Đó đây trong những câu chuyện cổ, chúng ta bắt gặp những truyền thuyết về các ván đấu khôn ngoan và bí ẩn được hình thành và thực hiện bởi những học giả, thầy tu, hay các triều thần của những ông hoàng có học thức. Những ván đấu này có lẽ hình thành thể thức của cờ vua, trong đó các quân cờ và ô cờ mang những ý nghĩa bí mật bên cạnh chức năng thông thường của chúng.
- Trò chơi những viên ngọc thủy tinh- Hermann Hesse
-Tôi tham gia trò chơi vì chính trò chơi.
- Sherlock Holmes-
Ánh chiều tà xanh nhạt pha đỏ tỏa sáng lung linh báo hiệu mùa xuân. Dường như chính bầu trời kêu rền khi chiếc máy bay chở tôi lượn qua lớp sương mỏng dâng lên từ bờ biển Địa Trung Hải. Bên dưới tôi là Algiers.
"AI-Djezair Beida", họ gọi nơi này như thế có nghĩa là hòn đảo trắng. Dường như nó nhô lên khỏi mặt biển để tạo nên một thành không phải Algiers mà là lên ô cờ đầu tiên: ô cờ dẫn tôi vào ngay tâm điểm trò chơi.
Sân bay tại Dar-el-Beida (Lâu đài Trắng) ngay mép Algiers, biển Địa Trung Hải vỗ sóng lên đường băng ngắn của nó.
Trước tòa nhà hai tầng bằng phẳng là một hàng cọ đung đưa như những bộ lông dài trong gió nhẹ mát mẻ khi chúng tôi bước xuống máy bay. Hương hoa nhài nở vào ban đêm thơm ngát không gian. Băng qua phía trước tâm kính thấp ở sân bay có đính băng rôn viết tay: những vòng xoắn trang trí, dấu chấm, nét vẽ này giống với bức vẽ kiểu Nhật là ý nghĩ thoáng hiện đầu tiên của tôi về chữ Ả Rập cổ điển. Bên dưới những mẫu tự được khắc họa là dòng chữ in dịch nghĩa: "Chào mừng đến Algérie”
Hành lý của chúng tôi được chất lên vỉa hè nên chúng tôi có thể nhận ra đồ của mình. Người gác cổng đặt vali của tôi lên xe đẩy kim loại khi tôi theo sau dòng người vào sân bay.
Llewellyn và Blanche, lợi dụng sự vắng mặt của Harry, đã đi Luân Đôn mua đồ cổ.
Nim vẫn ẩn dật, nên không thể nói chuyện, và không để lại lời nhắn trả lời nào trong hộp thư thoại khẩn cấp của tôi. Nhưng sáng thứ bảy, khi tôi đang vật lộn với đống hành lý, Boswell xuất hiện tại cửa nhà với cái hộp trong tay từ "người thanh niên quyến rũ ở đây đêm hôm trước".
Chiếc hộp đầy sách, có đính một ghi chú như sau "Cầu nguyện được dìu dắt, và ban phước lành". Ký tên "bà phước". Tôi nhét tất cả chồng sách vào túi du lịch đeo vai và quên béng chúng. Làm sao tôi biết những quyển sách đó, nằm trong túi như quả bom hẹn giờ, lại có ảnh hưởng rất to lớn lên những sự kiện sẽ xảy ra sau này ? Nhưng Nim biết. Có lẽ anh ta luôn biết. Thậm chí trước cả khi anh ấy đặt tay lên vai tôi và nói, "chỉnh quân".
Trong mớ sách cũ mốc meo đủ loại có quyển truyền thuyết về Charlemagne, như những quyển về cờ vua, những ô vuông ma thuật, và những hoạt động theo đuổi toán học của tất cả những thêm thắt và muôn hình vạn trạng có thể. Có cả quyển sách chán òm về đề án thị trường chứng khoán mang tên Dãy số Fibonacci - tác giả là Tiến sĩ Ladislaus Nim.
Khó mà khẳng định tôi trở thành chuyên gia cờ vua trong chuyến bay sáu giờ từ New York den Paris, nhưng tôi thật sự biết được nhiều thứ về Bộ cờ Montglane và vai trò của nó trong sự sụp đổ đế chế Charlemagne. Mặc dù chưa bao giờ được nhắc đến tên nhưng bộ cờ này liên quan đến cái chết của không ít hơn phân nửa số vua chúa, hoàng thân và triều thần đủ loại, tất cả va đầu vào những quân cờ "bằng vàng đồ sộ". Chiến tranh nổ ra sau vài vụ giết người, và sau cái chết của Charlemagne, các con trai của ông xâu xé nhau đế chế Frank, biến nó thành mảnh vụn trong cuộc chiến chiếm đoạt bộ cờ thần bí. Nim đã ghi một câu bên lề ở đó: "Cờ vua - trò chơi nguy hiểm nhất".
Tôi tự biết được đôi chút về cờ vua vào tuần trước, thậm chí trước khi đọc quyển sách về cờ vua anh ta đưa kèm: đủ để biết sự khác biệt giữa chiến thuật và chiến lược. Chiến thuật là bước tiến ngắn để bày binh bố trận. Còn chiến lược là cách lập kế hoạch để giành thắng lợi. Thông tin này vô cùng có ích khi tôi đặt chân đến Paris.
Đối tác của Fulbright Cone không đánh mất lớp bề ngoài hành động lừa lọc và tham nhũng đã được thời gian thử thách với chuyến đi vượt Đại Tây Dương của tôi. Ngôn ngữ của trò chơi họ đang chơi có thể thay đổi nhưng nước cờ vẫn y nguyên. Lúc tôi đến văn phòng tại Paris, họ thông báo toàn bộ thương vụ có thể bị hủy bỏ. Dường như họ thất bại trong việc ký kết hợp đồng với những người tại OPEC.
Bề ngoài họ vẫn tiếp tục chờ nhiều ngày tại các bộ khác nhau ở Algiers, bay tới lui từ Paris, tiêu tốn rất nhiều tiền và trở về tay không sau mỗi chuyến đi.
Hiện lãnh đạo cấp cao, Jean Philippe Petard, dự định sẽ tham gia vào. Báo trước tôi không được làm gì đến khi ông ấy đến Algiers vào cuối tuần, Petard bảo đảm với tôi đối tác Pháp chắc chắn sẽ tìm ra thứ gì đó cho tôi làm ngay khi mọi sự hiểu lầm đã tan biến. Ông ta như ám chỉ đến việc đánh máy, lau chùi sàn nhà, cửa sổ và nhà vệ sinh. Nhưng tôi có kế hoạch khác.
Đối tác Pháp có thể không ký được hợp đồng với khách hàng nhưng tôi có vé máy bay sang Algiers và một tuần ở đó không bị giám sát trực tiếp.
Khi tôi đi ra khỏi văn phòng ở Paris của Fulbright Cone và ra hiệu cho taxi trở lại sân bay Orly, tôi quyết định rằng Nim đã đúng về việc thôi thúc bản năng giết chóc của tôi. Tôi sử dụng chiến thuật di chuyển đến gần quá lâu và không thể thấy bàn cờ. Có thể đến lúc bày binh bố trận để làm rối loạn tầm nhìn ?
Tôi đứng ở hàng người nhập cư tại sân bay Dar-el-Beida gần nửa giờ mới đến lượt mình. Chúng tôi lê bước nối đuôi như đàn kiến qua những lối đi hẹp với lan can kim loại bảo vệ trước khi đến cổng kiểm soát hộ chiếu.
Cuối cùng tôi cũng đến được buồng kính. Nhân viên kiểm tra xem kỹ con dấu thị thực Algeria của tôi với nhãn chính quyền đỏ và trắng nhỏ và chữ ký lớn kéo dài chiếm gần hết trang giấy xanh dương. Ông quan sát nó khá lâu trước khi ngẩng lên nhìn tôi với nét mặt có vẻ lạ lùng.
"Cô đi một mình", ông nói bằng tiếng Pháp. Đó không phải một câu hỏi. "Cô có thị thực đi làm nhiệm vụ, thưa cô. Cô đang làm việc cho ai ?" (Làm nhiệm vụ nghĩa là công tác. Tiếng Pháp quả thật nhất cử lưỡng tiện.)
"Tôi đang làm việc cho OPEC", tôi bắt đầu giải thích bằng vốn tiếng Pháp kém cỏi của mình. Nhưng tôi chưa kịp nói tiếp thì ông ta đã gấp rút đóng dấu 'Dar-el-Beida' lên khắp thị thực của tôi. Ông gật đầu ra hiệu cho người gác cổng đang quanh quẩn chỗ bức tường gần đó. Anh ta đi đến khi nhân viên bộ phận nhập cư nhanh chóng lật những trang còn lại của thị thực rồi đẩy tờ khai hải quan qua khe cho tôi.
"OPEC", người nhân viên nói. "Rất tốt, thưa cô. Chỉ cần viết vào mẫu đơn này số vàng hay khoản tiền cô mang theo..."
Trong lúc đang điền vào mẫu đơn, tôi để ý thấy ông ấy lầm bầm gì đó với người gác cổng, hất đầu về phía tôi. Người gác cổng liếc nhìn tôi, gật đầu và quay đi.
"Và cô ở đâu trong thời gian lưu lại đây ?" người nhân viên hỏi khi tôi đẩy tờ khai đã hoàn tất trở vào bên dưới vách ngăn bằng kính.
"Khách sạn El Riadh", tôi đáp. Người gác cổng đã đi đến phía sau lối đi của bộ phận nhập cư và liếc lại sau lưng nhìn tôi một lần nữa. Anh ta đang gõ lên cánh cửa kính ám khói của một văn phòng biệt lập dựa vào bức tường trong cùng. Cánh cửa mở và một người đàn ông lực lưỡng bước ra. Cả hai giờ đang nhìn tôi, không phải tôi tưởng tượng. Và người đàn ông lực lưỡng đeo súng ở hông.
"Giấy tờ của cô hợp lệ, thưa cô", nhân viên bộ phận nhập cư đang bình thản nói với tôi. "Giờ cô có thể đến chỗ hải quan".
Tôi lầm bầm cảm ơn, lấy giấy tờ và đi qua lối đi hẹp đến một tấm bảng ghi "Hải quan". Từ xa, tôi trông thấy hành lý của mình xếp trên băng tải đứng yên. Nhưng ngay khi tôi tiến về phía đó, người gác cổng quan sát tôi khi nãy thả bộ tiến lên.
"Xin lỗi, thưa cô", anh ta nói bằng giọng nhỏ nhẹ, lịch sự không để người khác nghe thấy. "Cô vui lòng theo tôi". Anh ta ra hiệu về phía cánh cửa kính ám khói của văn phòng. Người đàn ông lực lưỡng vẫn đang đứng ngay cửa, vuốt vuốt lên khẩu súng ở hông. Bao tử tôi muốn lộn ngược.
"Nhất định không !" tôi la lớn bằng tiếng Anh. Tôi quay lưng về phía hành lý và cố phớt lờ anh ta.
"Tôi e tôi phải buộc cô làm vậy", người gác cổng nói, đặt bàn tay chắc nịch lên cánh tay tôi. Tôi cố nhắc nhở mình trong giới làm ăn, tôi được biết đến là người có thần kinh thép. Nhưng tôi có thể cảm thấy cơn hoảng loạn dâng lên.
"Tôi không hiểu vấn đề", tôi nói, lần này bằng tiếng Pháp, khi tôi đẩy tay anh ta ra khỏi tay mình.
"Không có vấn đề gì cả", anh ta nói bình thản, không rời mắt khỏi tôi. "Chỉ huy an ninh muốn hỏi cô vài câu, thế thôi. Quy trình này chỉ mất một lát thôi. Hành lý của cô sẽ được an toàn tuyệt đối. Đích thân tôi sẽ trông coi nó".
Tôi không lo lắng về hành lý của mình. Tôi miễn cưỡng rời phòng hải quan sáng trưng để vào một văn phòng không mấy sáng sủa cùng một gã đeo súng. Nhưng dường như tôi có rất ít sự lựa chọn, anh ta hộ tống tôi đến văn phòng, nơi người đàn ông có súng bước sang bên để tôi đi vào.
Đó là một căn phòng nhỏ, chỉ đủ lớn để một cái bàn kim loại và hai cái ghế đặt đối diện nhau. Người đàn ông sau cái bàn đứng lên chào tôi khi tôi bước vào.
Anh ta khoảng ba mươi tuổi, vạm vỡ, rám nắng, và đẹp trai. Anh đi vòng qua bàn như một con mèo, bắp thịt cử động dựa vào những đường nghiêng của bộ com-lê màu tối được may đo vừa vặn. Với mái tóc đen dày chải ngược ra sau trán, làn da nâu vàng, mũi cao và môi đầy đặn, anh ta có thể làm một vũ công người Ý hoặc một ngôi sao điện ảnh người Pháp.
"Nhiệm vụ đã xong, Achmet", anh ta nói bằng giọng ngọt ngào với gã dữ dằn đeo súng vẫn đứng cầm tay nắm cửa sau lưng tôi. Achmet đi ra, nhẹ nhàng đóng cửa lại sau lưng anh ta.
'Thưa cô Velis, tôi tin là", anh ta nói, ra hiệu cho tôi ngồi xuống đối diện bàn. 'Tôi đang trông đợi cô".
"Xin ông nhắc lại", tôi vẫn đứng và nhìn anh ta.
'Tôi xin lỗi, tôi không định nói khó hiểu". Anh ta mỉm cười. "Văn phòng của tôi xem xét tất cả thị thực sắp được ban hành. Chúng tôi không có nhiều phụ nữ yêu cầu thị thực công tác; thật ra, có lẽ cô là người đầu tiên. Tôi phải thú nhận rằng tôi rất tò mò muốn gặp một phụ nữ như cô".
"À, giờ ông đã thỏa mãn trí tò mò của mình rồi đấy", tôi nói, quay lưng đi về phía cửa.
"Quý cô thân mến", anh ta nói, đoán trước tôi định bỏ đi "vui lòng ngồi xuống. Tôi thật sự không phải kẻ xấu xa. Tôi không ăn thịt cô đâu. Tôi là chỉ huy bộ phận an ninh ở đây. Người ta gọi tôi là Sharrif". Anh ta khoe hàm răng trắng tinh bằng nụ cười tươi rói khi tôi quay lại và miễn cưỡng ngồi xuống đối diện anh ta sau ba lần được mời. "Tôi có thể nói tôi thấy đồ đạc trang bị cho chuyến đi của cô thích hợp nhất. Không chỉ thanh lịch mà còn phù hợp với một xứ sở có hai ngàn dặm sa mạc. Cô có dự định đi thăm sa mạc Sahara trong chuyến đi không, thưa cô ?" anh ta nói thêm một cách bình thường trong khi ngồi xuống ghế của mình sau bàn.
"Tôi sẽ đi bất cứ đâu khách hàng gửi tôi đến", tôi nói.
"À, vâng, khách hàng của cô", anh chàng dễ thương huyên thuyên. "Ngài Kader: Emile Kamel Kader, bộ trưởng dầu mỏ. Một người bạn cũ. Cô nhất định gửi đến ông ấy lời chào nồng hậu nhất của tôi nhé. Theo tôi nhớ, chính ông ta là người bảo đảm thị thực của cô. Cô vui lòng cho tôi xem hộ chiếu được không ?" Tay anh ta đã chìa ra và tôi bắt gặp lóe lên khuy măng sét vàng hẳn anh ta đã tịch thu ở hải quan. Không nhiều nhân viên sân bay làm trò xin tiền đó.
"Đây chỉ là thủ tục. Chúng tôi chọn người ngẫu nhiên trong mỗi chuyến bay để kiểm tra kỹ lưỡng hơn bên hải quan thực hiện. Chuyện này không xảy đến với cô lần nữa trong hai mươi chuyến bay hay một trăm..."
"Tại nước tôi", tôi nói với anh ta, "người ta chỉ bị lôi vào văn phòng riêng tại sân bay khi bị nghi ngờ buôn lậu gì đó". Tôi đang xua vận may, và tôi biết điều đó. Nhưng tôi không bị đánh lừa bởi vẻ hào nhoáng giả tạo của câu chuyện luôn luôn biến sắc của tên này, khuy măng sét bằng vàng của gã hay hàm răng đẹp như ngôi sao điện ảnh kia. Tôi chỉ là một người bị gọi vào và kiểm tra về toàn bộ chuyến bay. Và tôi thấy khuôn mặt những nhân viên sân bay khi họ xì xào về tôi từ xa. Dứt khoát tôi chính là người họ tìm kiếm. Và không chỉ vì họ tò mò về việc tôi là phụ nữ đi công tác tại một đất nước Hồi giáo.
"À", anh ta nói, "cô sợ tôi nghĩ cô là một kẻ buôn lậu à ? Không may cho tôi, pháp luật nước tôi chỉ có nữ nhân viên mới được khám xét nữ hành khách buôn lậu ! Không, tôi chỉ muốn xem hộ chiếu của cô thôi - chí ít là bây giờ".
Anh ta nghiền ngẫm nó vô cùng kỹ lưỡng. "Tôi chưa bao giờ đoán tuổi cô. Lúc tôi chưa xem ngày sinh trong hộ chiếu của cô thì cô trông không quá mười tám. Hóa ra cô đã hai mươi bốn. Nhưng quả thật rất thú vị, cô có biết ngày sinh của cô, bốn tháng tư, là ngày linh thiêng trong đạo Hồi không ?"
Ngay lúc đó, những lời của bà thầy bói đột ngột ùa vào tâm trí tôi. Khi bà nói với tôi đừng đề cập đến ngày sinh, tôi đã quên những thứ như hộ chiếu và bằng lái xe.
"Tôi hy vọng không làm cô hoảng sợ", anh ta nói thêm, nhìn tôi một cách lạ lùng.
"Không dám", tôi thản nhiên đáp. "Giờ nếu anh đã nói xong...” "Có lẽ cô thích thú được biết thêm", anh ta nói tiếp, nhẹ nhàng như một con mèo, anh ta tiến đến phía trước và kéo túi xách của tôi qua bên kia bàn. Không nghi ngờ gì đây chỉ là một "thủ tục" khác nhưng tôi đang trở nên cực kỳ khó chịu. Cô gặp nguy hiểm, giọng nói vang lên sâu thẳm trong tôi. Đừng tin ai cả, luôn luôn đề phòng sau lưng, vì nó đã được định đoạt: Vào ngày thứ tư của tháng thứ tư, rồi Bộ Tám sẽ đến.
"Ngày bốn tháng tư", Sharrif đang tự nói với mình trong khi rút mấy thỏi son, cây lược, và cây bút lông ra khỏi túi xách của tôi rồi thận trọng đặt chúng lên bàn như chứng cứ được dán nhãn dành cho việc xét xử vụ giết người. "Trong đạo Hồi, chúng tôi gọi đó là 'Ngày Chữa lành”. Chúng tôi có hai cách tính năm Hồi giáo, theo mặt trăng và theo mặt trời, bắt đầu từ ngày hai mươi mốt tháng ba theo lịch phương Tây. Có rất nhiều truyền thống cho từng kiểu năm.
"Khi năm âm lịch bắt đầu", anh ta nói tiếp, lôi sổ tay, bút bi, bút chì ra khỏi túi tôi và phân loại theo hàng, "Muhammad lệnh cho chúng tôi phải đọc kinh Koran mười lần mỗi ngày trong tuần đầu tiên. Tuần thứ hai, chúng tôi phải tụ họp mỗi ngày, phà hơi vào một chén nước và uống trong cùng một chén trong bảy ngày. Sau đó, sang ngày thứ tám", Sharrif bất chợt ngẩng lên nhìn tôi như muốn bắt quả tang. Anh ta mỉm cười bình thản và tôi hy vọng nụ cười của mình cũng mang vẻ bình thường.
"Thế là, sang ngày thứ tám của tuần thứ hai trong tháng thần bí này, khi tất cả nghi thức của Muhammad đã được thực hiện đầy đủ, dù người ta bệnh gì cũng sẽ bảo đảm được chữa lành. Đấy là ngày bốn tháng tư. Người sinh ra vào ngày này được tin rằng có quyền năng vĩ đại để chữa bệnh cho những người khác - gần như thế... Nhưng tất nhiên, là người phương Tây, cô chắc chắn không quan tâm đến những mê tín dị đoan kiểu này".
Có phải chỉ do tôi tưởng tượng rằng anh ta đang quan sát tôi như mèo rình chuột không ? Tôi đang điều chỉnh nét mặt thì anh ta bật ra tiếng hét nho nhỏ khiến tôi giật nảy mình.
“WA !" anh ta kêu lên, và hất cổ tay ném vật gì đó lên mặt bàn để nó dừng ngay trước mặt tôi. "Tôi thấy cô yêu thích cờ vua !"
Đó là bàn cờ bỏ túi của Lily bỏ quên trong một góc túi xách của tôi. Và Sharrif đang lôi ra toàn bộ sách và chất đống chúng trên bàn khi chăm chú đọc tiêu đề.
"Cờ vua, thuật toán, a, dãy số Fibonacci !" anh ta kêu lên, mang nụ cười làm tôi nghĩ anh ta đắc thắng. Anh ta đang nói đến quyển sách chán phèo Nim đã viết. "Vậy ra cô yêu thích toán học à ?" anh ta nói, chăm chú nhìn tôi.
"Không hẳn", tôi nói, nhổm dậy và cố nhét đồ đạc vào túi trong khi Sharrif đưa tôi từng món. Khó hình dung làm sao mà một cô gái gầy nhom có thể mang quá nhiều đồ linh tinh đến thế đi nửa vòng thế giới. Nhưng đúng là vậy.
"Vậy chính xác cô biết gì về dãy số Fibonacci ?" anh ta hỏi trong khi tôi tiếp tục tống mọi thứ vào túi.
"Chúng phục vụ cho một dự án về thị trường chứng khoán", tôi càu nhàu. "Dự án nâng giá và hạ giá thị trường dựa trên lý luận sóng Eliott, lý thuyết do một người có tên R. N. Eliott phát triển vào những năm ba mươi.. ."
"Vậy cô không quen biết tác giả ư ?" Sharrif ngắt lời. Tôi cảm thấy da mình hơi tái xanh khi ngước mắt lên, tay tôi cứng đờ trên quyển sách.
"Ý tôi là Leonardo Fibonacci", Sharrif nói thêm, nhìn tôi nghiêm nghị. "Một người Ý sinh tại Pisa vào thế kỷ mười hai, nhưng được hưởng nền giáo dục ở đây, tại Algiers. Ông ấy là một học giả uyên bác nghiên cứu về toán học sau khi thuật toán được lấy theo tên nhà toán học người Ma-rốc nổi tiếng al- Kwarizmi. Fibonacci truyền bá chữ số Ả Rập vào châu Âu, thay thế số La Mã cổ..."
Quỷ thật. Lẽ ra tôi phải biết Nim sẽ không đưa tôi một quyển sách chỉ để đọc giết thời gian, thậm chí anh ta còn viết ra nó. Giờ tôi ước gì thật sự đã biết được nội dung trong sách trước khi cuộc thẩm tra nho nhỏ này của Sharrif bắt đầu. Một ý tưởng vụt sáng trong đầu tôi nhưng tôi không thể giải mã điều đang lóe lên.
Chẳng phải Nim ép tôi nghiên cứu về những ô vuông bí ẩn sao ? Chẳng phải Solarin phát triển công thức cho nước đi của quân Mã sao ? Chẳng phải lời tiên tri của bà thầy bói ẩn giấu những con số sao ? Vậy tại sao tôi lại ngốc đến vậy khi chưa thể rút ra kết luận ?
Tôi nhớ lại trước tiên chính một người Ma-rốc đã đưa Bộ cờ Montglane cho hoàng đế Charlemagne. Tôi không phải thần đồng toán học nhưng tôi làm việc với máy vi tính đủ lâu để biết được người Ma-rốc đã giới thiệu gần hết những khám phá toán học quan trọng đến châu Âu, suốt từ thời họ lần đầu đánh thắng người Seville vào thế kỷ thứ tám. Cuộc truy lùng bộ cờ truyền thuyết này rõ ràng có liên quan đến toán học, nhưng là gì nhỉ ? Sharrif đã cho tôi biết nhiều hơn tôi cho anh ta biết, nhưng tôi không thế ráp nối mọi thứ lại với nhau. Rút quyển sách cuối cùng ra khỏi tay anh ta, tôi cho nó vào chiếc túi da của mình.
"Vì cô sẽ nán lại Algeria cả năm", anh ta nói, "nên có lẽ lúc nào đó chúng ta sẽ đánh cờ với nhau nhé. Bản thân tôi từng là đối thủ tranh đấu chức vô địch trẻ tuổi của Ba Tư. .."
"Đây là một thành ngữ phương Tây anh nên học", tôi nói vọng lại với anh ta khi tiến đến cửa. "Đừng tốn công vô ích".
Tôi mở cửa. Tên Achmet dữ dằn liếc nhìn tôi ngạc nhiên rồi quay nhìn Sharrif, lúc này anh ta chỉ mới nhổm dậy khỏi chiếc ghế sau bàn. Tôi đóng sầm cánh cửa sau lưng và tấm kính rung lên. Tôi không nhìn lại.
Tôi nhanh chóng đi thẳng đến bộ phận hải quan. Mở túi cho hải quan kiểm tra, tôi có thể thấy việc ông ta thờ ơ nhìn và lật giở qua loa đồ đạc bên trong cho thấy ông ấy đã thấy chúng trước rồi. Ông đóng lại và đánh dấu chúng bằng phấn.
Hiện khu còn lại của sân bay gần như vắng tanh, nhưng may thay chỗ đổi tiền vẫn còn mở cửa. Sau khi đổi ít tiền, tôi vẫy một người khuân vác và ra ngoài đón taxi. Không gian thơm ngào ngạt xộc vào mũi tôi lần nữa. Hương hoa nhài nồng nàn thấm đẫm mọi vật.
"Khách sạn El Riadh", tôi nói với người tài xế khi nhảy lên xe, và chiếc xe lăn bánh phóng nhanh dọc đại lộ sáng ánh đèn vàng dẫn đến Algiers.
Khuôn mặt người tài xế già và xương xẩu như nút thắt sợi len màu đỏ, săm soi tôi một cách tò mò qua kính chiếu hậu. "Cô đến Algiers bao giờ chưa ?" Ông ta hỏi. "Nếu chưa, tôi có thể đưa cô đi tham quan thành phố với giá một trăm đồng đina. Tất nhiên chuyến đi sẽ gồm cả hành trình đến El Riadh".
El Riadh cách hơn ba mươi cây số về bên kia Algiers, và một trăm đồng đina chỉ có hai mươi lăm đô la, thế nên tôi đồng ý. Giá này rẻ hơn cả tiền xe đi từ giữa thành phố Manhattan ra sân bay Kennedy vào giờ cao điểm.
Chúng tôi chạy dọc đại lộ chính. Một hàng cây chà là tươi tốt oai vệ xếp thành hàng một bên đường. Phía bên kia là dãy cột hình vòm xây từ thời thuộc địa cao vợi nằm trước các tòa nhà, đối mặt với cảng Algiers. Bạn có thể ngửi thấy hương vị biển cả ẩm ướt mằn mặn.
Ngay giữa cảng, phía bên kia khách sạn Aletti to lớn, chúng tôi rẽ vào một đại lộ dốc, rộng, đi lên đồi. Khi con đường hiện ra, những tòa nhà có vẻ lớn hơn và đồng thời sắp đến gần chúng tôi. Hùng vĩ, những công trình kiến trúc từ thời thuộc địa trước chiến tranh được quét vôi trắng, hiện ra lờ mờ trong bóng tối như những hồn ma thì thầm cùng nhau phía trên cao cách đầu chúng tôi. Chúng rất gần, mở ra khung cảnh đêm sao.
Không gian hiện giờ hoàn toàn tối mịt và yên ắng. Vài ánh đèn đường thưa thớt thả bóng những thân cây oằn cong lên các bức tường trắng trơ trọi khi con đường trở nên hẹp và dốc chưa từng thấy, uốn khúc vào ngay trung tâm Al-Djezair. Hòn đảo nhỏ.
Lên dốc được nửa đường, vỉa hè hơi rộng và bằng phẳng hơn đi vào một quảng trường hình tròn với một vòi phun nước phủ lá ngay giữa dường như để đánh dấu vị trí trung tâm của thành phố thẳng đứng này. Đi vòng khúc quanh, tôi có thể thấy mê lộ các con đường quanh co khiến thành phố có cấu trúc xếp chồng lên nhau. Khi xe lướt qua khúc quanh, đèn pha của chiếc xe hơi phía sau chiếu vào chúng tôi, khi ánh sáng yếu ớt của chiếc taxi tôi ngồi xuyên thấu cảnh tối tăm ngột ngạt của thành phố trên cao.
"Có người đang theo đuôi chúng ta", tôi nói với tài xế.
"Vâng, thưa cô", Ông ta liếc nhìn tôi qua kính chiếu hậu, mỉm cười lo lắng. Những cái răng cửa bịt vàng của ông ấy vụt sáng trong ánh đèn pha phản xạ lại từ chiếc xe bám đuôi. "Họ đã theo chúng ta từ sân bay. Có lẽ cô là gián điệp phải không ?"
"Đừng khôi hài thế".
"Cô thấy đấy, chiếc xe theo sau là xe dành riêng cho chỉ huy an ninh".
"Chỉ huy an ninh à ? Anh ta đã gặp riêng tôi tại sân bay. Sharrif".
"Chính là anh ta", người tài xế nói, rõ ràng ngày càng trở nên lo lắng hơn. Xe của chúng tôi giờ chạy đối đầu thành phố và con đường thu nhỏ thành một lối đi rất hẹp cheo leo chạy dọc theo gờ vách đá thẳng đứng nhìn ra bao quát Algiers. Tài xế chở tôi quay nhìn khi chiếc xe theo đuôi, dài và màu đen, ngoặt khúc quanh ngay bên dưới chúng tôi.
Toàn bộ thành phố trải dài lên khắp các ngọn đồi gấp khúc, một mê cung của các con đường quanh co ngoằn ngoèo như những dòng nham thạch chảy xuống ánh sáng hình lưỡi liềm vẽ ra ranh giới khu cảng. Tàu thuyền lấp lánh trong làn nước thăm thẳm của vịnh phía xa, bập bềnh lên xuống trong biển tĩnh lặng.
Người tài xế đang rồ ga. Khi chiếc xe của chúng tôi ngoặt khúc cua kế tiếp, khung cảnh Algiers hoàn toàn biến mất, và chúng tôi bị bóng tối nuốt chửng. Ngay khi con đường trượt xuống một chỗ trũng tối tăm, khu rừng dày đặc và không thể đi xuyên qua, mùi thông nồng nặc gần như át hết hương vị biển ẩm ướt mằn mặn. Thậm chí cả ánh trăng bạc phếch, mong manh cũng không thể len qua đám cây bện chặt dày đặc rộng lớn.
"Có một việc nhỏ chúng ta có thể làm bây giờ", người tài xế nói, vẫn liếc mắt ra sau kiểm tra kính chiếu hậu khi ông ta chạy băng qua khu rừng hoang vu. Tôi ước gì ông ta có thể chú ý nhìn đường.
"Hiện chúng ta đang ở trong khu vực được gọi là "Les Pins", từ đây đến khách sạn El Riadh không có gì khác ngoại trừ rừng thông này. Đây chính là đường tắt". Con đường xuyên qua đám thông tiếp tục lên xuống những ngọn đồi nhấp nhô như trò đu quay. Khi người tài xế tập trung thêm chút sức lực, tôi nghĩ tôi cảm thấy chiếc taxi thật sự rời mặt đất vài lần, nhảy lên đỉnh dốc. Bạn không thể tưởng tượng ra chuyện quái quỷ như vậy.
"Tôi nói nhiều lần rồi", tôi nói với tài xế, vịn vào tay cầm để đầu không bị đập lên nóc xe. "Sao ông không chạy chậm lại ?" Ánh đèn đến gần sau lưng chúng tôi sau từng ngọn đồi.
"Anh chàng Sharrif này", tài xế nói, giọng run sợ. "Cô có biết anh ta thẩm vấn cô tại sân bay vì mục đích gì không ?"
"Anh ta không thẩm vấn tôi", tôi nói có vẻ đề phòng. "Anh ta chỉ muốn hỏi tôi vài câu thôi. Nói cho cùng, đâu có nhiều phụ nữ đến Algiers công tác". Thậm chí ngay chính bản thân tôi còn thấy giọng cười của mình nghe hơi gượng gạo. "Bộ phận nhập cư có thể đặt câu hỏi với bất cứ ai họ muốn, đúng không nào ?"
"Thưa cô", người tài xế nói, lắc đầu và nhìn tôi một cách kỳ quặc qua tấm gương, khi thỉnh thoảng ánh đèn của chiếc xe kia hiện trong mắt ông, "Anh chàng Sharrif này không làm việc cho bộ phận nhập cư. Công việc của anh ta không phải chào đón du khách đến Algiers. Anh ta không theo dõi cô để chắc rằng cô về nhà an toàn". Ông ta thừa nhận mình nói đùa mặc dù giọng vẫn còn run. "Công việc của anh ta có phần quan trọng hơn thế".
"Thật ư ?" tôi hỏi với vẻ ngạc nhiên.
"Anh ta không nói với cô" ? người tài xế nói, vẫn nhìn vào gương với đôi mắt hoảng sợ. "Anh chàng Sharrif này, anh ta là chỉ huy cảnh sát mật".
Cảnh sát mật, theo mô tả của người tài xế, nghe giống sự pha trộn của FBI, CIA, KGB, và Cơ quan mật vụ Đức quốc xã. Người tài xế có vẻ đỡ căng thẳng hơn khi chúng tôi dừng lại trước khách sạn El Riadh, một tòa nhà thấp, kiểu dáng đẹp bao quanh bởi hình trang trí hoa lá với hòn non bộ nhỏ hình dạng thanh thoát ở lối vào. Nằm khuất trong lùm cây gần bờ biển, lối vào dài và mang đặc tính nghệ thuật chạm trổ lung linh trong ánh đèn.
Khi bước xuống xe, tôi trông thấy đèn pha chiếc xe kia quay trở ra và lao về phía khu rừng tối om xa kia. Đôi bàn tay già nua xương xẩu của người tài xế đang run lên khi ông ta lấy hành lý của tôi ra và bắt đầu mang chúng vào khách sạn.
Tôi theo sau ông ta vào trong và trả tiền xe. Khi ông ta đi khỏi, tôi nói tên cho nhân viên tiếp tân. Chiếc đồng hồ phía sau bàn chỉ mười giờ kém mười lăm.
"Tôi lấy làm tiếc, thưa cô", người nhân viên nói. "Không có phòng đặt trước dành cho cô. Và không may là khách sạn chúng tôi đã kín chỗ". Anh ta mỉm cười và nhún vai rồi quay lưng lại với tôi, bắt tay vào công việc giấy tờ. Đúng là một tình huống trớ trêu. Tôi để ý thật sự không còn chiếc taxi nào xếp hàng bên ngoài khu khách sạn El Riadh biệt lập, và cuốc bộ trở về Algiers qua khu rừng thông có cảnh sát canh chừng với hành lý trên lưng không phải ý tưởng hay ho gì.
"Nhất định có nhầm lẫn", tôi lớn tiếng với người nhân viên. "Phòng đặt trước của tôi ở đây đã được xác nhận lại hơn một tuần trước".
"Nhất định là ở khách sạn khác", anh ta đáp với nụ cười lịch sự dường như là cố hữu của người ở đây. Quá đáng thật, anh ta không thèm quay lưng lại.
Tôi chợt nảy ra ý định thực hiện mánh khóe tinh ranh đối với loại chuyện này. Có lẽ việc thờ ơ quay lưng này chỉ là khúc dạo đầu một khởi động cho hành động đổi chác, theo tác phong người Ả Rập. Và có lẽ người ta cho rằng cái gì cũng có thể đổi chác: Không chỉ hợp đồng cố vấn quyền cao chức trọng mà thậm chí phòng đặt trước đã xác nhận. Tôi quyết định nên thử thực hành lý thuyết của mình. Tôi rút mạnh tờ năm mươi dina khỏi túi và đập lên quầy.
"Anh có thể vui lòng giữ hành lý của tôi sau bàn được không ? Sharrif, chỉ huy an ninh, hy vọng tìm được tôi ở đây. Khi anh ta tới đây, làm ơn nói với anh ta tôi ở phòng khách". Tôi suy luận đây không hẳn là chuyện bịa. Sharrif cho rằng sẽ tìm được tôi ở đây vì gã bặm trợn khi nãy đã theo dõi tôi đến tận cửa khách sạn. Và người nhân viên chắc chắn không gọi cho một người như Sharrif để kiểm tra chuyện đó thật hay giả.
"À, xin thứ lỗi, thưa quý cô", người nhân viên kêu lên, nhanh chóng liếc xuống giấy tờ đăng ký và tôi để ý, đút tiền vào túi bằng một động tác khéo léo. "Thình lình tôi thấy chúng tôi có chỗ đặt trước dành cho cô". Anh ta ghi vào và ngước lên với nụ cười quyến rũ như cũ. "Tôi gọi người khuân vác mang hành lý của cô lên phòng nhé ?"
"Thật tử tế", tôi nói, đưa cho người khuân vác vài tờ giấy bạc khi anh ta lóc cóc chạy tới. "Trong lúc đó tôi sẽ đi loanh quanh. Vui lòng chuyển chìa khóa cho phòng khách khi anh ta khiêng đồ lên xong".
"Vâng, thưa quý cô", người nhân viên rạng rỡ đáp.
Quàng túi lên vai, tôi đi thẳng qua hành lang hướng đến phòng khách. Gần lối vào khách sạn, hành lang thấp và hiện đại nhưng khi tôi rẽ qua góc, nó mở ra một không gian rộng lớn. Những bức tường sơn trắng uốn cong ở hai đầu cầu thang chạm trổ đẹp mắt, vút lên mái trần hình vòm cao những năm mươi foot. Có lỗ thông nhìn ra bầu trời đầy sao.
Băng qua hành lang trải dài tráng lệ, lơ lửng khoảng ba mươi foot trên bức tường phía xa là bậc thang dường như lơ lửng giữa không trung. Từ lề sân ngập chìm trong thác nước không biết chảy từ đâu. Dòng nước khi chạm vào những phiến đá nhô ra trên bức tường, bắn ra thành hai tung tóe khắp nơi. Ở dưới cùng, nước đổ vào cái hồ sủi bọt lớn được lắp vào sàn đá hoa cương bóng lộn của hành lang.
Bên kia thác nước là cầu thang lộ thiên dẫn từ hành lang lên phòng khách, uốn lượn hướng lên bầu trời như đường xoắn ốc đôi. Tôi băng qua hành lang và leo lên cầu thang bên trái. Những cây hoa dại mọc xuyên qua những lỗ hổng trên tường. Tấm thảm thêu đầy màu sắc tuyệt đẹp trải lên cầu thang mười lăm foot chạy xuống những nếp gấp duyên dáng phía cuối.
Sàn đá hoa cương bóng lộn trang trí nhiều màu sắc chói lọi. Đây đó sắp đặt những bộ bàn ghế với thảm Ba Tư dày, khay đồng, ghế đệm dài bọc da thuộc, rất nhiều miếng lót và ấm đồng uống trà. Dù phòng khách rộng lớn với những khung cửa sổ gắn kính dày cực rộng nhìn ra biển nhưng nó có cảm giác riêng biệt, gần gũi.
Ngồi vào một chiếc ghế đệm da mềm mại, tôi gọi người phục vụ và được mời dùng thử bia tươi pha chế theo kiểu địa phương. Tất cả cửa sổ của phòng khách này mở toang và cơn gió nhẹ mang theo hơi nước thổi qua nền đá cao bên ngoài. Tiếng sóng biển êm ái như vuốt ve làm đầu óc tôi dịu đi. Lần đầu tiên tôi cảm thấy thoải mái từ khi rời khỏi New York.
Người phục vụ mang khay có ly bia đã rót sẵn, bên cạnh là chìa khóa phòng của tôi.
"Cô sẽ tìm thấy phòng khi ra khỏi những khu vườn thẳng tắp", anh ta nói, chỉ vào khoảng không tối om bên kia dãy nhà mà tôi không thể nhìn rõ trong ánh trăng mờ nhạt. "Đi theo mê cung những bụi rậm um tùm đến cây cúc bạch ra hoa tỏa hương ngào ngạt. Phòng bốn mươi bốn ngay cạnh cái cây đó. Nó có lối vào riêng".
Ly bia có vị như hương hoa, không ngọt nhưng khá thơm với mùi gỗ nhẹ nhàng. Tôi kêu thêm một ly nữa. Trong lúc nhấm nháp tôi nghĩ về lối đặt câu hỏi lạ thường của Sharrif rồi quyết định dẹp bỏ hết những phỏng đoán đến khi có thêm thời gian học về những thứ liên quan đến vấn đề mà giờ tôi nhận ra Nim đã cố chuẩn bị cho tôi. Thay vào đó tôi sẽ nghĩ về công việc. Tôi sẽ dùng chiến lược gì vào sáng mai khi đến bộ theo kế hoạch đã vạch ra ? Tôi nhớ đến những vấn đề Fulbright Cone đã đối mặt trong việc cố ký kết hợp đồng. Đó là một câu chuyện kỳ khôi.
Bộ trưởng Bộ công nghiệp và năng lượng mang tên Abdel salaam Belaid, đã đồng ý gặp mặt vào tuần trước. Đó là một cuộc họp chính thức ký kết hợp đồng, vì vậy sáu nhân viên đã bay sang Algiers với chi phí tốn kém, với vụ việc của Dom Perignon, chỉ để đến bộ nhận được câu trả lời của Bộ trưởng Belaid "ra nước ngoài công tác". Họ miễn cưỡng đồng ý gặp gỡ cấp dưới thay thế, một ông tên là Emile Kamel Kader (chính là ông Kader phê chuẩn thị thực cho tôi mà Sharrif đã nhắc đến).
Trong khi ngồi tại hàng người dài vô tận ở phòng chờ để đợi ông Kader thu xếp tiếp đón, họ để ý một nhóm các giám đốc ngân hàng Nhật Bản đi xuống hành lang bước lên thang máy. Và giữa đám người đó không ai khác chính là Bộ trưởng Belaid: người đã được thông báo ra nước ngoài công tác.
Những người của Fulbright Cone không quen bị cho leo cây. Nhất là cả sáu người cùng lúc và tất nhiên không quen bị mất mặt đến thế. Họ chuẩn bị phàn nàn chuyện đó với Emile Kamel Kader ngay khi họ được mời vào phòng. Nhưng cuối cùng khi vào đến nơi, Kader đang tới lui khắp văn phòng trong bộ trang phục áo phông và quần soóc đánh tennis, quất vợt vun vút trong không trung.
"Rất tiếc", ông ta nói, "nhưng hôm nay là thứ hai. Và vào thứ hai tôi luôn luôn đi chơi một séc với ông bạn già thân thiết. Tôi không thể làm ông ta thất vọng". Và ông ta bỏ đi ra, để toàn bộ sáu người của Fulbright Cone ngẩn ngơ.
Tôi mong đợi được gặp người có thể đối xử như vậy với những nhân vật trong công ty danh tiếng lẫy lừng của tôi. Và tôi thừa nhận đó hãy còn là sự biểu lộ khác của phương pháp lý luận đổi chác của dân Ả Rập. Nhưng nếu sáu vị kia không thể ký được hợp đồng thì làm sao tôi sẽ có thể khiến mọi chuyện tốt hơn ?
Tôi cầm ly bia và đi tha thẩn ra ngoài bậc thang. Tôi đưa mắt nhìn ra khu vườn tối om trải rộng giữa khách sạn và bãi biển, đúng như người phục vụ nói, như một mê cung. Có những lối đi rải sỏi trắng kêu lạo xạo ngăn cách mấy luống xương rồng kỳ lạ, những cây mọng nước và khu vực nhiều bụi cây, tán cây sa mạc, nhiệt đới tất cả lẫn lộn với nhau.
Ở bìa khu vườn tiếp giáp với biển là một nền đất bằng phẳng, lát đá hoa cương với một hồ bơi rộng, lấp lánh như viên ngọc màu lam phản chiếu ánh trăng dưới đáy hồ. Ngăn cách hồ bơi và bờ biển là một khúc lượn được trang trí bằng những bức tường trắng uốn cong viền bằng những khung tò vò có hình dáng kỳ lạ, qua đó bạn có thể thoáng thấy hình ảnh bãi biển đầy cát, mờ ảo phía xa kia và những cơn sóng bạc đầu thi nhau vỗ vào bờ. Ở bờ tường như hình mạng nhện là một ngọn tháp cao xây bằng gạch với đầu tháp trên đỉnh hơi nhô, giống nơi thầy tu báo hiệu giờ đọc kinh ban đêm.
Mắt tôi lướt về phía khu vườn khi trông thấy nó. Một thoáng ẩn hiện, một tia sáng vụt qua từ phía hồ bơi, nhìn như nan hoa và vành của một bánh xe đạp. Nó lóe lên rồi tan biến vào tán lá tối đen.
Tôi đứng như trời trồng tại bậc thang trên cùng, căng mắt quan sát thật tỉ mỉ khu vườn, hồ bơi, và bãi biển xa kia, căng tai mong bắt được một âm thanh. Nhưng tôi chẳng nghe được gì hết. Không một tiếng động. Bất thình lình ai đó đặt tay lên vai tôi. Tôi gần như hồn lìa khỏi xác.
"Xin thứ lỗi, thưa quý cô, người phục vụ nói, nhìn tôi lạ lẫm. "Nhân viên tiếp tân muốn tôi thông báo cô biết rằng lúc chiều anh ta nhận được vài bức thư gửi cho cô, trước cả khi cô đến. Anh ta đã bỏ sót, quên báo cô sớm hơn". Anh ta đưa tôi một tờ báo gói trong tấm giấy màu nâu và một phong bì nhìn như bức điện tín. "Chúc cô một buổi tối thư thái", anh ta nói rồi bỏ đi.
Tôi nhìn xuống khu vườn lần nữa. Có lẽ trí tưởng tượng đã chơi khăm tôi. Nói cho cùng, thậm chí tôi đã trông thấy cái tôi tưởng tượng ra thì rõ ràng, ở Algeria cũng như bất cứ đâu, người ta đều có thể đạp xe đạp.
Tôi đi vào phòng khách sáng sủa và ngồi xuống cùng ly bia. Tôi mở bức điện tín, nó viết: "Hãy đọc tờ báo. Phần G5". Không có chữ ký nhưng khi mở báo ra, tôi đoán được ai gửi nó. Đó là tờ New York Times ngày chủ nhật. Làm sao nó có thể đến tay tôi nhanh thế qua bao nhiêu dặm đường ? "Bà phước" đã chuyển đi bằng cách lạ lùng và bí ẩn.
Tôi giở sang phần G5, mục thể thao. Có một bài viết về giải đấu cờ vua:
GIẢI ĐẤU TẠM HOÃN
CHẤT VẤN VỀ VỤ TỰ TỬ CỦA KIỆN TƯỚNG
Vụ tự tử tuần rồi của kiện tướng Antony Fiske khiến giới cờ vua New York sửng sốt giờ đã được Ban Điều tra án mạng New York đặt thành vấn đề nghiêm trọng. Văn phòng ban điều tra những cái chết bất thường của thành phố trong phát biểu trên báo ra hôm nay, công bố rằng kiện tướng người Anh sáu mươi bảy tuổi không thể tự kết liễu đời mình. Cái chết do "cột sống cổ bị bẻ gãy là hậu quả từ sức nặng cùng lúc đè lên đốt sống lồi (C7) và bên dưới cằm". Không đời nào một người có thể bẻ gãy được cổ như vậy "trừ khi ông ấy đứng đằng sau cổ của chính mình trong khi bẻ cổ", theo bác sĩ của giải đấu Osgood, người đầu tiên khám nghiệm tử thi Fiske và đưa ra nghi ngờ về nguyên nhân cái chết.
Kiện tướng người Nga Alexander Solarin tham gia thi đấu với Fiske chú ý đến "hành vi kỳ quặc" của Fiske. Đại sứ quán Xô Viết thỉnh cầu quyền đặc miễn ngoại giao dành cho kiện tướng nước mình, nhưng tay cờ được nhiều người biết đến này lại tạo ra làn sóng khi từ chối nhận quyền lợi (Xem bài trên trang A6.) Solarin là người cuối cùng thấy Fiske còn sống và đã cho cảnh sát lời khai.
Nhà tài trợ cho giải đấu John Hermanold đưa ra thông cáo báo chí giải thích quyết định hoãn giải đấu. Hôm nay ông ta viện lý do kiện tướng Fiske đã có tiền sử cai nghiện về việc lạm dụng chất kích thích và đề xuất cảnh sát thăm dò ý kiến người cung cấp thông tin về thuốc để có thể dẫn dắt làm sáng tỏ vụ án mờ ám.
Để hỗ trợ cuộc điều tra, bên tổ chức giải đấu đã cung cấp cho phía cảnh sát tên và địa chỉ của sáu mươi ba người, kể cả trọng tài và người thi đấu có mặt tại buổi thi đấu không công khai vào chủ nhật tại câu lạc bộ Metropolitan.
(Xem bài phân tích chuyên sâu trong số báo chủ nhật tuần sau mang tên: "Antony Fiske, cuộc đời một kiện tướng".)
Vậy là bí mật đã được tiết lộ và ban điều tra án mạng New York đã nhúng mũi vào vụ này. Tôi hồi hộp khi biết tên mình giờ đang nằm trong tay lực lượng cảnh sát Manhattan nhưng nhẹ nhõm vì họ không thể làm gì tôi, trừ phi dẫn độ tôi từ Bắc Phi về. Tôi tự hỏi Lily có thoát được cuộc thẩm tra luôn không. Còn Solarin thì chắc chắn không thể tránh. Để biết thêm về hoàn cảnh anh ta, tôi lật sang trang A6.
Tôi ngạc nhiên khi thấy "bài phỏng vấn độc quyền" dài hai cột bên dưới cái tít giật gân TAY CỜ XÔ VIẾT PHỦ NHẬN CÓ DÍNH LÍU ĐẾN CÁI CHẾT CỦA KIỆN TƯỚNG NGƯỜI ANH. Tôi chẳng thèm quan tâm đến những đoạn tâng bốc miêu tả Solarin nào là "có sức hút", nào là "bí ẩn", tóm tắt sự nghiệp sóng gió của anh ta và vụ triệu hồi đột ngột từ Tây Ban Nha. Phần chính của bài phỏng vấn cho tôi nhiều thông tin hơn cả mong đợi.
Đầu tiên, không phải Solarin phủ nhận sự liên can. Đến bây giờ tôi chưa biết anh ta đã ở một mình cùng Fiske trong nhà vệ sinh chỉ vài giây trước khi xảy ra vụ ám sát. Nhưng dân Xô Viết biết và bị kích động, yêu cầu quyền đặc miễn ngoại giao và đập bàn la ó.
Solarin đã từ chối sự đặc cách (chắc chắn anh ta quen thuộc với thủ tục này) và nhấn mạnh mong muốn hợp tác với chính quyền địa phương. Khi được đặt câu hỏi có khả năng Fiske lạm dụng thuốc không, nhận xét của anh ta khiến tôi bật cười: "Chẳng lẽ John (Hermanold) có thông tin nội bộ à ? Khám nghiệm tử thi cho thấy thi thể nạn nhân không chứa chất kích thích". Việc đó cho thấy Hermanold hoặc là kẻ nói dối hoặc là tên cung cấp thuốc.
Nhưng khi đọc đến phần Solarin thuật lại vụ án mạng thực tế, tôi sửng sốt. Qua lời khai của anh ta, gần như không cách nào có ai khác có thể vào trong nhà vệ sinh giết chết Fiske ngoại trừ chính anh ta. Không có thời gian, và không có cơ hội, vì Solarin và ban trọng tài đã chặn lối thoát duy nhất. Giờ tôi thấy ước gì mình biết thêm nhiều chi tiết về hiện trường vụ án để lập giả thuyết trước khi rời New York, vẫn có thể nếu tôi liên lạc với Nim. Anh ta có thể đi vào câu lạc bộ và xem xét kỹ lưỡng nơi đó giùm tôi.
Trong khi đó tôi đang trở nên lơ mơ: đồng hồ sinh học của tôi cho biết hiện ở New York là bốn giờ chiều, và tôi đã không ngủ hai mươi bốn tiếng. Lấy chìa khóa phòng và bức thư khỏi cái khay, tôi quay ngược ra ngoài và bước xuống các bậc thang đi vào vườn. Ở bức tường gần đó tôi tìm thấy cây cúc bạch ngào ngạt hương thơm với tán cây đen bóng, nhô cao hơn hẳn trong vườn. Những đóa hoa có bề mặt như sáp, mang hình dáng cây kèn giống như hoa loa kèn lộn ngược trong lễ Phục sinh, xòe ra dưới ánh trăng tỏa mùi hương nồng nàn, ngây ngất.
Tôi bước vài bước tới phòng và mở cửa. Đèn đã bật sáng sẵn. Đó là một căn phòng rộng có sàn bằng đất nung, tường trát vữa, và cánh cửa sổ kiểu Pháp lớn nhìn ra bieen phía xa sau cây cúc bạch. Có khăn trải giường bằng len dày như lông cừu, một tấm thảm nhỏ cùng chất liệu, và vài đồ đạc rải rác.
Trong phòng tắm có một cái bồn tắm lớn, một chậu rửa mặt, một nhà vệ sinh và một bồn cầu. Không có vòi hoa sen. Tôi mở vòi, và dòng nước đo đỏ chảy ra. Tôi để nước chảy vài phút nhưng nó vẫn không đổi màu hay ấm hơn. Tuyệt. Tắm trong nước đá lạnh có chứa gỉ sắt sẽ vui lắm đây.
Để nước chảy, tôi trở vào phòng ngủ và mở tủ. Tất cả quần áo của tôi đã được lấy ra và sắp xếp ngay ngắn vào trong, túi xách chất dưới đáy tủ. Tôi nghĩ ở đây họ có vẻ thích lục lọi hành lý của khách. Nhưng tôi không cất giấu vật cần giữ kín trong một cái vali. Tôi học được bài học về cặp xách.
Cầm điện thoại lên, tôi nối máy với nhân viên trực tổng đài của khách sạn và cho anh ta số máy của Nim ở New York. Anh ta nói sẽ gọi lại khi kết nối được. Tôi lấy quần áo và trở vào nhà tắm, giờ nước đã ngập lên ba insơ. Thở dài, tôi bước vào bể nước đục ngầu kinh khiếp và ngâm mình nhẹ nhàng hết mức có thể. Chuông điện thoại reo khi tôi đang rửa sạch bọt xà bông khỏi người. Quấn cái khăn tắm sờn chỉ quanh người, tôi vất vả lê vào phòng ngủ và nhấc điện thoại.
"Tôi lấy làm tiếc, thưa cô, nhân viên tổng đài lên tiếng, "nhưng số máy của cô không trả lời".
"Sao lại không trả lời ?" tôi muốn biết. "Giờ ở New York là ban ngày. Đây là số công ty", Vả lại, máy tính của Nim kết nối hai mươi bốn trên hai mươi bốn.
"Không, thưa cô, thành phố không trả lời ! ». «Ê ! Thành phố gì ? Thành phố New York không trả lời à ?" Họ không thể xóa sạch nó khỏi bản đồ chỉ trong một ngày từ khi tôi rời khỏi. "Anh đùa chắc. Có đến mười triệu người ở New York !"
"Có lẽ nhân viên tổng đài đi ngủ rồi, thưa cô, anh ta đáp với lý do trơ tráo. "Hay, vì còn quá sớm, có lẽ cô ta đã đi ăn tối”. Chào mừng đến Algérie, tôi thầm nghĩ. Cảm ơn người trực tổng đài, tôi gác máy và đi khắp phòng tắt đèn. Sau đó tôi đi đến khung cửa sổ lớn kiểu Pháp và mở toang cửa để mùi hương nồng nàn của cây cúc bạch tràn ngập khắp phòng.
Tôi đứng quan sát sao trên biển. Nhìn từ đây chúng có vẻ tách biệt và hờ hững như những viên đá đính vào bộ trang phục của màn đêm buồn bã. Và tôi cũng cảm thấy sự tách biệt của chính mình, tôi đã cách xa biết bao những con người, những thứ tôi thân quen. Làm thế nào tôi có thể hòa nhập vào một thế giới khác mà thậm chí tôi còn không cảm thấy được nó.
Cuối cùng tôi trở vào trong, trèo lên tấm khăn trải giường bằng vải lanh ẩm ướt và thả lỏng người để ngủ, nhìn những ngôi sao lơ lửng trên bờ biển của lục địa Châu Phi.
Khi tôi nghe âm thanh đầu tiên và mở mắt trong bóng tối, tôi nghĩ mình đang mơ. Mặt đồng hồ dạ quang cạnh giường chỉ mười hai giờ hai mươi phút khuya. Nhưng căn hộ ở New York của tôi không có đồng hồ. Từ từ tôi nhận ra mình đang ở đâu và định xoay mình ngủ tiếp thì lại nghe âm thanh đó, ngay ngoài cửa sổ: tiếng lách cách chầm chậm của kim loại trên bánh răng xe đạp.
Ngốc thật, tôi đã để mở cánh cửa sổ ngó ra biển. Ở đó, ẩn náu trong bụi cây và ánh trăng chiếu vào sau lưng là bóng hình người đàn ông, một tay để trên ghi-đông xe đạp. Hóa ra không phải do tôi tưởng tượng !
Tim tôi đang đập thình thịch dữ dội từng tiếng khi tôi lặng lẽ tụt xuống phía bên kia giường và hạ thấp nửa người bò tới cửa sổ để đóng sầm nó lại. Tôi nhanh chóng nhận ra có hai vấn đề. Thứ nhất tôi không biết chốt khóa cửa sổ nằm đâu (nếu cửa sổ có chốt khóa !) và thứ hai, tôi chưa mặc đồ gì hết. Chết tiệt. Giờ quá muộn để nghênh ngang đi khắp phòng tìm quần áo. Tôi sang bên kia, áp sát người vào tường và cố tìm chốt cửa để đóng sập cái thứ quái quỷ này.
Ngay lúc đó tôi nghe tiếng sỏi lạo xạo trong khi bóng người bên ngoài tiến về phía cửa sổ, dựng xe đạp dựa vào tường phía ngoài.
"Tôi không hình dung ra cô khỏa thân khi ngủ", anh ta thì thầm. Một giọng Nga nhẹ nhàng không nhầm lẫn vào đâu được.
Chính là Solarin. Tôi cảm thấy thẹn thùng, nóng bừng khắp người trong bóng tối. Gã khốn.
Anh ta đang bỏ chân qua ngưỡng cửa sổ. Chúa ơi, anh ta đang vào trong này ! Thở hổn hên, tôi chạy như bay tới giường, giật phăng tấm khăn trải giường và trùm nó lên quanh người.
"Anh đang làm cái quái gì ở đây ?" tôi hét lên khi anh ta trèo vào phòng, đóng cửa sổ và khóa lại.
"Cô không thấy mảnh giấy tôi để lại à ?" anh ta hỏi, đóng cửa chớp và đi về phía tôi trong bóng tối.
"Anh có khái niệm giờ là mấy giờ không ?" tôi đang lảm nhảm trong lúc anh ta tiến đến gần hơn. "Sao anh đến đây được ? Hôm qua anh còn ở New York mà..
"Cũng như cô thôi", Solarin đáp, bật đèn lên. Anh ta nhìn tôi từ trên xuống dưới, nhe răng cười toe toét và tự tiện ngồi xuống mép giường như thể anh ta là chủ nhân nơi này. "Nhưng giờ cả hai ta đều ở đây. Một mình. Trong khung cảnh bờ biển thơ mộng. Quá lãng mạn, cô không thấy sao ?" Đôi mắt xanh lấp lánh của anh ta rực sáng trong ánh đèn.
"Lãng mạn !" tôi nổi đóa, nghiêm nghị kéo sửa lại tấm khăn trải giường trên người. "Tôi không muốn anh ở gần tôi ! Mỗi lần tôi gặp anh thể nào cũng có người bị giết..."
"Cẩn thận", anh ta nói, "tai vách mạch rừng. Mặc đồ vào đi. Tôi sẽ đưa cô đến nơi chúng ta có thể nói chuyện".
"Chắc anh điên rồi", tôi nói. "Tôi không đặt chân ra khỏi nơi này, nhất là càng không đi với anh ! Và thêm..." Nhưng anh ta đứng dậy và nhanh chóng đi đến bên tôi, nắm phía trước tấm khăn trên người tôi trong một tay như thể anh ta sắp lột trần tôi ra. Anh ta cúi nhìn tôi với nụ cười nhăn nhở.
"Đi mặc quần áo, hay chính tôi sẽ mặc cho cô”, anh ta nói.
Tôi cảm giác máu dồn lên nghẹn họng. Tôi gỡ tay anh ta ra và hết sức đường hoàng bước đến tủ quần áo, vớ lấy vài món đồ. Sau đó tôi bối rối gấp rút vào phòng tắm thay đồ. Thật sự tôi tức điên khi đóng sầm cửa lại. Gã khốn đó nghĩ hắn có thể xuất hiện bất cứ ở đâu, không cho tôi ngủ, và hù dọa... Giá mà hắn không có vẻ ngoài đẹp đẽ đến thế.
Nhưng anh ta muốn gì ? Tại sao anh ta bám theo tôi như vậy, đi cả nửa vòng thế giới chứ chẳng chơi ? Và tôi tự hỏi anh ta làm gì với chiếc xe đạp kia ?
Tôi mặc quần jean và áo len dài tay màu đỏ, mang đôi giày vải bạt sờn cũ. Khi tôi bước ra, Solarin đang ngồi trên tấm khăn trải giường nhàu nát, chơi cờ trên bàn cờ vua bỏ túi của Lily mà chắc chắn anh ta đã tìm thấy bằng cách lục hành lý của tôi. Anh ngước lên và mỉm cười.
"Ai thắng ?" tôi hỏi
"Tôi", anh ta nghiêm nghị nói. "Tôi luôn luôn thắng". Anh ta đứng dậy, liếc nhìn lần nữa vị trí quân mình trên bàn cờ rồi đi qua tủ đồ lấy ra cái áo khoác, cầm nó để tôi mặc vào.
"Cô trông rất đẹp", anh ta nói. "Không quyến rũ như khi nãy nhưng thích hợp hơn cho một chuyến đi dạo dọc bãi biển vào nửa đêm".
"Anh họa điên mới nghĩ tôi sẽ cùng anh cuốc bộ trên bãi biển vắng tanh".
"Không xa lắm", anh ta nói, phớt lờ tôi. "Tôi đưa cô xuống bãi biển đến một quán rượu. Họ có trà bạc hà và tiết mục múa bụng. Cô sẽ thích, cô bạn thân mến. Ở Algeria, phụ nữ phải che mặt nhưng những vũ công múa bụng lại là nam giới !"
Tôi lắc đầu và theo anh ta ra cửa. Anh ta tịch thu chìa khóa của tôi, khóa cửa rồi bỏ nó luôn vào túi.
Ánh trăng sáng vằng vặc làm tóc Solarin óng ánh bạc và biên mắt anh trở nên mờ ảo. Chúng tôi thả bộ dọc con đường hẹp và nhìn ngắm bờ biển lấp lánh uốn lượn chạy dài xuống Algiers. Những con sóng nhẹ nhàng liếm vào bãi cát.
"Cô đọc tờ báo tôi gửi chưa ?" anh ta hỏi.
"Anh gửi ư ? Nhưng tại sao ?"
"Tôi muốn cô biết họ phát hiện Fiske bị giết. Đúng như tôi đã nói với cô”.
"Cái chết của Fiske không liên quan gì đến tôi", tôi nói, giũ cát ra khỏi giày.
"Tất cả đều liên quan đến cô, như tôi vẫn đã nói mãi với cô. Cô nghĩ tôi đi sáu ngàn dặm chỉ để nhìn trộm cửa sổ phòng ngủ của cô sao ?" anh ta hơi mất kiên nhẫn. "Tôi đã nói rằng cô gặp nguy hiểm. Vốn tiếng Anh của tôi không lưu loát mấy nhưng có vẻ tôi nói còn rõ ràng hơn việc cô hiểu".
"Người duy nhất có vẻ gặp nguy là anh", tôi ngắt lời. "Sao tôi biết không phải anh giết Fiske ? Lần cuối cùng tôi thấy anh, nếu anh nhớ, anh đánh cắp cặp xách của tôi và bỏ tôi lại với thi thể người tài xế của bạn tôi. Làm thế nào tôi biết cũng không phải anh đã giết Saul và đang dụ tôi vào bẫy ?"
'Tôi đã giết Saul", Solarin thản nhiên đáp. Khi tôi đứng chết lặng trên bãi cát, anh ta nhìn mặt tôi với vẻ tò mò. "Không tôi thì còn ai vào đây ?"
Tôi dường như không thốt được nên lời. Chân tôi như mọc rễ cắm xuống đất và máu trong người tôi đông cứng lại. Tôi đang tản bộ trên bãi biển hoang vắng cùng một kẻ sát nhân.
"Cô nên cảm ơn tôi", Solarin đang lên tiếng, "vì đã lấy đi cặp xách của cô. Nó có thể khiến cô dính líu đến cái chết của ông ta. Tôi đã cố gắng hết sức trả nó lại cho cô.
Thái độ của anh ta làm tôi tức điên. Tôi vẫn nhớ như in khuôn mặt trắng bệch của Saul trên phiến đá, và giờ tôi biết Solarin đã đặt ông ta nằm đó.
"Được, cảm ơn rất nhiều", tôi kêu lên trong cơn thịnh nộ. "Ý anh là cái quái gì, anh đã giết Saul à ? Sao anh có thể đưa tôi ra đây và nói tôi rằng anh đã giết chết một người đàn ông vô tội ?"
"Nhỏ tiếng đi", Solarin nói, nhìn tôi bằng ánh mắt nghiêm khắc và bấu chặt cánh tay tôi, "Chả lẽ cô thích thấy ông ta giết tôi hơn hả ?"
"Saul ư ?" tôi nói cùng âm thanh tôi hy vọng là tiếng khịt mũi thô bỉ. Tôi gạt tay anh ta ra và bắt đầu quay lưng đi trở về nhưng Solarin lại tóm lấy tôi và xoay tôi lại.
"Như người Mỹ các cô nói, bảo vệ cô là bắt đầu trở thành kẻ phiền phức", anh ta nói.
"Tôi không cần bất cứ sự bảo vệ nào, cảm ơn", tôi đốp chát lại. "Không cần tí nào từ những tên sát nhân. Thế nên về nói với kẻ đưa anh..."
"Nghe này", Solarin hung dữ nói. Rồi anh ta để tay lên vai tôi. Anh ta đang chà xát vai tôi với chuyển động như hàm răng nghiến chặt, nhìn chằm chằm lên mặt trăng và hít sâu. Đếm từ một đến mười, chắc vậy.
"Nghe này", anh ấy dịu giọng hơn. "Nếu tôi nói với cô rằng chính Saul đã giết Fiske thì sao ? Rằng chính tôi là người duy nhất biết chuyện đó, và đây là lý do Saul theo dõi tôi thì sao ? Vậy cô lắng nghe tôi tiết lộ chứ ?"
Đôi mắt xanh mờ mờ của anh ta nhìn vào mắt tôi dò xét, nhưng tôi không thể nghĩ gì. Đầu óc tôi rối bời. Saul là một kẻ giết người sao ? Tôi nhắm mắt lại và cố nghĩ, nhưng vẫn không ra được điều gì.
"Được, nói coi", tôi nói, thoáng thấy lỡ lời. Solarin mỉm cười với tôi. Thậm chí dưới ánh trăng, nụ cười của anh ta cũng thật rạng rỡ.
"Vậy chúng ta sẽ phải đi dạo", anh ta nói, vẫn để một tay lên vai tôi và hướng tôi đi tiếp dọc bãi biển. "Tôi không thể suy nghĩ, nói năng, chơi cờ khi ở yên một chỗ". Chúng tôi lặng im đi tiếp chừng vài phút trong lúc anh ta tập trung tư tưởng.
"Tôi nghĩ tốt hơn nên bắt đầu lại từ đầu", cuối cùng Solarin lên tiếng. Tôi chỉ gật đầu để anh ta nói tiếp.
"Trước hết, cô nên hiểu tôi không hứng thú với giải đấu cờ vua mà cô thấy tôi tham gia. Nó được chính phủ nước tôi sắp đặt, kiểu như một vỏ bọc để tôi đến New York, nơi tôi có nhiệm vụ khẩn cấp phải thực hiện".
"Nhiệm vụ gì ?" tôi hỏi.
"Chúng ta sẽ nói sau". Cả hai đang thả bộ dọc bãi cát, đá tung bọt sóng thì Solarin bất chợt cúi xuống nhặt lên một vỏ ốc nhỏ chôn mình một phần trong cát. Nó rực sáng màu trắng sữa dưới ánh trăng.
"Sự sống tồn tại khắp nơi", anh ta ngâm nga, đưa tôi chiếc vỏ ốc mỏng manh. "Ngay cả sâu tận dưới đáy biển. Và khắp nơi mầm sống ấy bị hủy hoại bởi sự ngu dại của con người".
"Vỏ ốc đó không chết vì bị gãy cổ", tôi lưu ý anh ta. "Anh có phải kiểu sát thủ chuyên nghiệp không ? Sao anh có thể ở cùng một người đàn ông trong năm phút và sát hại ông ta ?" tôi lấy hết sức ném vỏ ốc vào sóng biển. Solarin thở dài và chúng tôi đi tiếp.
"Khi tôi nhận ra Fiske gian lận ở giải đấu", một lúc sau anh ta mới nói tiếp, giọng hơi căng thẳng, "tôi muốn biết ai xui khiến ông ta làm vậy, và tại sao".
Vậy Lily đã đúng về chuyện đó, tôi nghĩ thầm. Nhưng tôi không nói gì cả.
'Tôi đoán có kẻ đứng sau vụ này nên tôi dừng trận đấu và theo đuôi ông ta đến nhà vệ sinh. Ông ta đã thú nhận, và hơn thế nữa. Ông ta nói tôi biết người đứng sau. Và lý do làm vậy".
"Ai là kẻ đứng sau ?"
"Ông ta không nói thẳng ra. Chính ông ta cũng không biết. Nhưng ông ấy nói với tôi những người đe dọa ông ấy biết tôi sẽ có mặt ở giải đấu. Chỉ có một người biết tôi sẽ tham gia: người mà chính phủ nước tôi đã dàn xếp. Nhà tài trợ giải đấu. . ." "Hermanold !" tôi kêu lên.
Solarin gật đầu và nói tiếp. "Fiske cũng nói với tôi rằng Hermanold, hay đầu mối liên lạc của ông ấy, săn lùng công thức tôi đã cá cược giỡn chơi trong trận đấu ở Tây Ban Nha. Tôi nói nếu ai thắng tôi, tôi sẽ cho người ấy công thức bí mật - và những kẻ ngốc này nghĩ rằng chuyện đó vẫn có thực, quyết định đưa Fiske vào đọ sức với tôi theo kế sách không làm ông ta thua được. Nếu có gì trục trặc trong trận đấu của Fiske và tôi, tôi tin rằng Hermanold sẽ dàn xếp gặp ông ấy tại phòng vệ sinh nam của Câu lạc bộ Canada, nơi họ sẽ không bị bắt gặp..
"Nhưng Hermanold không dự định gặp ông ta ở đó", tôi đoán.
Những miếng ghép đang ráp lại với nhau nhưng tôi vẫn chưa thấy bức hình hoàn chỉnh. "Ông ta thu xếp cho một người khác gặp Fiske, đó là điều anh đang nói. Một người sẽ không bị xem là vắng mặt trong trận đấu, phải không ?"
“Chính xác", Solarin đồng ý. "Nhưng họ không ngờ rằng tôi theo dõi Fiske đến đó. Tôi bám sát gót khi ông ấy vào trong đó. Tên sát nhân ẩn nấp trong hành lang bên ngoài, hẳn đã nghe hết từng câu từng lời chúng tôi nói chuyện. Đến lúc đó quá muộn để đe dọa Fiske. Mưu đồ đã lộ tẩy. Ông ta phải bị kết liễu, ngay lập tức".
"Kết luận quá thành kiến", tôi nói. Tôi đưa mắt nhìn bãi biển tối mịt và nghĩ ngợi về điều đó. Chuyện ấy khả thi, chí ít về mặt chiến thuật. Và tôi nắm được vài thứ trong tay mà Solarin không thể biết được. Chẳng hạn như Hermanold đã không ngờ rằng Lily đến xem ván đấu vì cô ấy chưa bao giờ làm vậy. Nhưng khi Lily và tôi đến câu lạc bộ, Hermanold đã nài ép cô ấy ở lại, ông ấy trở nên hốt hoảng khi cô ấy dọa sẽ bỏ về (với chiếc xe và tài xế). Hành động của ông ta có thể giải thích theo một cách nữa, rằng ông ta đang trông mong Saul thực hiện vài việc. Nhưng tại sao lại là Saul ? Có lẽ Saul biết về cờ vua nhiều hơn tôi nghĩ. Có lẽ ông ấy đã ngồi ngoài chiếc Limousine, truyền tín hiệu nước cờ cho Fiske ! Nếu đúng là vậy, tôi đã thực sự biết được bao nhiêu về người tài xế của chú Harry ?
Giờ Solarin đang cung cấp cho tôi tất cả các chi tiết - làm thế nào anh ta để ý trước tiên đến chiếc nhẫn Fiske đeo, làm thế nào anh ta theo ông ấy vào nhà vệ sinh nam bên kia đường, làm thế nào anh ta biết đầu mối liên lạc của Fiske ở Anh và họ theo đuổi vật gì. Làm thế nào anh ta phóng như bay khỏi căn phòng khi Fiske tháo chiếc nhẫn ra, nghĩ nó chứa chất nổ. Mặc dù anh ta biết Hermanold đứng sau dàn xếp sự xuất hiện của Fiske tại giải đấu nhưng không thể là chính Hermanold giết Fiske và lấy chiếc nhẫn khỏi chậu rửa. Ông ta không thể rời khỏi Câu lạc bộ Metropolitan vì tôi đã ở cùng ông ta tại đó.
"Saul không có trong xe Limousine khi Lily và tôi trở ra", tôi miễn cưỡng thừa nhận. "Ông ta có cơ hội, dù tôi không hiểu động cơ của ông ta có thể là gì. Thật ra, dựa trên sự mô tả các sự kiện của anh, ông ta không có cơ hội ra khỏi Câu lạc bộ Canada và trở vào xe, vì anh và ban trọng tài đã chặn lối thoát duy nhất. Điều đó có thể giải thích sự vắng mặt của ông ta khi Lily và tôi cất công tìm kiếm". Tôi nghĩ điều đó có thể lý giải nhiều hơn chút nữa. Nó giải thích những viên đạn bắn vào xe chúng tôi.
Nếu câu chuyện của Solarin có căn cứ và Hermanold đã thuê Saul khử Fiske thì ông ta không đời nào đồng ý cho Lily và tôi trở vào câu lạc bộ lùng kiếm người tài xế. Nếu ông ta đi lên phòng thi đấu và trông thấy hai chúng tôi do dự đứng cạnh xe thì ông ta buộc phải làm gì đó để dọa chúng tôi bỏ đi.
"Vậy chính là Hermanold đi lên cầu thang đến phòng thi đấu trong khi không có ai ở đó, lấy súng ra và bắn vào xe chúng tôi !" tôi kêu lên, chộp lấy cánh tay Solarin. Anh ta đang ngạc nhiên nhìn tôi chằm chằm, tự hỏi sao tôi có thể đi đến kết luận đó.
"Điều đó cũng sẽ giải thích tại sao Hermanold nói với cánh báo chí rằng Fiske là một kẻ nghiện ngập", tôi nói thêm. "Việc đó sẽ chuyển hướng sự chú ý đi khỏi ông ta và dẫn đến một kẻ buôn ma túy vô danh nào đấy !" Solarin bắt đầu bật cười.
"Tôi biết có một người tên Brodski sẽ rất muốn tuyển dụng cô, anh ta nói. "Đầu óc cô thích hợp với công việc hoạt động tình báo. Hiện cô biết tất cả mọi thứ tôi biết rồi đấy, đi uống chút gì thôi".
Tít xa ở khúc quanh dài của bãi biển, giờ tôi có thể nhận ra một căn lều rộng dựng trên cát, hình dáng của nó được viền bằng những chùm đèn lấp lánh.
"Không chặt chẽ lắm", tôi nói, vẫn nắm cánh tay anh ta. "Giả sử Saul đã khử Fiske thì vẫn còn vài vấn đề chưa sáng tỏ. Công thức anh có tại Tây Ban Nha mà anh quả quyết họ cực kỳ muốn lấy là gì ? Anh đến New York vì nhiệm vụ gì ? Và làm thế nào Saul bị giết tại trụ sở Liên Hiệp Quốc ?"
Căn lều sọc đỏ trắng lù lù hiện ra trên bãi biển, cột cắm giữa lều có lẽ cao đến ba mươi foot, ở lối vào có hai cây cọ lớn được đặt trong chậu đồng và một tấm thảm cuộn xanh vàng dày được trải ra đến ngoài bãi cát, phía trên có mái che bằng vải bạt mềm rủ hướng mặt ra biển. Chúng tôi hướng đến lối vào.
"Tôi có cuộc hẹn vì công việc với một đầu mối liên lạc tại trụ sở Liên Hiệp Quốc", Solarin nói. "Tôi không nhận thấy Saul theo đuôi tôi - đến khi cô đi giữa hai chúng tôi".
"Vậy anh là gã trên chiếc xe đạp !" tôi thốt lên. "Nhưng trang phục của anh...”
"Tôi gặp người liên lạc", anh ta ngắt lời. "Bà ấy trông thấy cô đi theo tôi và Saul đi ngay sau cô..." (Vậy ra bà già với mấy con bồ câu là người liên lạc "vì công việc" của anh ta !) "Chúng tôi kích động đàn bồ câu để ngụy trang", Solarin nói tiếp, "và tôi núp xuống những bậc thang phía sau trụ sở Liên Hiệp Quốc đến khi cô qua mặt tôi. Sau đó tôi quay ngược lại để đi sau Saul. Ông ta vào trong tòa nhà nhưng tôi không chắc ở đâu. Tôi cởi đồ trong thang máy khi đi xuống vì tôi có trang phục khác ở bên dưới. Khi tôi trở lên thì trông thấy cô vào Phòng Suy ngẫm. Tôi không biết Saul đã ở trong đó, lắng nghe hết mọi chuyện chúng ta nói".
"Trong Phòng Suy ngẫm ư ?" tôi kêu lên. Giờ chúng tôi chỉ còn cách căn lều vài thước, mặc quần jean áo len và trông khá tồi tàn. Nhưng khi chúng tôi đi lên phía trước như thể cả hai đến El Morocco bằng xe Limousine.
"Cô bạn thân mến", Solarin nói, vuốt tóc tôi như Nim đôi khi vẫn làm, "cô ngây thơ quá. Tuy cô có thể không hiểu những cảnh báo tôi đưa ra cho cô nhưng Saul tuyệt đối chắc chắn đã hiểu hết. Khi cô đi khỏi và ông ta từ sau phiến đá đó bước ra tấn công tôi thì tôi biết ông ấy đã biết được rằng cuộc đời của cô cũng sẽ gặp nguy hiểm. Tôi lấy cặp xách của cô để đồng bọn ông ta không biết cô đã ở đó. Sau đó người liên hệ của tôi để lại cho tôi mảnh giấy ở khách sạn, nói tôi biết làm thế nào để trả lại nó cho cô”.
"Nhưng làm sao bà ta biết”, tôi mở miệng.
Solarin mỉm cười và lại vuốt tóc tôi khi người gác cửa đi tới chào đón cả hai. Solarin bo cho ông ta tờ một trăm đina. Cả ông ta và tôi đều tròn mắt. Ở một đất nước mà khi bo năm mươi xu đã là hào phóng thì rõ ràng chúng tôi trở thành thượng khách ở đây.
"Trong thâm tâm, tôi là một nhà tư bản", Solarin thì thầm vào tai tôi khi chúng tôi theo sau người gác cửa đi qua cửa lều và vào trong một quán rượu rộng lớn.
Toàn bộ sàn trải thảm rơm ngay trên cát xa hết tầm mắt. Bên trên là những tấm thảm Ba Tư lớn màu sắc sặc sỡ xếp đặt rải rác với những cái gối tròn trĩnh hệt nhau thêu kiểu dáng nổi bật. Ngăn cách những cái bàn là tập hợp nhiều hàng cọ dày màu mỡ trong chậu, trộn lẫn những khóm lông công và đà điểu bóng mượt lung linh trong ánh sáng dịu nhẹ. Đèn lồng bằng đồng rải khắp với những kiểu dáng tháo rời đung đưa đây đó từ cọc lều, ánh sáng hắt ra từ những hoa văn trang trí hình dáng kỳ lạ bao trùm lên khắp những cái gối hệt nhau lấp lánh. Giống như bước vào kính vạn hoa.
Ở giữa là một sân khấu hình tròn lớn có đèn chiếu và một nhóm nhạc sĩ đang chơi một loại nhạc mê loạn, điên cuồng theo kiểu tôi chưa từng nghe thấy trước đây. Dàn trống hình bầu dục dài bằng đồng, những cây kèn túi lớn làm bằng da động vật với lông thú vẫn còn bám trên đó, ống sáo, kèn clarinet, và chuông hòa âm đủ loại. Các nhạc sĩ nhảy múa khắp nơi, di chuyển vòng quanh kỳ lạ theo tiếng nhạc trong khi chơi nhạc cụ.
Solarin và tôi ngồi trong chồng đệm dày gần một cái bàn mạ đồng ngay trước sân khấu. Âm nhạc vang to khiến tôi không thể hỏi anh ta câu nào, vì thế tôi ngồi trầm tư ngẫm nghĩ lại mọi chuyện trong khi anh ta hét to tên thức uống vào tai một người phục vụ đi ngang qua.
Công thức Hermanold muốn là gì ? Bà già với đàn bồ câu là ai, và làm thế nào bà ta biết Solarin có thể tìm tôi ở đâu để trả lại cặp xách ? Nhiệm vụ Solarin cần làm ở New York là gì ? Nếu lần cuối cùng Saul được nhìn thấy là ở trên phiến đá thì làm sao ông ta trôi ra tận sông Đông ? Và cuối cùng, tất cả chuyện này liên quan gì đến tôi ?
Thức uống của chúng tôi được mang ra đúng lúc ban nhạc nghỉ giải lao. Hai ly rượu Amaretto nhỏ, ấm nồng như rượu mạnh, có thêm một ấm trà vòi dài. Người phục vụ rót trà vào chiếc ly nhỏ đặt cách xa trên một đĩa lót nhỏ. Chất lỏng bốc khói rơi giữa không trung từ vòi ấm đến ly mà không đổ tràn một giọt nào. Khi người phục vụ đi khỏi, Solarin nâng cốc trà bạc hà uống mừng với tôi.
"Vì trò chơi", anh ta nói - với một nụ cười khó hiểu.
Người tôi lạnh toát. "Tôi không hiểu anh đang nói gì", tôi nói dối, cố nhớ điều Nim đã nói về việc chuyển mỗi đợt tấn công thành lợi thế. Anh ta biết gì về trò chơi quỷ quái này ?
"Tất nhiên cô hiểu, cô bạn thân mến ạ", anh ta bình thản nói, đưa ly lên vành môi tôi; "Nếu cô không biết, tôi đã không ngồi đây uống nước với cô”.
Khi thứ nước màu vàng kia chảy xuống cổ họng, một ít rớt xuống cằm tôi. Solarin mỉm cười và chùi nó bằng một ngón tay, đặt cái ly trở vào khay. Anh ta không nhìn tôi nhưng đầu anh ta gần tôi đến nỗi tôi có thể nghe thấy từng lời anh ta thì thầm.
"Trò chơi nguy hiểm nhất có thể hình dung", anh ta nói thầm, khẽ đến nỗi không ai có thể nghe lỏm chúng tôi, "và chúng ta đã được chọn, mỗi chúng ta, đóng những vai trò..."
"Được chọn, ý anh là sao ?" tôi nói, nhưng trước khi anh ta có thể trả lời, âm thanh nhạc cụ gõ và trống định âm vang lên khi những nhạc sĩ trở lên sân khấu.
Theo sau họ là một nhóm nhỏ những nam vũ công trong trang phục áo nhung thắt ngang lưng màu xanh nhạt như người Cô-dắc, quần nhét vào giầy bốt và vẽ hoa ở đầu gối. Quanh eo là những sợi dây xoắn chặt với tua rua ở cuối đung đưa từ hông và lắc lư khi họ bước quanh theo nhịp điệu chậm rãi, lạ lùng. Âm nhạc cất lên, lả lướt và bay bổng từ kèn clarinet và ống sáo bằng sậy, như giai điệu gọi rắn hổ mang nhổm lên, như một cái cột cứng và lắc lư từ cái giỏ.
"Cô thích không ?" Solarin thì thầm vào tai tôi. Tôi gật đầu quả quyết.
"Đó là âm nhạc vùng Kabyle", anh ta nói với tôi khi tiếng nhạc kết lại thành hình quanh chúng tôi. "Từ dãy núi Atlas cao vợi âm nhạc thâm nhập Algeria và Morocco. Người vũ công ở giữa này, cô thấy anh chàng tóc vàng mắt xanh xám không ? Và cái mũi như diều hâu, cằm bạnh như hình trên đồng tiền La Mã cổ. Đây là những khác biệt của âm nhạc Kabyle, không giống ở Bédouin.. “
Một phụ nữ lớn tuổi hơn đứng dậy từ hàng ghế khán giả và nhảy múa đi lên sân khấu khiến đám đông rất thích thú, tán thưởng bằng những tràng huýt sáo, trong bất kỳ ngôn ngữ nào hẳn cũng cùng ý nghĩa cổ vũ. Không kể đến tác phong cao quý, áo choàng xám dài và mạng che mặt làm bằng vải lanh cứng, bà ta di chuyển với bước đi nhẹ nhàng và phô bày sự gợi tình khó mà không thu hút các vũ công nam. Họ nhảy quanh bà, lắc hông nhún nhảy làm tua rua ảo chạm vào bà lẹ làng như mơn trớn.
Khán giả kích động với màn trình diễn này, và thậm chí còn hơn thế khi người phụ nữ tóc màu bạc đáng kính nhảy lượn lờ đến người vũ công chính, rút vài tờ giấy bạc lẻ khỏi nếp gấp áo choàng và kín đáo nhét nhanh vào giữa dây thắt lưng khá gần chỗ háng. Để phục vụ vị khán giả, anh ta đưa ánh mắt khêu gợi hướng lên trần nhà với nụ cười toe toét.
Mọi người đứng cả dậy, vỗ tay như điên hòa theo tiếng nhạc dâng tràn lên khi người phụ nữ nhảy đến lề sân khấu bằng những bước vòng quanh. Ngay tại gờ bục, với ánh sáng phía sau, bàn tay bà giơ cao vỗ điệu nhạc flamenco tạm biệt, bà quay lại phía chúng tôi... và tôi như hóa đá.
Tôi liếc nhanh sang Solarin, anh ta đang chăm chú nhìn tôi. Rồi tôi bật dậy ngay khi người phụ nữ, một bóng đen tương phản ánh sáng óng ánh, bước khỏi sân khấu và chìm vào bóng tối hỗn độn, trà trộn vào đám đông, những chùm lông đà điểu, và lá cọ. Những cây cọ rung rinh trong tia sáng phản chiếu lấp lánh.
Tay Solarin như cứng đờ trên cánh tay tôi. Anh ta đứng cạnh tôi, thân hình ép sát tôi.
"Để tôi đi", tôi rít lên giữa hàm răng nghiến chặt, và vài người gần đó liếc nhìn chúng tôi bất thường. "Tôi nói để tôi đi ! Anh có biết người đó là ai không ?"
"Còn cô biết không ?" anh ta nghiến răng nói lại vào tai tôi. "Đừng gây chú ý nữa !" Khi anh ta nhìn tôi vẫn còn đang chật vật, anh quàng tay qua tôi trong cái ôm xiết chặt biểu lộ sự trìu mến.
"Cô sẽ khiến chúng ta gặp nguy", anh ta đang thì thầm vào tai tôi, rất gần, gần đến nỗi tôi có thể hít được mùi bạc hà trộn lẫn với mùi quả hạnh trong hơi thở anh ta. "Gặp nguy như lúc cô đến giải đấu cờ vua đó, như lúc cô theo tôi đến trụ sở Liên Hiệp Quốc. Cô không biết bà ta mang đến hiểm họa gì khi tới đây gặp cô. Hay cô không biết trò chơi liều lĩnh nào cô đang chơi trên mạng sống những người khác đâu".
"Không !” Tôi gần như hét to, vì sức ép anh ta ghì chặt đang khiến tôi đau. Những vũ công vẫn quay cuồng trên sân khấu trong âm nhạc dữ dội, cuốn chúng tôi vào làn sóng nhịp điệu. "Nhưng đó là bà thầy bói, và tôi sẽ đi tìm bà ta !"
"Bà thầy bói ư ?" Solarin nói, trông bối rối nhưng không nới lỏng cái kẹp chặt. Đôi mắt xanh của anh ta nhìn tôi chằm chằm như biển sâu, sâu thẳm. Bất cứ ai nhìn chúng tôi đều có thể nghĩ chúng tôi là tình nhân.
"Tôi không biết bà ta đoán vận mệnh", anh ta nói, "nhưng nhất định bà ta biết về tương lai. Chính bà ta kêu gọi tôi đến New York. Chính bà ta kêu tôi theo cô đến Algiers. Chính bà ta chọn cô..."
"Chọn !" tôi nói. "Chọn tôi để làm gì ? Tôi thậm chí không biết người phụ nữ này !"
Solarin không kiềm tôi nữa, nới lỏng tay siết. Âm nhạc xoay tít quanh chúng tôi như khói bụi mù mịt của âm thanh khi anh ta nắm lấy cổ tay tôi. Cầm tay tôi lên, mở lòng bàn tay ra, anh ta ấn
môi lên phần thịt mềm ở cuối lòng bàn tay, nơi mạch máu nổi rõ nhất. Trong một giây tôi cảm thấy máu nóng dâng lên, qua tĩnh mạch. Sau đó anh ta ngẩng lên và nhìn vào mắt tôi. Đầu gối tôi hơi yếu ớt khi tôi nhìn chằm chằm trở lại anh ta.
"Nhìn xem", anh ta thì thầm lần nữa khi tôi nhìn chằm chằm cổ tay mình. Ở đó, cuối lòng bàn tay, ngay nơi động mạch chính màu xanh lớn đang nhịp nhịp, hai đường xoắn lại như hai con rắn quấn nhau tạo thành số tám.
"Cô đã được chọn để làm sáng tỏ công thức", anh ta nói nhẹ nhàng, đôi môi chỉ hơi mấp máy.
Công thức ! Tôi nín thở khi anh ta nhìn sâu vào mắt tôi. "Công thức gì ?" tôi nghe chính mình thì thầm.
"Công thức của Bộ tám..." anh ta bắt đầu, nhưng đúng ngay lúc đó anh ta cứng người, khuôn mặt lại trơ ra như mặt nạ khi liếc một lần, thật nhanh, sau vai tôi, đôi mắt anh ta tập trung vào cái gì đó phía sau tôi. Anh ta bỏ tay tôi ra và thụt lùi trong khi tôi quay lại nhìn phía sau.
Âm nhạc vẫn vang vọng nhịp điệu ban đầu, vũ công vẫn quay vòng điên cuồng kỳ lạ. Tít bên kia sân khấu, tương phản với ánh sáng lấp lánh của ngọn đèn lớn là một bóng đen đang quan sát. Khi ánh đèn chiếu theo vũ công quanh đường vòng sân khấu, trong chốc lát, nó rọi lên bóng người. Đó chính là Sharrif !
Anh ta lịch sự gật đầu với tôi một cái trước khi ánh đèn vụt qua. Tôi nhanh chóng liếc trở lại phía Solarin. Nơi Solarin mới đứng bỗng chốc chỉ còn một lá cọ vẫy nhẹ trong không trung.