng không bao giờ lại có thể trở thành nguyên nhân của những bất hạnh và đau đớn con phải nếm trải cả đời. Như sử sách đã cho thấy, điều gì có thể ban phát ân huệ vĩ đại dành cho nhân loại cũng có thể biến thành lời nguyền kinh khiếp. Nghĩ suy và làm như con muốn. Ta luôn cầu chúc con được mọi sự tốt đẹp.
Cầu Chúa ban phước cho con,
Mireille
Tôi ngồi nhắm mắt lại trong khi Solarin siết tay tôi trong tay anh. Khi tôi mở mắt ra, Mordecai đang đứng đó, vòng cánh tay che chở quanh Lily. Nim và Harry, cả hai đã về mà tôi không nghe thấy đứng ngay phía sau Mordecai. Tất cả họ đến bên tôi, ngồi quanh bàn cùng tôi và Solarin. Ở giữa bàn là các quân cờ.
"Con nghĩ sao về điều đó ?" Mordecai ôn tồn hỏi.
Harry chồm tới vỗ nhẹ tay tôi trong lúc tôi ngồi đó, toàn thân run rẩy. Ông hỏi, "Nếu chuyện ấy là thật thì sao ?"
"Thì đó sẽ là điều nguy hiểm nhất con có thể hình dung ra được", tôi trả lời, vẫn còn run lẩy bẩy. Mặc dù không muốn thừa nhận nhưng bản thân tôi tin vào điều đó. "Con nghĩ bà ấy nói đúng. Chúng ta nên phá hủy các quân cờ".
"Nhưng bây giờ cậu là Nữ Hoàng Đen mà", Lily lên tiếng. "Cậu không cần nghe theo lời bà ta".
"Slaya và anh đều nghiên cứu vật lý", Solarin hùa theo. "Chúng ta có số quân cờ gấp ba lần số quân bà Mireille có lúc giải mã công thức. Dù không có thông tin chứa đựng trong bàn cờ nhưng chúng ta có thể tìm ra lời giải, anh chắc vậy. Anh có thể lấy bàn cờ..."
"Vả lại", Nim xen vào với nụ cười rạng rỡ, ôm lấy bên hông bị thương, "anh có thể dùng một ít thứ đó ngay bây giờ để chữa lành tất cả mọi vết thương trên người mình".
Tôi tự hỏi khi biết mình có quyền năng sống được hai trăm năm hoặc hơn thế nữa thì cảm giác sẽ thế nào. Để biết được bất kể chuyện gì sẽ xảy đến với mình, thiếu điều bay lên mây, các vết thương sẽ lành lặn, các căn bệnh đều được chữa khỏi.
Nhưng liệu tôi có muốn dành ba mươi năm cuộc đời mình để cố giải ra công thức không ? Dù có thể không lâu đến thế nhưng từ trải nghiệm của bà Minnie, tôi thấy được điều đó nhanh chóng trở thành nỗi ám ảnh, một thứ không chỉ hủy hoại cuộc đời bà mà còn phá hỏng cuộc đời của tất cả những người bà quen biết hoặc giao thiệp. Liệu tôi có muốn đánh đổi cuộc sống vui vẻ để được trường sinh không ? Theo lời chứng thực của Minnie, bà đã sống hai trăm năm trong kinh hoàng và hiểm nguy, thậm chí sau khi đã tìm ra công thức. Chả trách bà lại muốn rời bỏ ván cờ.
Giờ là lúc tôi quyết định. Tôi nhìn các quân cờ trên bàn. Điều này dễ làm thôi. Minnie đã không chọn Mordecai chỉ vì ông là một kỳ thủ cờ vua và cũng là nhà buôn kim cương. Chắc chắn ông có tất cả mọi dụng cụ cần thiết ngay đây để phân tích các quân cờ, tìm ra chúng được làm bằng gì và biến chúng thành những món nữ trang quý giá. Nhưng khi nhìn chúng, tôi biết mình không bao giờ có thể làm vậy. Chúng rực lên sự sống bên trong. Giữa chúng tôi, Bộ cờ Montglane và tôi, có một mối dây gắn kết mà dường như tôi không thể cắt đứt.
Tôi ngước lên những khuôn mặt trông chờ đang lặng im quan sát mình. "Con sẽ chôn các quân cờ", tôi chậm rãi thốt lên. "Lily, cậu sẽ giúp tớ, chúng ta là một đội ăn ý mà. Hai đứa mình sẽ mang chúng đến nơi nào đó, sa mạc hay núi non, còn Solarin trở về lấy bàn cờ. Ván cờ này đến hồi kết rồi. Chúng ta sẽ mang Bộ cờ Montglane đi thật xa để không ai có thể tìm thấy chúng lại được trong cả ngàn năm nữa".
"Nhưng cuối cùng nó cũng sẽ được tìm ra", Solarin nói khẽ.
Tôi quay sang nhìn anh và điều gì đó sâu thẳm bên trong lướt qua giữa chúng tôi. Giờ nếu làm theo quyết định của tôi, anh biết chuyện gì phải xảy đến và tôi biết chúng tôi có thể không thấy lại được nhau trong khoảng thòi gian dài vô tận.
"Có thể ngàn năm nữa", tôi nói với anh, "con người trên hành tinh này tốt đẹp hơn, họ sẽ biết cách sử dụng một công cụ kiểu như vậy cho những điều ích lợi, thay vì coi nó như vũ khí của quyền lực. Hay có thể khi đó các nhà khoa học sẽ phát hiện lại công thức. Nếu thông tin trong bộ cờ không còn là bí mật mà trở thành kiến thức phổ biến thì giá trị của những quân cờ này thậm chí còn không đủ cho anh mua vé tàu điện ngầm".
"Vậy sao không làm sáng tỏ công thức ngay bây giờ ?" Nim cất lời. "Biến nó thành kiến thức phổ biến ?"
Nim đã chạm đến vấn đề, mấu chốt của sự việc. Cái khó là tôi muốn bao nhiêu người mình quen biết được tồn tại vĩnh viễn ? Không chỉ có những kẻ xấu xa như Blanche hay El-Marad mà còn những tên lừa đảo thông thường, chẳng hạn như những người tôi làm việc cùng, Jock upham và Jean Philippe Petard. Tôi có muốn những người như họ sống mãi mãi không ? Tôi có muốn chọn lựa xem họ được hay không được không ?
Giờ tôi đã hiểu điều Paracelsus ngụ ý khi nói 'Chúng ta sẽ giống như các vị thần'. Đây là các quyết định luôn vượt ngoài tầm tay người trần mắt thịt, dù bạn có tin chúng được điều khiển bởi các vị thần, hồn ma hoặc sự chọn lọc tự nhiên hay không. Nếu chúng ta là người có sức mạnh ban phát hay thu hồi thứ thuộc về tự nhiên thì tức là chúng ta đang đùa với lửa. Và bất kể chúng ta cảm thấy có trách nhiệm về quyền sử dụng và điều khiển sức mạnh đó thế nào thì cũng bị rơi vào cảnh ngộ hệt các nhà khoa học đã phát minh ra "thiết bị hạt nhân" đầu tiên, trừ khi giữ kín bí mật đó mãi mãi như các thầy tế cổ xưa đã làm.
"Không", tôi nói với Nim. Tôi đứng lên nhìn các quân cờ tỏa sáng trên bàn, những quân cờ tôi quá thường xuyên và táo bạo liều mạng vì chúng. Khi đứng đó, tôi tự hỏi mình có thể chôn vùi chúng xuống đất và không bao giờ, không bao giờ bị cám dỗ để đi tìm kiếm và đào bới chúng lên lại hay không. Harry đang mỉm cười với tôi và như thể đọc được suy nghĩ của tôi, ông đứng lên đến bên tôi.
"Nếu có ai làm được điều đó thì người ấy chính là con", ông nói, ôm tôi trong vòng tay to bè. "Đó là lý do Minnie đã chọn con trên hết thảy tất cả. Con thấy đấy, con yêu, bà ấy nghĩ con có sức mạnh mà bà chưa bao giờ có, khả năng cưỡng lại được sức mê hoặc của quyền lực đến cùng tri thức..."
"Chúa ơi, chú khiến con giống như Sayonarola (1452-1498, tu sĩ bảo thủ dòng Đa Minh) đem thiêu hủy sách vở", tôi nói với ông ấy. "Tất cả những gì con đang làm chỉ là mang chúng đến một nơi an toàn không gây nguy hại trong một thời gian".
Mordecai trở vào phòng với một đĩa lớn các món ăn hấp dẫn. Ông để Carioca ngoài nhà bếp, nơi con vật "giúp đỡ" chuẩn bị thức ăn dọn lên đây.
Tất cả chúng tôi người đứng, kẻ vươn vai, di chuyển khắp căn phòng rộng, giọng nói vang lớn sôi nổi khi bỗng nhiên được giải thoát khỏi áp lực vượt quá sức phải gánh chịu từ rất lâu. Tôi đứng gần Solarin và Nim, đang bốc thức ăn thì Nim vươn tay choàng qua vai tôi. Dường như lần này Solarin không bận tâm chuyện đó.
"Bọn anh vừa nói chuyện xong, Sascha và anh", Nim nói với tôi. "Em có thể không yêu em anh nhưng cậu ấy yêu em. Thận trọng với tình cảm của người Nga, họ có thể phá hủy tất cả". Anh mỉm cười với Solarin với ánh mắt yêu thương chân thành.
"Phá hủy được em hơi khó đấy", tôi nói. "Vả lại, em cũng có cùng cảm xúc đó với anh ấy". Solarin ngạc nhiên nhìn tôi, tôi không hiểu tại sao. Dù cánh tay Nim vẫn còn quàng qua người tôi nhưng Solarin đã chộp lấy vai tôi và hôn đắm đuối lên môi tôi.
"Anh sẽ không để em trai mình đi xa lâu đâu", Nim nói và xoa đầu tôi. "Anh sẽ sang Nga cùng cậu ấy để lấy bàn cờ. Mất đứa em trai duy nhất của mình một lần trong đời là đủ rồi. Lần này, nếu đi, chúng ta sẽ đi cùng nhau".
Mordecai đi vòng sang, đưa mọi người ly và rót rượu sâm banh. Rót xong, ông bế Carioca lên và nâng ly chúc mừng.
"Uống vì Bộ cờ Montglane", ông cất lời với nụ cười nhăn nheo. "Cầu cho nó ngủ yên hàng ngàn ngàn năm !" Tất cả chúng tôi cạn ly và tiếng la "hoan hô" của Harry vang lên.
"Uống vì Cat và Lily !" Harry nói, nâng ly. "Cả hai đã bất chấp rất nhiều hiểm nguy. Mong cho hai đứa sống lâu trong niềm hạnh phúc và tình bạn thân. Cho dù không sống mãi thì chí ít ngày nào cũng đều ngập tràn niềm vui". Ông tươi cười rạng rỡ với tôi.
Đến lượt tôi nâng ly và nhìn khắp tất cả mọi người: ông Mordecai nghiêm nghị; Harry có cặp mắt ướt rượt; Lily rám nắng và săn chắc; Nim, với mái tóc đỏ của nhà tiên tri và đôi mắt hai màu kỳ lạ, đang cười với tôi như thể đọc được ý nghĩ trong đầu tôi và Solarin, mãnh liệt và sống động như khi ở cạnh bàn cờ.
Tất cả đứng quanh tôi, những người bạn thân thiết nhất, những người tôi thật lòng yêu quý. Nhưng họ là người trần mắt thịt, như tôi, và tất cả sẽ tàn phai theo thời gian. Đồng hồ sinh học của chúng tôi vẫn gõ đều nhịp; không gì có thể khiến thời gian chậm lại. Chúng tôi muốn hoàn thành điều gì thì phải làm trong vòng một trăm năm, quãng đời được phân chia cho con người. Nhưng không phải lúc nào cùng như vậy. Tổ tiên ngày xưa cừ hơn chúng tôi bây giờ nhiều, kinh thánh đã nói rằng: người có quyền lực vô biên sống được bảy trăm hay tám trăm năm. Chúng tôi sai chỗ nào ? Chúng tôi đánh mất sự tinh thông khi nào ? Tôi lắc đầu, nâng ly rượu sâm banh và mỉm cười.
"Uống vì ván cờ", tôi lên tiếng. "Ván cờ của các vị vua... ván cờ nguy hiếm nhất: ván cờ bất diệt. Ván cờ chúng ta vừa chiến thắng, ít ra là qua vòng. Và uống vì bà Minnie, người đấu tranh cả đời để giữ các quân cờ xa tầm tay những kẻ dùng sai chúng, nhằm vào mục đích của riêng bọn họ, chạy theo điều xấu xa và quyền lực để cai trị người khác. Cầu cho bà sống bình yên ở bất kỳ nơi đâu bà đặt chân tới và chúng ta chúc bà mọi điều tốt đẹp..."
"Hoan hô, hoan hô", Harry kêu to lần nữa nhưng tôi chưa nói xong hẳn.
"Và giờ ván cờ đã hoàn tất, chúng ta quyết định chôn các quân cờ", tôi nói thêm, "cầu cho chúng ta có sức mạnh chống lại cám dỗ đào chúng lên lại !"
Mọi người vỗ tay nhiệt liệt và sốt sắng hơn khi cạn ly, thực ra như thể chúng tôi đang cố thuyết phục chính mình.
Tôi đưa ly lên môi và nghiêng ly hướng về phía bầu trời. Tôi cảm giác sâm banh sủi tăm đang trôi xuống cổ họng, khô khốc, rát buốt, có lẽ nuốt hơi đắng. Khi giọt rượu cuối cùng vào miệng, chỉ trong chốc lát, tôi tự hỏi điều mình sẽ không bao giờ biết được. Mùi vị sẽ thế nào, cảm giác sẽ thế nào, nếu thứ chất lỏng trôi xuống cổ họng tôi không phải sâm banh. Mà đó là thuốc trường sinh bất lão.
VÁN CỜ KẾT THÚC