Bí Ẩn Bộ Cờ Montglane

Lượt đọc: 100 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tiếng Nói Của Sa Mạc
Sa Mạc Sahara. Tháng Hai Năm 1793

❊ ❊ ❊

Mireille đứng trên hoang mạc và nhìn bao quát vùng sa mạc cát đỏ bao la. Phía nam là những cồn cát của Ez-Zemoul El Akbar, cuồn cuộn như những đợt sóng cao cả trăm foot. Từ khoảng cách này trong ánh nắng sớm, trông chúng giống những móng vuốt đỏ như máu gợn lăn tăn bãi cát.

Phía sau cô sừng sững dãy núi Atlas, vẫn phủ bóng màu tía và che khuất trong những đám mây tuyết lững lờ bao phủ. Chúng cứ ôm ấp cái sa mạc vắng tanh này - một vùng hoang vu rộng lớn hơn bất cứ thứ gì trên đời - cả trăm ngàn dặm ngập sâu toàn cát là cát mang màu gạch vỡ vụn, nơi không một bóng người ngoại trừ những tinh thể mang theo hơi thở của Chúa.

"Sahra", nó mang tên gọi đó. Miền Nam. Hoang mạc. Vương quốc của Aroubi - người Ả Rập, những người lang thang trong sa mạc.

Nhưng người đưa cô đến đây không phải một người Aroubi. Shahin có làn da trắng với mái tóc và cặp mắt màu đồng. Dân của ông ấy nói ngôn ngữ của người Berber cổ đại, tộc người đã cai trị sa mạc cằn cỗi này trong hơn năm ngàn năm. Ông nói họ đến từ những ngọn núi và hoang mạc - dãy núi đỉnh bằng uy nghi phân cách các rặng núi phía sau cô với bãi cát trải dài trước mắt. Họ đặt tên cho dãy núi đỉnh bằng này là "Areg", nghĩa là cồn cát, và họ tự gọi mình là Tou-Areg, tức những người đi đến cồn cát. Người Touareg biết bí mật cổ xưa như dòng dõi họ, một bí mật chôn kín lâu đời trong cát. Đây là bí mật Mireille đã đi trong rất nhiều tháng rất nhiều dặm, để tìm ra.

Chỉ mới một tháng kể từ cái đêm cô cùng Letizia đi đến vùng vịnh nhỏ Corsica ẩn nấp. Ở đó cô lấy một con thuyền đánh cá nhỏ băng qua biển động mùa đông sóng cuộn để đến Châu Phi, nơi người dẫn đường Shahin - Chim ưng - chờ tại bên tàu Dar-el-Belda rồi đưa cô vào Maghreb. Ông ấy khoác tấm vải choàng dài màu đen của người Hồi giáo, khuôn mặt che phủ trong tấm mạng hai lớp màu chàm, qua lớp mạng đó ông nhìn thấy người khác nhưng lại không có ai thấy được ông. Bởi lẽ Shahin là một trong những "Người Xanh" thuộc bộ tộc thần thánh của Ahaggar, tuân theo quy định chỉ có đàn ông mới che mặt chống lại gió sa mạc và nhuộm da thành màu xanh đáng sợ. Dân du cư gọi giáo phái đặc biệt này là Maghribi, tức những pháp sư, người có thể trải ra những bí mật của Maghreb, vùng đất hoàng hôn. Họ biết nơi tìm ra chiếc chìa khóa cho Bộ cờ Montglane.

Đây là lý do Letizia và mẹ bà ấy gửi cô sang Châu Phi, lý do Mireille phải băng qua dãy Atlas cao vời vợi trong mùa đông, ba trăm dặm địa hình hiểm trở trong trận bão tuyết. Một khi cô tìm ra bí mật, cô sẽ là người duy nhất còn sống chạm được vào các quân cờ, và biết chìa khóa mở ra quyền năng của chúng.

Bí mật không ẩn giấu bên dưới hòn đá trong sa mạc, cũng không chui vào trong một thư viện mốc meo. Nó nằm lẩn khuất bên trong những câu chuyện được thì thầm khe khẽ của những người du cư này. Bí mật đi qua sa mạc ban đêm, truyền miệng từ người này sang người khác, di chuyển như những tàn lửa của ngọn đuốc âm ỉ sắp tắt, le lói qua biển cát im ắng và cháy lên trong bóng đêm. Bí mật ẩn trong âm thanh của sa mạc trong những câu chuyện của cư dân và những lời thì thầm bí ẩn từ chính những hòn đá.

Shahin nằm sấp trong cái rãnh họ vừa đào trên cát, bên trên có cây bụi che phủ. Phía trên đầu, con chim ưng lượn quanh chầm chậm, lờ đờ, quan sát kỹ bụi cây xem động tĩnh. Bên cạnh Shahin, Mireille ngồi xổm cúi thấp, thở khó nhọc. Cô quan sát khuôn mặt căng thẳng của bạn đồng hành: mũi dài hẹp, trông giống chim ưng như tên gọi của ông ta, đôi mắt vàng nhạt, cái miệng dữ tợn, được bao phủ nhẹ nhàng bởi tấm vải che, mái tóc dài tết lại xõa xuống lưng. Ông ta cởi tấm áo choàng đen truyền thống và giống như Mireille, chỉ mặc độc chiếc áo len dài có mũ trùm đầu nhuộm màu nâu đỏ sáng từ nước ép cây bụi, màu của sa mạc. Con chim ưng lượn lờ trên trời không thể phân biệt họ với cát sa mạc và bụi cây đã ngụy trang cho cả hai.

"Đó là một hurr, chim ưng Sakr", Shahin thì thào với Mireille. "Không quá nhanh nhạy hay hùng hổ như chim ưng, nhưng khôn ngoan hơn và thị lực tốt hơn. Nó sẽ là trợ thủ đắc lực cho cô.

Ông ta nói Mireille phải bắt được và huấn luyện một con chim ưng trước khi họ băng qua Ez-Zemoul El Akbar tại vành Sa mạc Phương Đông Vĩ đại - dãy cồn cát cao nhất, rộng nhất thế giới. Đó không chỉ là thử thách mang tính phong tục thông thường của người Touareg, phong tục phụ nữ săn bắn và cai trị, mà nó còn là quy luật tất yếu để tồn tại.

Trước mắt, mười lăm hay hai mươi ngày tới, họ phải ở trong những cồn cát nóng bức vào ban ngày và lạnh cóng vào ban đêm. Họ chỉ có thể cưỡi lạc đà một giờ đi một dặm khi lớp cát đỏ sậm không còn dưới chân. Tại Khardaia họ mua thực phẩm dự trữ: cà phê và bột, mật ong và chà là, và những cái túi cá mòi khô bốc mùi khó chịu cho lạc đà ăn. Nhưng giờ họ đã rời vùng ngập mặn và khu Hammada sỏi đá với giọt nước cuối cùng của những dòng suối cạn khô, họ không còn thức ăn, trừ khi có thể săn bắn. Và không có loài nào trên trái đất có sức chịu đựng, thị lực, tính gan lì, và có thể săn mồi trên vùng đất hoang vu và khô cằn này - trừ chim ưng.

Mireille quan sát con chim ưng bay lượn dễ dàng trên đầu họ trong cơn gió sa mạc nóng rát. Shahin đưa tay vào trong túi và rút ra một con bồ câu đã thuần họ mang theo. Ông ta buộc một sợi dây mỏng vào chân con vật; đầu dây kia quấn quanh hòn đá, rồi thả con chim vào không trung. Con bồ câu vỗ cánh bay lên trời. Lập tức chim ưng phát hiện thấy và dường như ngừng giữa không trung, tập trung sức lực. Nó nhanh chóng lao thẳng đến như viên đạn và tấn công tới tấp. Lông vũ rơi rụng khắp nơi khi hai con chim rơi xuống đất.

Mireille định di chuyển tới nhưng Shahin cản cô lại.

"Để nó nếm mùi máu đi", ông ta thì thầm. "Máu sẽ tẩy sạch ký ức và sự cẩn trọng".

Lúc chim ưng nằm trên đất đánh chén con bồ câu thì Shahin bắt đầu giật mạnh sợi dây. Con chim ưng vỗ cánh bay lên một chút nhưng lại đáp xuống bãi cát, hoang mang. Shahin giật dây lần nữa, nhìn như con bồ câu thương tích đang lết trên cát. Đúng như ông ta dự đoán, con chim ưng nhanh chóng quay lại để ngốn hết con mồi ngon lành.

"Đi lên càng gần càng tốt", Shahin thì thầm với Mireille. "Khi còn cách một mét, túm lấy chân nó".

Mireille nhìn như thể ông ta bị điên nhưng cô tiến đến rìa bụi cây gần hết mức, vẫn ngồi xổm để nhảy được. Tim cô đập mạnh khi Shahin giật con bồ câu càng lúc càng gần hơn. Shahin vỗ nhẹ lên tay cô khi chim ưng cách cô vài bước, vẫn ngoạm lấy con mồi. Không một tiếng động, cô nhảy qua bụi rậm và túm lấy chân con chim ưng. Nó vùng vẫy, quật cánh chống trả cô, rồi nó kêu lên một tiếng, phập chiếc mỏ đầy răng sắc nhọn vào cổ tay cô.

Shahin lập tức nhảy ra khỏi bụi cây cạnh cô, tóm lấy con chim, trùm đầu nó lại bằng động tác thành thục, và trói con vật bằng mảnh dây lụa nối với sợi nẹp da ông đã buộc vào cổ tay trái của cô. 

Mireille hút dòng máu phun ra từ cổ tay kia, cổ tay bị thương. Máu đã văng lên mặt và tóc cô. Tặc lưỡi, Shahin xé một mảnh vải mềm và buộc lên chỗ con chim đã cắn toạc mất một miếng thịt, mỏ con chim mổ sâu gần đến động mạch.

"Cô bắt được nó nên cô có thể ăn nó", ông nói với nụ cười méo xệch, "nhưng nó đã suýt ăn thịt cô. Cầm lấy cánh tay quấn băng của cô, ông đặt con chim đã bị che mắt lên cổ tay kia. Con vật giờ đang bám móng vuốt vào sợi dây.

"Vuốt ve nó đi", ông chỉ bảo cô. "Để nó biết ai là chủ nhân. Cần một tháng và ba tuần trăng để thuần phục một con hurr, nhưng nếu cô sống với nó, ăn với nó, vuốt ve nó, nói chuyện với nó, và thậm chí ngủ với nó, con vật sẽ là đầy tớ của cô vào tháng tới. Cô sẽ đặt tên gì cho nó, để nó có thể biết ?"

Mireille hãnh diện nhìn con vật hoang dã run run đậu trên cánh tay. Thoáng chốc cô quên đi cơn đau buốt trên cổ tay bị thương. "Charlot", cô nói. "Charles bé nhỏ. Tôi bắt được Charlemagne bé nhỏ của cõi trời".

Shahin lặng lẽ nhìn cô với cặp mắt màu vàng rồi từ từ kéo mạng che màu chàm lên để che khuất nửa dưới khuôn mặt. Khi ông ta nói, tấm mạng lay nhẹ trong không khí sa mạc khô hanh.

"Đêm nay chúng ta sẽ đánh dấu của cô lên con vật", ông ta nói, "vậy thì nó biết nó chỉ của riêng mình cô thôi".

"Dấu của tôi ?" Mireille nói.

Shahin tháo chiếc nhẫn khỏi ngón tay và để vào tay cô. Mireille liếc xuống lòng bàn tay nhìn cái ấn nhỏ, một miếng vàng nặng chịch, trên mặt trang trí hình số tám.

Lặng thinh, cô đi theo Shahin xuống con dốc đứng, nơi đó lạc đà của họ nằm khuỵu chân chờ đợi trong rãnh cồn cát. Cô quan sát ông ta đặt đầu gối lên lưng lạc đà và con vật đứng dậy, nhấc bổng ông như sợi lông vũ. Mireille làm theo, giữ con chim ưng trên cổ tay. Sau đó họ băng qua biển cát nâu đỏ nhạt.

Đám tro tàn lập lòe trong ánh lửa khi Shahin ngả người đặt chiếc nhẫn trên than. Ông ta ít nói và hiếm khi cười. Trong cả tháng đi cùng nhau, cô không biết nhiều về ông ta, cả hai tập trung cho việc sống còn. Cô chỉ biết họ sẽ đến Ahaggar — những dãy núi dung nham là quê hương của người Kel Djanet Touareg - trước khi con cô chào đời. Về những việc khác, Shahin không dễ gì nói, đáp lại tất cả những thắc mắc của cô chỉ với câu "Rồi cô sẽ sớm biết thôi".

Vì thế cô mới ngạc nhiên khi ông ấy bỏ mạng che ra và nói chuyện trong lúc họ quan sát chiếc nhẫn vàng hút hơi nóng từ đống than.

"Chúng tôi gọi người như cô là thayyib", Shahin nói, "một phụ nữ ăn nằm với một người đàn ông duy có một lần và mang thai. Có lẽ cô để ý những người ở Khardaia nhìn cô thế nào khi chúng ta dừng ở đó. Dân tộc chúng tôi có một câu chuyện. Bảy ngàn năm trước ngày Hegira, có một phụ nữ đến từ hướng đông. Bà ấy một mình đi hàng ngàn dặm băng qua sa mạc khô cằn đến khi tới được Kel Rela Touareg thì bị gia đình mình đuổi đi vì mang thai.

"Mái tóc bà ấy có màu sa mạc, như tóc cô. Tên bà ấy là Daia, nghĩa là 'nguồn suối'. Bà nương náu trong một hang động. Ngày đứa trẻ chào đời, nước tuôn trào từ những hòn đá trong hang. Nó chảy tận đến ngày nay, tại Q'ar Daia - hang của Daia, nữ thần của các nguồn nước".

Mireille nghĩ thầm vậy ra vùng Khardaia này, nơi họ dừng chân để lấy lạc đà và đồ dự trữ, được đặt theo tên vị nữ thần Q'ar kỳ lạ - y như Carthage. Hay Daia này và Dido có cùng truyền thuyết ? Hay cùng một người ?

"Sao ông lại kể tôi nghe chuyện này ?" Mireille hỏi, vừa vuốt ve con Charlot đang đậu trên cánh tay vừa dán mắt vào ngọn lửa.

"Tương truyền", ông ta nói, "ngày nọ một người Nabi, tức nhà tiên tri, sẽ đến từ Bahr al-Azraq - vùng biển Xanh. Một Kalim, người trò chuyện được với các linh hồn, đi theo Tarikat, nghĩa là con đường bí ẩn đến với tri thức. Người đàn ông này có tất cả những điều đó, và anh ta sẽ là một Za'ar - người có làn da trắng, đôi mắt xanh dương, và mái tóc đỏ. Đó là điềm gở đối với dân chúng tôi, đó là lý do tại sao họ nhìn cô chằm chằm".

"Nhưng tôi đâu phải một người đàn ông", Mireille nói, ngước mắt lên, "và mắt tôi xanh lục, chứ không phải xanh dương".

"Tôi không nói đến cô, Shahin nói. Cúi người lên đống lửa, ông rút ra bousaadi - một con dao mỏng dài - và lấy chiếc nhẫn rực sáng ra khỏi than nóng. "Tôi nói đến đứa bé trai mà chúng ta đang trông đợi - thằng bé sẽ chào đời dưới đôi mắt của nữ thần - đúng như điều được báo trước".

Mireille không hỏi làm sao Shahin biết đứa con cô sắp sinh sẽ là con trai. Đầu óc cô đang đầy ắp hàng triệu suy nghĩ khi nhìn ông quấn một mảnh da lên chiếc nhẫn rực sáng. Cô cho phép mình nghĩ đến đứa trẻ nằm trong cái bụng phình to này. Gần sáu tháng rồi, cô có thể cảm nhận thằng bé cử động trong người. Chuyện gì sẽ xảy đến cho nó, khi được sinh ra trên sa mạc rộng lớn, nguy hiểm này, quá xa cách với gia đình dòng họ của chính nó ? Tại sao Shahin tin thằng bé sẽ đáp ứng lời tiên tri cổ xưa ? Tại sao ông ấy lại kể cô nghe câu chuyện về Daia - và nó liên quan gì đến bí mật cô tìm kiếm ? Cô bỏ những suy nghĩ đó ra khỏi tâm trí khi ông ta đưa cô chiếc nhẫn nóng bỏng.

"Nhanh tay nhưng dứt khoát ấn vào mỏ con chim, ngay đây", ông ta chỉ dẫn trong lúc cô cầm chiếc nhẫn được quấn trong mảnh da còn nóng hổi. "Nó không cảm nhận nhiều, nhưng nó sẽ nhớ..." Mireille nhìn con chim ưng bị bịt mắt đậu một cách tin tưởng trên tay cô, móng vuốt nó bấu vào miếng da dày trên cổ tay. Chiếc mỏ lộ ra, và cô cầm chiếc nhẫn nóng đến cách cái mỏ còn chút xíu, rồi cô dừng lại.

"Tôi không thể", cô nói, kéo chiếc nhẫn ra xa. Ánh lửa đỏ bập bùng trong không khí ban đêm lạnh lẽo.

"Cô phải làm", Shahin kiên quyết nói. "Cô lấy đâu ra sức mạnh để giết chết một gã đàn ông nếu còn không đủ sức đánh dấu của mình lên một con chim ?"

"Giết một gã đàn ông ư ?" cô nói. "Không bao giờ !" Nhưng ngay khi cô nói, Shahin mỉm cười chậm rãi, đôi mắt lấp lánh tia vàng trong ánh sáng kỳ lạ. Cô nghĩ người du cư đúng khi nói nụ cười có điều gì đó khủng khiếp.

"Đừng nói với tôi rằng cô sẽ không giết gã này", Shahin nói khẽ. "Cô biết tên hắn, cô kêu nó mỗi đêm trong giấc ngủ. Tôi có thể ngửi thấy mùi báo thù nơi cô, như người ta có thể tìm ra nước bằng cách đánh hơi. Điều mang cô đến đây, giúp cô sống sót chính là sự báo thù".

"Không", Mireille kêu lên, dù cô cảm thấy máu dồn lên mí mắt khi ngón tay cô siết chặt chiếc nhẫn. "Tôi đến đây để tìm một bí mật, ông biết mà. Thế mà thay vào đó, ông kể tôi nghe những câu chuyện hoang đường về người phụ nữ tóc đỏ đã chết cả ngàn năm..."

"Tôi chưa bao giờ nói bà ấy đã chết", Shahin bất ngờ lên tiếng, khuôn mặt đờ ra. "Bà ấy sống, như cát sa mạc cất lời. Bà ấy nói, như những bí ẩn cổ xưa. Các vị thần không thể nhìn thấy bà ấy chết, họ đã hóa phép bà ấy thành hòn đá sống, để bà ấy chờ đợi tám ngàn năm, để cô là công cụ báo thù, cô và con trai cô, đúng như điềm báo".

Ta sẽ sống lại như chim phượng hoàng hồi sinh từ đống tro tàn, vào cái ngày những viên đá bắt đầu cất lời ca... và cát sa mạc sẽ nhỏ nước mắt đỏ như máu. ..và đó sẽ là ngày báo thù dành cho trái đất...

Mireille nghe văng vẳng trong tâm trí lời Letizia thì thầm và lời đáp của nữ tu trưởng: Bộ cờ Montglane chứa đựng chìa khóa mở đôi môi câm nín của Tạo hóa, để phát ra giọng nói của các vị thần.

Cô đưa mắt ra khắp sa mạc, ánh lửa rực lên màu hồng nhạt nhòa và kỳ quái, bên dưới trời sao mênh mông. Trong tay cô là chiếc nhẫn vàng sáng rực. Thì thầm khe khẽ với con chim ưng, cô hít sâu và ấn mặt nhẫn nóng lên mỏ con vật. Con chim do dự, run sợ nhưng không cử động, mùi hăng của sụn cháy bay đầy vào mũi cô. Cô làm rơi chiếc nhẫn xuống đất, thấy ghê sợ nhưng cô vuốt ve lưng và bộ cánh xếp lại của con vật. Những sợi lông mềm mại lướt dưới ngón tay cô. Trên mỏ con vật là một hình số tám hoàn chỉnh.

Shahin chìa tay ra, đặt bàn tay to bè lên vai cô trong lúc cô vuốt ve con chim ưng. Đây là lần đầu tiên ông chạm vào cô, và nhìn vào mắt cô.

"Khi bà ấy từ sa mạc đến với chúng tôi", ông nói, "chúng tôi gọi bà là Daia. Nhưng giờ bà sống ở Tassili, nơi tôi đang đưa cô đến. Bà ấy cao hơn hai mươi foot, cao hơn cả dặm so với thung lũng Djabbaren, đứng vượt trên những người khổng lồ của trái đất, những người bà ấy cai trị. Chúng tôi gọi bà ấy là Nữ Hoàng Trắng".

Họ độc hành qua những cồn cát suốt mấy tuần ròng rã, chỉ dừng lại để thả một trong những con chim ưng ra săn mấy con vật nhỏ. Đó là thực phẩm tươi duy nhất họ có, còn thức uống duy nhất là sữa lạc đà mằn mặn.

Giữa trưa ngày thứ mười tám, khi Mireille vượt lên gò cao còn lạc đà của cô chui vào nằm trong cát mềm thì lần đầu cô bắt gặp thoáng qua zauba'ah, những cột gió lốc dữ dội tàn phá sa mạc. Cách xa gần mười dặm, chúng nhô cao một ngàn foot lên tận trời, những cột cát đỏ và nâu vàng nghiêng ngả trong gió. Cát dưới đáy xoáy trăm foot trên không, một biển cuồn cuộn nào đá, cát, và cây cỏ quay cuồng trong mớ sắc màu mù mịt như những mẩu hoa giấy rực rỡ. Tới ba ngàn foot, chúng thả tung đám mây đỏ khổng lồ bao lấy bầu trời, uốn cong thành những cây cột và xóa mờ ánh mặt trời giữa trưa.

Cái giàn như lều dùng để che khuất cô khỏi trận bão cát bay phần phật lên cao trên yên lạc đà như những cánh buồm căng trên sào đang băng qua biển sa mạc. Tiếng phần phật khô khốc là âm thanh duy nhất Mireille nghe thấy, trong khi cách đó sa mạc lặng lẽ xé toạc thân nó thành nhiều mảnh. 

Rồi cô nghe một âm thanh, tiếng vo ve chầm chậm, khe khẽ và đáng sợ như tiếng cồng phương Đông bí ẩn. Những con lạc đà bắt đầu nhảy dựng lên, cố giằng dây cương ra, vùng vẫy điên cuồng trong không trung. Cát đang trượt khỏi chân chúng.

Shahin nhảy xuống khỏi lạc đà, nắm chặt dây cương giằng lại khi nó hất ông ra.

"Chúng sợ bão cát", ông hét lên với cô, túm lấy dây cương của cô khi cô trèo xuống giúp kéo rời tấm lều. Shahin quáng mắt vì mấy con lạc đà cứ lảo đảo, rống lên, kêu inh ỏi. Ông buộc chằng chúng bằng ta'kil, tức xích chân trước lên đầu gối, và buộc chúng nằm xuống cát trong lúc Mireille quất vào yên cương. Cơn gió nóng bức đến gần hơn khi trận bão cát càng lớn.

"Chúng cách mười dặm", Shahin đang thét, "nhưng chúng di chuyển nhanh lắm. Trong hai mươi, hoặc ba mươi phút, chúng sẽ đổ ụp lên chúng ta !"

Ông ta đang đóng mười cột trụ xuống đất, đính tạm lều vải bạt lên hành lý trong lúc những con lạc đà kêu la điên cuồng, quơ quào chân trước bị chằng để bám vào lớp cát xê dịch. Mireille cắt sibaks, những sợi dây lụa cột giữ mấy con chim ưng vào nơi đậu, túm lấy chúng và nhét vào bao tải, đẩy vào bên dưới mép lều bằng phẳng. Sau đó cô và Shahin bò bên dưới tấm lều vải bạt đã được chôn phân nửa trong cát như lớp gạch nặng nề.

Bên dưới tấm lều, Shahin đang trùm một tấm vải mỏng lên đầu và mặt cô. Ngay cả ở đây, bên dưới lều, cô cũng có thể cảm thấy cát thô ráp bám vào da nhói buốt, thốc vào mũi, miệng, tai. Cô nằm bẹp dí trên cát và cố nín thở khi âm thanh càng lúc càng lớn, như tiếng gào thét của biển cả.

"Đuôi con rắn", Shahin nói, choàng tay qua vai cô tạo thành lỗ hổng không khí cho cô thở khi cát đè lên họ mạnh hơn trước. "Nó trỗi dậy để bảo vệ cánh cổng. Điều này có nghĩa nếu Đấng Ala bằng lòng cho chúng ta sống thì ngày mai chúng ta sẽ đến Tassili".

ST. PETERSBURG, NGA. Tháng ba năm 1793

Nữ viện trưởng của tu viện Montglane ngồi trong phòng khách rộng lớn tại gian phòng của bà ở Cung điện hoàng gia tại St. Petersburg. Những tấm thảm thêu nặng nề bao phủ các khung cửa và cửa sổ không cho ánh sáng lọt vào tạo cho căn phòng cảm giác an toàn. Cho đến sáng nay, vị nữ tu trưởng vẫn tin bà đã an toàn, rằng bà chuẩn bị cho tất cả tình huống có thể xảy ra. Nhưng giờ bà nhận ra mình đã phạm sai lầm.

Quanh bà là nửa tá thị nữ mà nữ hoàng Catherine đã chỉ định hầu hạ bà. Ngồi lặng thinh, những cái đầu cúi lên tấm đăng ten và đồ thêu, họ liếc trộm quan sát bà để có thể báo cáo nữ hoàng nhất cử nhất động của bà. Bà mấp máy môi, lầm bầm cầu nguyện và đọc Kinh của Thiên chúa để họ sẽ nghĩ bà đang mải mê tụng kinh.

Trong khi đó, ngồi tại chiếc bàn viết khảm kiểu Pháp, bà mở những trang Kinh thánh bìa da và bí mật đọc lần thứ ba lá thư đại sứ Pháp đã lén đưa bà mới sáng nay. Đó là việc cuối cùng ông làm trước khi xe trượt tuyết đến đưa ông về Pháp trong cảnh đày ải.

Lá thư của Jacques-Louis David. Mireille đã mất tích, cô biến khỏi Pháp trong suốt thời gian khủng bố và thậm chí có lẽ đã rời khỏi lãnh thổ Pháp. Nhưng Valentine, Valentine yêu dấu đã chết. Và những quân cờ đâu ? Nữ tu trưởng tự hỏi trong tuyệt vọng. Tất nhiên lá thư không đề cập chuyện đó.

Ngay lúc đó có tiếng đổ vỡ lớn ở phòng ngoài, và âm thanh loảng xoảng của kim loại theo sau những tiếng hét kích động. Lớn hơn hết là giọng oang oang của nữ hoàng.

Nữ tu trưởng gấp mấy trang Kinh thánh đè lên bức thư. Các thị nữ đưa mắt nhìn nhau lo lắng. Cánh cửa vào phòng trong mở tung. Thảm thêu bao phủ bị rách toạc khỏi tường, rơi xuống sàn vang tiếng các khung đồng kêu lách cách.

Các nữ tỳ bật dậy bối rối, rổ khâu bị lật úp, chỉ và vải rơi ra sàn ngay khi Catherine xông vào phòng, để nhóm lính gác hoang mang đang trấn tĩnh bám theo gót.

"Ra ngoài ! Ra ngoài ! Ra ngoài !" bà hét lên, vừa băng qua phòng vừa gõ gõ cuộn giấy da cứng lên lòng bàn tay. Các thị nữ gấp gáp tránh dường, làm rơi vãi vài cuộn chỉ và vải lại phía sau khi vấp phải người khác đang đi đến cửa. Xảy ra vụ tắc nghẽn nho nhỏ ở phòng ngoài khi các nữ tỳ và lính gác va đụng nhau trong lúc nỗ lực thoát khỏi cơn thịnh nộ của đấng tối cao; sau đó cánh cửa ngoài đóng sầm lại, đúng lúc nữ hoàng đến bàn giấy.

Nữ tu ngẩng lên mỉm cười bình thản, quyển Kinh thánh đóng lại đặt trên bàn trước mặt. "Sophie thân mến", bà dịu dàng nói, "sau nhiều năm cậu mới đến cầu nguyện buổi sáng với tớ. Tớ đề nghị chúng ta bắt đầu với thiên kinh hối lỗi..."

Nữ hoàng ném phịch cuộn giấy da xuống quyển Kinh thánh của vị nữ tu. Đôi mắt bà long lên sòng sọc. "Cậu bắt đầu niệm kinh hối lỗi đi !" bà hét lên. "Sao cậu dám coi thường tớ ? Sao cậu dám bất tuân ? Ý muốn của tớ là luật pháp của đất nước này ! Đất nước này đã cho cậu nương náu hơn cả năm trời - bất chấp lời khuyên của các cố vấn và dù tớ thấy làm vậy là thật thiếu khôn ngoan ! Sao cậu dám từ chối mệnh lệnh ?" Chộp lấy cuộn giấy da, bà giật mạnh mở nó ra trước mặt nữ tu trưởng. "Ký đi !" bà hét lên, túm cây viết lông khỏi bình mực và vẩy mực tung tóe khắp bàn với bàn tay run lẩy bẩy, khuôn mặt bà tối sầm cơn thịnh nộ. "Ký đi !"

"Sophie thân mến", nữ tu bình thản lên tiếng, lấy mảnh giấy da khỏi mấy ngón tay của nữ hoàng Catherine. 'Tớ không biết cậu đang nói gì". Nữ tu trưởng xem xét tờ giấy như thể trước đây mình chưa từng thấy nó.

"Plato Zubov nói tớ cậu từ chối ký vào !" nữ hoàng hét lên khi nữ tu tiếp tục đọc. Cây viết vẫn nhiễu mực từ các kẽ ngón tay của nữ hoàng. "Tớ cần phải biết lý do cậu đưa ra, trước khi tống cậu vào ngục!"

"Nếu bị tống vào ngục", nữ tu mỉm cười nói, "tớ không thấy được kết quả của việc nói ra cho cậu biết lý do tớ làm vậy, cho dù đối với cậu điều đó có thể là mối quan tâm sống còn". Bà nhìn lại tờ giấy.

"Ý cậu là sao ?" nữ hoàng hỏi, để cây bút trở vào bình. "Cậu hoàn toàn biết rõ tờ giấy này là gì, từ chối ký là hành động phản quốc ! Bất cứ dân di cư Pháp sống lưu vong nào mong muốn tiếp tục nhận được sự bảo vệ của tớ cũng sẽ ký lời tuyên thệ này. Đất nước của những tên vô lại ăn chơi sa đọa kia đã ám sát nhà vua ! Tớ đã trục xuất đại sứ Genet khỏi triều, cắt đứt tất cả mọi quan hệ ngoại giao với cái chính phủ bù nhìn của những tên ngốc đó, tớ ngăn cấm mọi tàu thuyền Pháp vào tất cả các cảng của Nga !"

"Đúng, đúng", nữ tu nói, hơi mất kiên nhẫn. "Nhưng tất cả chuyện này liên quan gì đến tớ ? Tớ gần như không phải dân di cư sống lưu vong, tớ rời khỏi Pháp trước cả khi cánh cửa nước đó khép lại. Tại sao tớ nên cắt đứt mọi mối quan hệ với nước mình, kể cả thư từ thân thiết không gây hại cho ai ?" 

"Nếu khước từ mệnh lệnh, cậu thừa nhận cậu liên minh với bọn ác độc ấy" Catherine nói một cách ghê tởm. "Cậu không thấy chúng bỏ phiếu để hành hình nhà vua à ? Lấy quyền gì mà chúng được phép tự ý làm vậy ? Bọn cặn bã đường phố ấy, chúng giết vua một cách tàn nhẫn máu lạnh, như phạm tội thông thường ! Chúng xén tóc, lột trần ông ấy thô kệch và bỏ trong xe bò bằng gỗ mang đi khắp phố phường để bọn dân đen khạc nhổ lên ! Trên đoạn đầu đài, khi ông ta cố nói, để tha thứ tội lỗi cho chính đám thần dân của mình trước khi bị chúng sát hại như mổ thịt một con bò, chúng đã đè đầu ông ta xuống tấm gỗ kê và khua trống vang rền..."

"Tớ biết", nữ tu thản nhiên nói.'"Tớ biết". Bà đặt cuộn giấy da xuống bàn và đứng lên đối mặt với người bạn mình. "Nhưng tớ không thể ngừng liên lạc với những người ở Pháp, bất chấp sắc lệnh nào cậu có thể bày ra. Có điều tồi tệ hơn, khủng khiếp hơn cái chết của một ông vua, hoặc là của tất cả các vị vua".

Catherine ngạc nhiên nhìn vị nữ tu trưởng miễn cưỡng mở quyển Kinh thánh trước mặt và rút lá thư kẹp giữa các trang sách ra, đưa cho nữ hoàng.

"Vài quân cờ của Bộ cờ Montglane đang mất tích", bà nói.

***

Catherine đệ nhất, nữ hoàng của toàn thể dân Nga, ngồi tại bàn cờ ô đen trắng đối diện nữ viện trưởng. Nữ hoàng cầm quân Mã lên và đặt nó vào trung tâm, trông bà mệt nhọc và khó chịu.

"Tớ không hiểu", bà nói khẽ. "Nếu suốt bấy lâu cậu đã biết các quân cờ ở đâu, sao không nói tớ nghe ? Sao cậu không tin tớ ? Tớ nghĩ chúng đã được phân tán !. .”

"Chúng đã phân tán", nữ tu đáp, nghiên cứu bàn cờ, "nhưng phân tán bởi những người tớ nghĩ tớ kiểm soát được họ. Nhưng có vẻ tớ đã phạm sai lầm. Một trong số những người đó đang mất tích, cùng với vài quân cờ. Tớ phải lấy chúng lại".

"Quả thật cậu buộc phải làm thế", nữ hoàng đồng tình. "Và giờ cậu thấy cậu nên trông cậy vào tớ, tớ có đặc vụ ở mọi nước. Nếu ai có thể mang những quân cờ đó về thì người đó chính là tớ".

"Đừng ngớ ngẩn thế", nữ tu nói, tiến quân Hậu về trước, ăn quân Tốt. "Tám quân cờ có mặt ở Paris khi cô gái này biến mất. Cô không bao giờ ngốc đến nỗi mang chúng theo bên mình. Cô ấy là người duy nhất biết chúng được giấu ở đâu - và không tin tưởng ai ngoài người cô ấy biết do tớ gửi đến. Về việc này, tớ đã viết thư cho nữ tu Corday, người từng quản lý tu viện ở Caen. Tớ nhờ cô ấy thay mặt mình làm một chuyến hành trình sang Pháp để thu thập dấu vết của cô gái mất tích, trước khi quá muộn. Nếu cô ấy chết thì tất cả thông tin về các quân cờ đó cũng ra đi theo cô. Giờ cậu đã đày ải người đưa thư của tớ, đại sứ Genet, tớ không còn liên lạc được với nước Pháp, trừ khi cậu giúp tớ. Lá thư cuối cùng của tớ đã bỏ lại cùng chiếc túi ngoại giao của ông ấy".

"Helene, cậu quả là thông minh hơn tớ", nữ hoàng nói cười rạng rỡ. "Tớ nên đoán ra những lá thư khác cậu có từ đâu, những lá thư tớ không thể tịch thu".

"Tịch thu !" nữ tu nói, nhìn Catherine lấy quân Tượng ra khỏi bàn cờ.

"Không có gì quan trọng", nữ hoàng nói. "Nhưng giờ cậu đã đủ lòng tin vào tớ để tiết lộ nội dung lá thư này nên có lẽ cậu sẽ đi xa hơn và cho phép tớ hỗ trợ cậu tìm bộ cờ, như điều tớ đã đề nghị ngay từ lúc đầu. Mặc dù tớ ngờ rằng chỉ vì Ganet bị cách chức nên cậu mới giãi bày với tớ nhưng tớ vẫn là bạn cậu. Tớ muốn Bộ cờ Montglane. Tớ phải có được nó trước khi nó rơi vào tay những kẻ bất cẩn hơn. Cậu đến đây tức là đặt sinh mệnh của cậu vào tay tớ, nhưng đến giờ cậu chưa chia sẻ với tớ điều cậu biết. Tại sao tớ không tịch thu các lá thư của cậu khi cậu không tin tớ ?"

"Làm sao tớ tin cậu thêm được ?" nữ tu hét lên dữ tợn. "Bộ cậu tưởng tớ không thấy à ? Cậu ký hiệp ước với kẻ thù, bọn quân Phổ đấy, để chia cắt một nước đồng minh khác của cậu, đó là Ba Lan. Mạng sống của cậu bị đe dọa bởi hàng ngàn kẻ thù, thậm chí cả trong triều. Cậu phải biết con trai Paul của cậu đang tập luyện cho những đội quân kiểu Phổ trên điền trang của cậu ấy tại Gatchina, lập kế hoạch cho một chuyện táo bạo. Mỗi nước đi cậu thực hiện trong ván cờ nguy hiểm này cho thấy cậu tìm kiếm Bộ cờ Montglane để phục vụ mục đích của chính cậu là muốn có được quyền lực. Sao tớ biết được cậu sẽ không phản bội tớ như đã làm với rất nhiều người khác ? Và tuy cậu về phe tớ như tớ vẫn hằng mong nhưng chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng ta mang bộ cờ đó ra đây ? Sophie thân mến, ngay cả quyền lực của cậu cũng sẽ không kéo dài xuống tận mồ. Nếu cậu qua đời thì tớ lo sợ khi nghĩ đến chuyện con trai Paul của cậu có thể dùng những quân cờ này vào việc gì !"

"Cậu không cần lo ngại về Paul", nữ hoàng khịt mũi khi nữ tu trưởng bao vây quân Vua. "Quyền lực của nó sẽ không bao giờ vươn xa hơn đám quân khốn khổ đáng thương trong mấy bộ đồng phục lố bịch mà nó dẫn đi khắp nơi đâu. Khi tớ qua đời, người sẽ lên trị vì đất nước này chính là cháu của tớ, Alexander. Tớ đã đích thân dạy dỗ thằng bé và nó sẽ thực hiện mệnh lệnh của tớ.. 

Ngay lúc đó nữ tu đưa tay lên môi và ra hiệu về tấm thảm thêu treo ở tít góc tường đằng kia. Nữ hoàng hiểu ý, rón rén đứng lên khỏi ghế. Cả hai người nhìn chằm chằm vào tấm thảm thêu trong lúc nữ tu tiếp tục nói.

"A, quả là nước đi thú vị, và người đặt thế cờ..."

Nữ hoàng đang sải bước mạnh mẽ băng qua căn phòng. Bà kéo mạnh tấm thảm thêu nặng nề sang bên chỉ với một động tác. Thái tử Paul đứng đó, bộ mặt hổ thẹn của anh ta đỏ như gấc. Anh ta sửng sốt liếc nhìn mẹ mình, rồi quỳ xuống sàn.

"Thưa mẹ, con chỉ đến thăm mẹ..." anh ta cất lời, nhưng không nhìn vào mắt bà. "Ý con là, tâu Nữ hoàng, thần... đến gặp Mẹ Bề Trên, vị nữ tu trưởng, về việc..." anh ta vân vê nút áo vét.

'Ta thấy ngươi cũng nhanh trí như người cha quá cố của ngươi", bà cáu kỉnh ngắt lời. "Ta nghĩ ta sinh ra một thái tử mà tài năng vượt trội của hắn chỉ xuất hiện khi đang rình mò ở cửa. Cút ngay lập tức ! Nhìn thấy ngươi là ta chướng mắt !"

Bà quay lưng lại với anh ta nhưng nữ tu trưởng thấy cái nhìn căm hờn cay đắng hằn trên khuôn mặt Paul khi anh này nhìn trừng trừng tấm lưng mẹ mình. Catherine đang chơi một trò chơi nguy hiểm với đứa con trai này; anh ta không ngốc như nữ hoàng nghĩ.

"Thần cầu xin Mẹ Bề Trên và Nữ hoàng đều sẽ tha thứ cho sự quấy rầy thật không đúng lúc của thần", anh ta nói khẽ. Sau đó, anh ta cúi đầu sau lưng mẹ mình rồi lùi bước lập tức và ra khỏi phòng trong thầm lặng.

Nữ hoàng không nói gì, đứng gần ô cửa, đôi mắt bà dán chặt vào bàn cờ.

"Cậu nghĩ nó nghe lỏm được bao nhiêu ?" Cuối cùng nữ hoàng lên tiếng hỏi, đọc thấu suy nghĩ của nữ tu trưởng.

"Chúng ta buộc phải cho rằng cậu ấy đã nghe hết tất cả", nữ tu nói. "Chúng ta phải hành động ngay lập tức".

"Gì cơ, vì một thằng ngu xuẩn biết rằng nó sẽ không được lên làm vua ư ?" Catherine nói với nụ cười cay đắng. "Tớ chắc nó đoán được điều đó trước đây lâu rồi". 

"Không phải", nữ tu lên tiếng, "vì cậu ấy đã biết về bộ cờ".

"Nhưng chắc chắn bộ cờ vẫn an toàn đến khi chúng ta lập ra một kế hoạch", Catherine nói. "Và một quân cờ cậu mang đến đây đang nằm trong những căn hầm của tớ. Nếu cậu muốn, chúng ta có thể gửi nó đến một nơi không ai nghĩ ra để đi tìm. Các công nhân đang đổ thêm lớp bê tông lên chái nhà cuối cùng của Cung điện Mùa Đông. Nó nằm dưới kiến trúc năm mươi năm, tớ sợ nghĩ đến những bộ xương hẳn đã chôn ở đó !"

"Chúng ta có thể tự làm nó không ?" nữ tu hỏi khi Catherine băng qua căn phòng.

"Chắc chắn cậu đang nói giỡn". Nữ hoàng lại ngồi xuống cạnh bàn cờ lần nữa. "Gì chứ, hai chúng ta lén lút ra ngoài vào nửa đêm để giấu quân cờ vua bé tí chỉ cao có sáu insơ sao ? Tớ hầu như không nghĩ chuyện này đáng lo ngại đến mức phải làm thế".

Nhưng nữ tu trưởng không nhìn nữ hoàng nữa. Ánh mắt nữ tu đổ dồn lên bàn cờ đặt giữa họ, các quân cờ trong ván đấu đang chơi dở dang nằm rải rác, một bàn cờ ô vuông đen trắng bà mang theo từ Pháp. Bà chậm rãi giơ tay lên, lấy cánh tay lướt qua, dọn hết các quân cờ sang bên, một vài quân rớt xuống tấm thảm da lông cừu bên dưới. Bà lấy đốt ngón tay gõ khẽ lên bàn. Một âm thanh nặng nề, khản đục vang lên như thể có vật lót nằm bên dưới bề mặt, như thể có vật gì đó chia cách các quân cờ bằng men mỏng với cái ẩn giấu ở dưới.

Đôi mắt nữ hoàng mở to trong lúc chìa tay chạm vào bề mặt bàn cờ. Bà chồm dậy, tim đập thình thịch và bước đến lò than gần đó, than trong lò đã vỡ vụn thành tro từ lâu. Bà nhặt que cời lửa bằng sắt nặng chịch lên và nâng qua khỏi đầu, lấy hết sức giáng xuống bàn cờ. Vài ô cờ nứt ra. Quăng cái cời lửa sang bên, dùng tay trần, bà bóc những mảnh vỡ và miếng vải bông nằm dưới các ô cờ ra. Bên dưới miếng lót, bà trông thấy ánh sáng mờ dường như phát ra với ngọn lửa bên trong. Nữ tu trưởng ngồi trên ghế bên cạnh bàn cờ, khuôn mặt nghiêm nghị và tái nhợt.

"Bàn cờ của Bộ cờ Montglane !" nữ hoàng thì thầm, nhìn chằm chằm qua lỗ hổng vào những ô vuông nạm vàng và bạc. "Cậu có nó bấy lâu nay, chẳng trách cậu im lặng. Chúng ta phải bỏ những ô cờ và miếng lót đi, nạy nó khỏi bàn để mắt tớ có thể tắm trong ánh hào quang rực rỡ của nó. Ôi, tớ đã khao khát được nhìn thấy nó biết bao !

"Tớ đã hình dung nó trong giấc mơ", nữ tu nói. "Nhưng cuối cùng khi nó được lấy lên khỏi mặt đất, khi tớ thấy nó bừng lên trong ánh sáng lờ mờ của tu viện, khi tớ cảm nhận những mẩu đá chạm trổ và những ký hiệu bí ẩn lạ lùng bằng đầu ngón tay, thì tớ cảm thấy một sức tác động mạnh mẽ lan tỏa khắp người khiến tớ khiếp sợ hơn bất cứ điều gì đã biết. Giờ cậu đã hiểu tại sao tớ mong chôn nó đi, trong đêm nay, ở nơi mà không ai tìm ra nó lần nữa, đến khi các quân cờ khác có thể lấy lại được. Chúng ta có thể tìm ai đó đáng tin để giúp đỡ trong nhiệm vụ này không ?"

Catherine nhìn nữ tu trưởng hồi lâu, lần đầu tiên trong nhiều năm qua bà mới cảm nhận nỗi cô đơn từ vai trò bà chọn cho cuộc đời mình. Một vị nữ hoàng không bạn bè, không người tâm giao.

"Không", bà nói với nữ tu trưởng với nụ cười toe toét tinh quái như đứa bé gái, "nhưng chúng ta đã tham gia vào nhiều trò vui nguy hiểm trước đây lâu rồi, phải không nào, Helene ? Tối nay, vào nửa đêm, chúng ta ăn khuya cùng nhau và có lẽ một chuyến đi dạo hóng mát trong vườn để thoải mái nhé ?"

"Chúng ta sẽ đi vài chuyến", nữ tu đồng tình. "Trước khi tớ gắn bàn cờ này vào trong, tớ đã cẩn thận cắt nó thành bốn phần để có thể di dời mà không cần sự trợ giúp của quá nhiều người. Tớ đoán trước ngày này...". Dùng que cời sắt làm xà beng, Catherine bắt đầu gỡ những ô vuông mỏng manh ra. Nữ tu trưởng nhấc các ô cờ ra xa để lộ thêm phần lớn hơn của bàn cờ tráng lệ. Từng ô vuông chứa một ký hiệu bí ẩn lạ lùng, vàng bạc xen kẽ. Các lề bàn cờ trang trí đá quý chưa mài nhẵn, được đánh bóng như những quả trứng và đặt thành kiểu dáng chạm trổ kỳ dị.

"Sau khi ăn", nữ tu cất lời, ngước nhìn bạn mình, "chúng ta sẽ đọc những lá thư... bị tịch thu của tớ nhé ?"

"Tất nhiên, tớ sẽ bảo người mang đến cho cậu", nữ hoàng đáp đang nhìn vào bàn cờ với đôi mắt kinh ngạc. "Những lá thư không thú vị mấy. Tất cả đều từ một người bạn cũ của cậu, hầu hết đều tán gẫu về khí hậu ở Corsica. 

TASSILI. Tháng tư năm 1793

Nhưng Mireille đã cách xa bờ biển Corsica hàng ngàn dặm. Và khi cô vượt qua bức tường cao cuối cùng của Ez-Zemoul El Akbar, cô trông thấy trước mắt, bên kia sa mạc, Tassili - quê hương của Nữ Hoàng Trắng.

Tassili n'Ajjer, còn gọi là Cao nguyên Vực thẳm, hiện ra lờ mờ trên sa mạc, một dãy đá xanh dài chạy ba trăm dặm từ Algeria vào vương quốc Tripoli, đi dọc theo triền ngọn núi Ahaggar và các ốc đảo xanh tốt rải rác ở phần sa mạc phía nam. Trong những hẻm núi cao nguyên này ẩn chứa chìa khóa của điều thần bí cổ xưa.

Khi Mireille theo Shahin từ sa mạc hoang vắng đến cửa hẻm núi hẹp phía tây, cô cảm thấy nhiệt độ giảm đi nhanh chóng, và lần đầu tiên sau gần cả tháng trời, cô mới ngửi thấy mùi nồng nàn của nước tinh khiết. Tiến vào hẻm núi có các tường đá cao, cô nhìn thấy dòng nước nhỏ chảy trên các phiến đá nứt. Bên bờ đầy cây trúc đào hồng rung rinh trong bóng râm, và vài cây chà là lơ thơ rải rác lòng sông, lá mượt nhẹ như lông tơ vươn lên hướng đến khoảng trời sáng mờ.

Khi lạc đà của họ leo qua hẻm núi hẹp, phần đá xanh thắt lại từ từ rộng mở thành thung lũng màu mỡ, tươi tốt, nơi những dòng sông lớn bồi đắp các vườn đào, vườn sung, và mơ. Mireille mấy tuần liền không ăn gì khác ngoài thịt thằn lằn, kỳ nhông và chim ó nướng nên cô liền với tay hái mấy quả đào khi họ đi giữa các cành cây sum suê. Lạc đà của họ ngoạm đầy lá xanh vào miệng.

Từng thung lũng này mở ra hàng tá thung lũng khác và những hẻm núi quanh co, mỗi nơi có một loại khí hậu và thực vật riêng.

Hình thành hàng triệu năm về trước bởi những dòng sông ngầm chảy sâu dưới các lớp đá nhiều màu, Tassili được tạo dựng như những hang động và vực thẳm của vùng biển ngầm. Dòng sông cắt hẻm núi có những tường đá ren hồng và trắng tựa rặng san hô ngầm, các thung lũng rộng đầy chỏm núi nhọn xoắn ốc đâm thẳng lên trời. Và bao quanh các đỉnh núi bằng trông như lâu đài, được tạo nên từ sa thạch đỏ hóa đá này là những cao nguyên to lớn xanh xám, tường như pháo đài bay thẳng từ sa mạc lên bầu trời, cao đến một dặm.

Đến giờ, Mireille và Shahin không chạm trán ai, tít trên những gò của Aabaraka Tafelalet, họ đến Tamrit, làng của những căn lều. Tại đây, những cây bách ngàn năm cao vút trên lòng sông lạnh lẽo, sâu thẳm, và nhiệt độ giảm quá nhiều đến nỗi Mireille khó mà nhớ cái nóng 120 độ trong thời gian ở tại cồn cát khô ran và cằn cỗi.

Tại Tamrit, họ để lạc đà lại và đi bộ chỉ với những đồ dự trữ có thể mang theo. Bởi lẽ bây giờ họ tiến vào vùng đất của người Labyrinth, theo Shahin, nơi này có những khúc quanh và triền núi quá cheo leo đến thậm chí dê núi và cừu hoang cũng hiếm khi liều đến.

Họ thu xếp để lạc đà được cư dân của những căn lều cho uống nước. Nhiều người đi ra trố mắt nhìn chằm chằm mái tóc đỏ của Mireille bừng lên sắc hồng trong ánh chiều tà.

"Chúng ta phải nghỉ lại đây đêm nay", Shahin nói. "Người Labyrinth chỉ thương lượng được vào ban ngày. Ngày mai chúng ta bắt đầu. Ngay giữa Labyrinth là chìa khóa..." Ông ta đưa tay chỉ phía cuối hẻm núi, nơi những bức tường đá uốn cong lướt ra xa đã ẩn mình trong bóng tối xanh đen khi mặt trời lặn xuống rìa hẻm núi.

"Nữ Hoàng Trắng", Mireille thì thầm, ngước nhìn bóng tối âm u khiến tường đá lượn cong có vẻ oằn mình. "Shahin, ông không thật sự tin rằng có người phụ nữ của đá trên đó, phải không ? Ý tôi là một người còn sống ?" Cô cảm thấy một cơn ớn lạnh lướt qua người khi mặt trời khuất bóng và rõ ràng không khí trở nên lạnh.

"Tôi biết điều đó", ông thì thầm lại, như thể ai đó đang lắng nghe. "Họ nói đôi khi vào hoàng hôn, khi không ai gần đó, người ta nghe thấy bà ấy ca một giai điệu lạ lùng từ rất xa. Có lẽ...bà ấy sẽ ca cho cô nghe".

***

Tại Sefar không khí lạnh lẽo và trong lành. Ở đây lần đầu họ nhìn thấy đá chạm khắc, dù không phải cái cổ nhất. Khắp các tường đá, những bức phù điêu mô tả nhiều hình thù xấu xí nhỏ bé có sừng như sừng dê đang nhảy múa. Những hình này được vẽ khoảng năm 1500 trước Công nguyên. Họ leo càng cao, đường vào càng khó khăn và các bức vẽ càng cổ xưa, càng bí ẩn, thần kỳ và phức tạp.

Mireille cảm thấy cô đang đi ngược thời gian khi trèo lên các triền núi dựng đứng do các bức tường hẻm núi rất dốc tạo nên. Khi họ qua từng khúc quanh của hẻm núi, các bức vẽ trình bày nổi bật trên bề mặt đá sậm màu kể lại câu chuyện về thời đại những người có cuộc sống gắn liền với các vực thẳm này. Hết cái này đến cái khác, dòng chảy của nền văn minh trở về tám ngàn năm trước.

Trang trí nghệ thuật có mặt khắp mọi nơi - màu nâu vàng nhạt, đen, vàng và nâu - chúng được khắc và vẽ lên các bức tường dốc, cháy bỏng màu sắc hoang dã ở chốn hẻo lánh tối tăm của khe nứt và hang động - cả ngàn bức vẽ, bao quát tầm mắt. Nơi đây trải ra vùng hoang vu của tự nhiên, họ kể câu chuyện không chỉ về con người mà còn về chính cuộc sống. Có những hốc đá và đỉnh núi mà chỉ có một người leo núi thành thạo hay như Shahin nói, một con dê mới với tới để vẽ được.

Vào ngày thứ hai họ trông thấy những chiếc xe ngựa của triều đại Xê mit (trị vì Ai Cập từ thế kỷ 16-18 trước CN) - cư dân biển cả xâm chiếm Ai Cập và sa mạc Sahara hai ngàn năm trước công nguyên. Họ còn thấy cỗ xe ngựa kéo và áo giáp, các vũ khí mạnh hơn này đã giúp triều đại đó đánh bại những con lạc đà của các chiến binh bản địa. Những hoạt cảnh của cuộc chinh phục như quyển sách mở ra khi hai người đi qua các bức tường hẻm núi như dã thú băng qua sa mạc đỏ bao la. Mireille mỉm cười một mình, tự hỏi bác Jacques-Louis của cô sẽ nghĩ gì, cô nhìn chằm chằm vào tác phẩm của tất cả các họa sĩ vô danh này, tên tuổi họ đã bị chôn vùi trong lớp sương mù mờ mịt của thời gian, các công trình của họ đã tồn tại cả ngàn năm nay.

Mỗi đêm, khi mặt trời lặn xuống dưới rìa hẻm núi, họ phải tìm kiếm nơi nương náu. Khi không có hang động nào gần đó, họ trùm mình vào những lớp mền len mà Shahin đính tạm vào hẻm núi bằng cọc buộc lều để hai người không bị cuốn lên trên vách đá trong khi ngủ.

Vào ngày thứ ba họ đến hang của Tan Zoumaitok, quá tối tăm và sâu hun hút đến nỗi họ phải kéo các bụi rậm từ khe nứt trên đá ra, đốt thành ngọn đuốc và soi vào mới thấy được. Trong hang là các bức tranh có màu được bảo quản hoàn hảo vẽ những người vô danh có cái đầu hình đồng tiền, nói chuyện với cá, đi đứng thẳng người. Shahin nói những bộ tộc cổ xưa tin rằng tổ tiên họ từ biển vào đất liền như cá, đôi chân đi từ lớp bùn nguyên sinh. Ở đây cũng có nhiều hình vẽ mô tả phép thần thông họ dùng để an ủi các vị thần của tự nhiên. Đó là bài nhảy múa theo hình xoắn ốc do djenoun, người của thần linh, biểu diễn. Người đó di chuyển ngược chiều kim đồng hồ theo vòng tròn cứ nhỏ dần đi xung quanh một hòn đá linh thiêng đặt chính giữa. Trước khi đi tiếp, Mireille nhìn bức hình hồi lâu còn Shahin đứng cạnh cô không thốt nên lời.

Sáng ngày thứ tư, họ đến nơi trên cùng của cao nguyên. Trong lúc họ vòng qua khúc quanh của hẻm núi, các bức tường mở ra và để lộ một thung lũng rộng sâu, hoàn toàn được bao phủ bởi các bức vẽ. Mọi nơi, trên mọi bề mặt đá đều có màu. Đây là Thung lũng của Những người khổng lồ. Hơn năm ngàn bức vẽ che kín các bức tường của hẻm núi từ dưới lên trên. Mireille nín thở giây lát khi mắt cô lướt khắp hàng hàng lớp lớp đầy dẫy các bức tranh, cổ xưa nhất mà họ từng thấy, được sơn một màu, hiển hiện trong sáng rõ ràng và mộc mạc, như thể mới được vẽ ngày hôm qua. Như những bức bích họa của các bậc thầy vĩ đại, chúng không bị phai mờ theo thời gian.

Cô đứng đó một lúc lâu. Những câu chuyện trên các bức tường dường như bao bọc lấy cô, đưa cô vào một thế giới khác, nguyên sơ và thần bí. Giữa đất trời không có gì khác ngoài màu sắc và hình vẽ - màu sắc dường như chạy trong máu cô như chất kích thích trong lúc cô đứng trên gờ đá cao, lơ lửng giữa không gian. Và rồi cô nghe âm thanh.

Ban đầu cô ngỡ đó là tiếng gió, âm thanh vo ve the thé như gió thổi qua nút thắt cổ chai hẹp. Ngước lên, cô thấy vách đá cao, có lẽ hơn một ngàn foot, nhô ra trên hẻm núi khô cằn, hoang dại. Một vết nứt hẹp không biết từ đâu dường như xuất hiện trên mặt đá. Mireille liếc nhìn Shahin, ông cũng đang nhìn vách đá nơi phát ra âm thanh. Ông kéo mạng che mặt lên và gật đầu ra hiệu cho cô đi trước ông trên dải đường mòn hẹp.

Đường mòn đột ngột lên cao. Ngay khi nó bắt đầu quá dốc và gờ núi quá mỏng manh, Mireille với cái thai hơn bảy tháng, khó nhọc lấy hơi và giữ cân bằng. Một lần, cô trượt chân và ngã khuỵu xuống. Đá cuội rơi xuống hẻm núi sâu ba ngàn foot bên dưới và vỡ nát. Cổ họng khô khốc, cô nuốt nước miếng và tự đứng dậy vì gờ núi quá hẹp nên Shahin không thể giúp cô, rồi cô tiếp tục đi mà không nhìn xuống. Âm thanh không ngừng to lên.

Có ba âm, lặp đi lặp lại trong sự kết hợp khác nhau, cường độ cũng ngày một cao hơn. Càng đến gần khe nứt trên đá, âm thanh càng nhỏ đi nghe như cơn gió. Âm rõ ràng, hay như giọng nói con người. Mireille tiếp tục đi trên gờ đá vỡ vụn.

Thềm đá cách đáy thung lũng năm ngàn foot. Tại đây, đường nứt hẹp trên đá nhìn thấy ban nãy thực chất là một khe nứt khổng lồ, đó là lối vào một hang động hay có vẻ thế. Nó sâu hai mươi foot và cao năm mươi foot, chạy như vết rách dài lớn trong đá, nằm giữa rìa đá và đỉnh. Mireille đợi Shahin bắt kịp và nắm lấy tay ông, cả hai bước vào.

Âm thanh trở nên đinh tai nhức óc, xoáy tít quanh họ từ mọi hướng và vang vọng khắp các bức tường bao của khe nứt. Dường như nó luồn lách qua từng phần cơ thể Mireille khi cô tiến qua khe nứt tối mịt. Cuối cùng, cô trông thấy tia sáng. Cô lặn lội qua bóng tối khi âm thanh như nuốt chửng lấy cô. Và rồi cô đến đích, vẫn nắm lấy Shahin và bước ra.

Cái cô nghĩ là một hang động thực ra là một thung lũng nhỏ, lộ thiên ngoài trời. Ánh sáng tràn ngập từ trên tỏa xuống, soi rọi mọi vật với màu trắng ma quái. Trên khúc quanh của những bức tường lòng chảo uốn lượn là những người khổng lồ. Họ cao hai mươi foot, lơ lửng phía trên cô, mang màu sắc tái nhợt, thanh tao. Các vị thần có sừng cừu xoắn mọc trên đầu, mặc trang phục phồng ra thổi phụt từng luồng gió bằng những ống dài từ miệng xuống ngực, khuôn mặt khuất bên dưới mũ hình cầu, phần lẽ ra là nét mặt của họ bị các tấm lưới che lại. Họ ngồi trên những chiếc ghế với phần tựa lưng đỡ lấy đầu kỳ lạ; trước mặt là những đòn bẩy và đồ dùng tròn như mặt đồng hồ hay dụng cụ đo khí áp. Tất cả họ thực hiện nhiệm vụ kỳ bí và xa lạ đối với Mireille, và ở chính giữa họ lơ lửng vị Nữ Hoàng Trắng.

Âm nhạc dừng lại. Có lẽ đó là do tiếng gió đánh lừa, hay do tâm trí cô đánh lừa. Những dáng vẻ tỏa sáng rực rỡ trong ánh sáng trắng. Mireille nhìn Nữ Hoàng Trắng.

Cao trên tường lù lù hiện ra một dáng vẻ kỳ lạ và khổng lồ, to lớn hơn tất cả. Như nữ thần thiêng liêng, bà hiện ra trên vách đá trong đám mây trắng. Khuôn mặt to lớn của bà chỉ hằn rõ vài đường nét, chiếc sừng hình móc câu như dấu chấm hỏi có vẻ bật ra trước từ bức tường. Miệng bà là lỗ hổng lớn há ra tựa như người mất lưỡi cố nói, nhưng bà không nói.

Mireille ngó chằm chằm bà trong tình trạng khiếp sợ chết điếng. Sự câm lặng bao quanh còn đáng sợ hơn âm thanh nhiều, cô liếc nhìn Shahin đứng bất động cạnh bên. Quấn người trong tấm vải choàng màu sậm và mạng che mặt xanh dương, trông ông hệt như được tạc từ phiến đá không bị thời gian mài mòn. Trong ánh sáng rực rỡ, bao quanh là những bức tường lạnh lẽo của hẻm núi Mireille khiếp hoảng và bối rối khi chầm chậm đưa mắt trở về bức tường. Và rồi cô trông thấy.

Bàn tay giơ cao của Nữ Hoàng Trắng cầm một quyền trượng dài, và quấn quanh cây trượng này là hình thù những con rắn. Như y hiệu chữa trị hình hai con rắn quấn vào nhau, chúng tạo thành hình số tám. Cô nghĩ mình nghe một giọng nói, nhưng nó không đến từ bức tường đá uốn cong mà đến từ bên trong cô. Giọng nói vang lên. Nhìn lại. Nhìn gần hơn. Quan sát.

Mireille nhìn những hình thù xếp hàng từ bên này sang bên kia bức tường. Tất cả đều là đàn ông, chỉ trừ Nữ Hoàng Trắng. Và rồi như thể bức mạng được xé toạc khỏi mắt, cô trông thấy tất cả khác đi. Không còn bức tranh toàn cảnh những người đàn ông tham gia vào hành động kỳ lạ và khó đoán nữa, giờ chỉ còn một người đàn ông. Như đoạn phim bắt đầu từ chỗ này và kết thúc ở chỗ khác, nó cho thấy sự phát triển của người đàn ông này qua nhiều giai đoạn, sự chuyển hóa từ cái này sang cái khác.

Bên dưới quyền trượng biến đổi của Nữ Hoàng Trắng, người này di chuyển qua bức tường, đi từ tầng này sang tầng khác ngay khi những người đầu tròn như cá đến từ biển. Người này mặc trang phục nghi thức, có lẽ dùng để bảo vệ. Anh ta di chuyển đòn bẩy trên tay như người lái điều khiển chiếc tàu hay thầy thuốc nghiền cối xay. Và cuối cùng, sau nhiều thay đổi, khi công trình vĩ đại đã hoàn tất, anh ta đứng dậy khỏi ghế và đến bên Nữ Hoàng Trắng. Với kết quả nỗ lực của mình, anh ta được ban tặng sừng xoắn linh thiêng của Sao Hỏa - vị thần chiến tranh và hủy diệt. Anh ta trở thành một vị thần.

"Tôi hiểu", Mireille nói lớn, giọng cô vang dội khắp các bức tường và đáy vực thẳm, phá tan ánh mặt trời.

Chính ngay lúc đó cô cảm thấy cơn đau đầu tiên. Cô gập người khi cơn đau quằn quại và Shahin nắm lấy, đỡ cô xuống đất. Cô lạnh cóng đổ mồ hôi và tim đập liên hồi. Shahin xé toạc mạng che mặt và đặt tay lên bụng cô khi cơn đau đẻ thứ hai co giật người cô.

"Đến lúc rồi", ông ta khẽ nói.

TASSILI. Tháng sáu năm 1793

Từ cao nguyên trên cao Tamrit, Mireille có thể thấy hai mươi dặm bên kia những cồn cát xa xa. Gió thổi tung mái tóc cô, nó phất phơ sau lưng, màu của cát đỏ. Chiếc áo vải mỏng được tháo dây, và cô đang cho con bú. Như Shahin đã tiên đoán, đứa bé được sinh ra dưới cặp mắt các vị thần và nó là con trai. Cô đặt tên con là Charlot, theo tên con chim ưng. Thằng bé giờ đã gần sáu tuần tuổi.

Tại đường chân trời, cô trông thấy làn cát đỏ bốc lên nhè nhẹ báo hiệu những người cưỡi ngựa từ Bahr-al-Azrak đang đến. Khi nhíu mắt lại, cô có thể nhận ra bốn người trên lạc đà, lướt qua khúc quanh bên trong cồn cát gợn sóng khổng lồ như những mảnh gỗ nhỏ bám vào đường cong của sóng biển. Hơi nóng bốc lên từ cồn cát che khuất hình dáng khi họ đi vào con đường.

Gần một ngày họ đến Tamrit, và còn lâu để vào hẻm núi Tassili nhưng Mireille không cần chờ họ đến. Cô biết họ đang đến giúp mình, cô đã cảm thấy điều đó nhiều ngày nay. Hôn lên đỉnh đầu đứa con trai, cô quấn nó vào cái khăn quàng quanh cổ và bắt đầu xuống núi để đợi thư. Nếu không phải hôm nay thì lá thư cũng sẽ đến sớm thôi. Lá thư của nữ tu trưởng tu viện Montglane nói rằng cô phải quay về.

NGƯỜI DỊCH: NGUYỄN LÂM XUÂN CÁC
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.