Vua Arthur chiêm bao thấy một giấc mơ kỳ lạ: ông thấy mình giống như ngồi trên một cái ghế, và cái ghế nhanh chóng biến thành bánh xe, và sau đó vua Arthur mặc bộ trang phục bằng vàng đắt giá nhất,..và thình lình nhà vua thấy bánh xe chạy lên xuống, ông thấy mình ở giữa lũ rắn, và từng con bò lên tay chân ông; sau đó khi còn nằm trên giường và chìm trong giấc ngủ, nhà vua la lên, "Cứu".
- Le Morte d'Arthur - Sir Thomas Malory
Tôi sẽ thống trị, tôi đang thống trị, tôi đã thống trị, tôi chưa được thống trị.
- Câu viết trên bánh xe vận mệnh – The Tarot
Buổi sáng sau ngày tổ chức, giải đấu cờ vua là thứ hai. Tôi thức dậy, lảo đảo bước xuống giường, đẩy nó vào tường rồi đi tắm để chuẩn bị cho một ngày nữa ở Con Edison.
Lau người bằng chiếc áo choàng tắm, tôi đi chân đất ra hành lang nhà và tìm cái điện thoại trong bộ sưu tập đồ thủ công của mình. Sau bữa tối ở nhà hàng The Palm với Lily và những sự việc lạ lùng xảy đến, tôi khẳng định chúng tôi thật sự là một cặp quân tốt trong ván cờ của ai đó, và tôi muốn biết những quân cờ khác là ai. Tôi biết chính xác phải bắt đầu từ đâu.
Lily và tôi đã nhất trí trong bữa ăn tối rằng lời cảnh báo của Solarin dành cho tôi phần nào có liên quan đến những điều kỳ quái xảy ra trong ngày, nhưng sau ý kiến thống nhất đó, quan điểm của chúng tôi lại bất đồng. Cô ta tin Solarin đứng sau mọi việc xảy ra.
"Đầu tiên, Fiske chết trong tình huống kỳ bí", cô chỉ ra khi chúng tôi ngồi giữa những cây cọ ở một góc bàn gỗ đầy người. "Sao chúng ta biết Solarin không giết ông ta ? Rồi Saul biến mất, để chiếc xe và chú chó của tớ làm mồi cho kẻ phá hoại. Rõ ràng Saul bị bắt cóc, chứ ông ta không bao giờ bỏ xe đi đâu cả".
"Điều đó hiển nhiên", tôi nhe răng cười khi thấy cô ta nhai ngấu nghiến một miếng thịt bò tái. Tôi biết Saul sẽ không có gan quay về gặp Lily trừ khi chuyện gì đó kinh khủng đã xảy ra với ông ta. Lily chuyển sang đánh chén một tô rau trộn to tướng và ba ổ bánh mì khi cuộc trò chuyện của chúng tôi tiếp tục.
"Vậy ai đó nổ súng bừa vào chúng ta", cô ấy nói trong lúc còn nhai nhóp nhép, "và hai đứa mình cùng đồng ý rằng phát đạn bắn ra từ cửa sổ để mở của phòng thi đấu".
"Có hai viên đạn", tôi chỉ ra. "Có lẽ ai đó bắn vào Saul và khiến ông ta sợ hãi bỏ đi trước khi chúng ta đến đó".
"Nhưng vấn đề là", Lily nói, vẫn nhai bánh mì và phớt lờ tôi, "tớ không chỉ phát hiện ra cách thức và phương tiện, mà còn cả động cơ !"
"Cậu đang nói gì vậy ?"
"Tớ biết tại sao Solarin hành động bất chính. Tớ biết điều đó giữa lúc ăn miếng sườn đầu tiên và rau trộn".
"Cho tớ biết manh mối với", tôi nói. Tôi có thể nghe tiếng Carioca cào móng vuốt vào đồ dùng cá nhân để trong túi Lily và tôi ngờ rằng sớm muộn gì những người xung quanh cũng nghe được.
"Cậu biết vụ tai tiếng ở Tây Ban Nha mà, phải không ?" cô ta lên tiếng. Tôi phải nặn óc để nhớ lại.
"Ý cậu nói vụ Solarin bị triệu hồi về Nga vài năm trước à ?" cô ta gật đầu, và tôi tiếp lời, "Đó là tất cả những gì cậu kể cho tớ".
"Nó còn hơn cả một công thức", Lily nói. "Cậu biết đấy, Solarin đã rút lui khỏi các trận đấu quan trọng từ khá sớm. Anh ta chỉ thỉnh thoảng tham gia vài giải đấu. Anh ta có thứ bậc kiện tướng nhưng thật ra anh ta nghiên cứu để trở thành nhà vật lý; đó là công việc kiếm sống. Trong suốt thời gian tranh tài ở Tây Ban Nha, Solarin đã cá cược với đối thủ, hứa tiết lộ vài công thức bí mật nếu bị đối thủ đánh bại trong giải đấu".
"Công thức gì ?"
"Tớ không biết. Nhưng khi vụ cá cược được báo chí đưa tin thì dân Nga hoang mang. Solarin biến mất cả đêm và không ai nghe thêm tin tức gì về anh ta cho đến tận bây giờ".
"Một công thức vật lý à ?" tôi hỏi.
"Có thể là công thức về vũ khí bí mật. Điều đó giải thích mọi chuyện, đúng không nào ?" Tôi chẳng thấy điều đó giải thích được bất cứ chuyện gì nhưng vẫn để cô ta huyên thuyên nói tiếp.
"Lo sợ Solarin sẽ lại giở trò tương tự tại giải đấu này nên KGB nhanh chóng cho anh ta tiến vào vòng trong và khử Fiske, cũng như cố dọa tớ tránh xa không tham gia. Nếu một trong hai ta đánh thắng Solarin, anh ta có thể cho chúng ta biết công thức bí mật !" Cô ta xúc động khi thấy giải thích của mình thật hợp tình hợp lý nhưng tôi không đồng ý lắm.
"Đó là giả thuyết rất hay", tôi nhất trí. "Nhưng có vài điểm còn mơ hồ. Chẳng hạn như chuyện gì xảy ra với Saul ? Tại sao chính quyền Nga để Solarin xuất ngoại nếu họ nghi ngờ anh ta sẽ cố giở lại mánh cũ - giả sử nó đúng là một thủ đoạn ? Và vì cái quái gì mà Solarin muốn trao công thức vũ khí cho cậu hoặc cho ông Fiske huyền thoại già nua run lẩy bẩy kia, để tâm hồn anh ta được thanh thản chắc ?"
"Ờ, thôi được, không phải mọi thứ đều ăn khớp tuyệt đối với nhau", cô ta thừa nhận. "Nhưng ít ra đó là sự khởi đầu".
"Như Sherlock Holmes từng nói, 'Lập luận trước khi có dữ kiện là sai lầm vô cùng tai hại" tôi nói. "Tớ đề nghị cả hai ta nên đến cảnh sát. Suy cho cùng, chúng ta có hai đầu đạn để chứng minh cho điều mình nói".
"Không đời nào", Lily hét lên kích động, "vậy là tớ thừa nhận không đủ khả năng tự giải quyết bí ẩn này sao. Nó sẽ ảnh hưởng đến tên tuổi của tớ".
Vậy là sau khi cãi vã gay gắt, chúng tôi đồng ý sẽ tách ra riêng vài ngày để nghiên cứu tiểu sử và lối chơi cờ của kiện tướng Solarin.
Bản thân huấn luyện viên cờ vua của Lily là một kiện tướng. Dù phải tập luyện vất vả trước trận đấu vào thứ ba nhưng Lily nghĩ trong quá trình tập, cô có thể lượm lặt vài nhận định của huấn luyện viên về tính cách của Solarin. Đồng thời cô sẽ tìm kiếm tin tức về Saul. Nếu ông ta không bị bắt cóc (tôi nghĩ việc đó sẽ khiến cô ta thất vọng ghê gớm) thì Lily sẽ bắt ông ta nói tại sao lại bỏ việc.
Tôi có kế hoạch của riêng mình, và tôi không muốn cho Lily Rad biết ngay lúc này.
Tôi có một người bạn ở Manhattan còn bí hiểm hơn cả gã Solarin khó hiểu này. Một người không có số điện thoại và cũng không có địa chỉ thư từ. Mặc dù chỉ mới ba mươi tuổi nhưng anh ta là một trong những huyền thoại của ngành xử lý dữ liệu và đã có những bài chuyên đề viết về nó. Ba năm trước, anh ta là người thầy chỉ dẫn cho tôi về ngành máy tính khi tôi chập chững vào làm ở hãng Big Apple và anh đã giúp tôi thoát khỏi những tình huống khó khăn. Anh ta chọn cho mình cái tên Tiến sĩ Ladislaus Nim.
Nim không chỉ là bậc thầy trong lĩnh vực xử lý dữ liệu mà còn là chuyên gia cờ vua. Anh ta đã thi đấu với Reshevsky, Fischer và tỏ ra không thua kém gì họ. Nhưng tài năng thật sự của anh ta là am hiểu bao quát mọi mặt về trò chơi này, đó là lý do tôi muốn tìm anh ta. Anh ta ghi nhớ tất cả các ván đấu tranh chức vô địch thế giới trong lịch sử. Anh ta thông thuộc tiểu sử cuộc đời của các kiện tướng như quyển bách khoa toàn thư sống. Anh ta có thể cho bạn thưởng thức hàng giờ những câu chuyện về lịch sử cờ vua khi anh ta vui. Tôi biết anh ta có khả năng kết nối liền mạch các sự kiện tôi đang nắm giữ. Nhất định tôi phải tìm gặp anh ta.
Nhưng muốn tìm anh ta và tìm được anh ta là hai chuyện khác nhau. Dịch vụ trả lời điện thoại của anh ta khiến đến KGB và CIA còn khó mà tìm ra. Thậm chí cả tuần nay, khi tôi gọi đến, những chỗ đó còn không thừa nhận biết anh ta là ai.
Lúc trước tôi muốn gặp Nim chỉ để tạm biệt anh ta khi tôi biết mình sẽ sang nước khác. Giờ tôi phải gặp anh ta, không chỉ vì thỏa hiệp với Lily Rad mà vì hiện tôi đã biết những sự việc có vẻ như chẳng dính dáng gì đến nhau - cái chết của Fiske, lời cảnh báo của Solarin, sự biến mất của Saul - tất cả lại có liên quan với nhau trong chừng mực nào đó. Chúng liên quan đến tôi.
Tôi biết điều đó vì khi chia tay Lily ở nhà hàng The Palm lúc nửa đêm, tôi đã quyết định tiến hành một cuộc điều tra nho nhỏ ngay lập tức. Thay vì đi thẳng về nhà, tôi đón taxi đến khách sạn Đại lộ số Năm để giáp mặt bà thầy bói mà ba tháng trước, không hiểu sao, đã cho tôi lời cảnh báo không khác gì điều Solarin nói lúc trưa nay. Mặc dù răn đe của anh ta đã nhanh chóng biến thành thực tế rành rành trước mắt nhưng tôi xét thấy lời lẽ cả hai có chút gì trùng hợp. Và tôi muốn biết tại sao.
Chính vì vậy tôi cần nói chuyện với Nim, ngay lập tức, không chậm trễ. “Cô biết đấy, lúc trước không có bà thầy bói nào ở khách sạn Đại lộ số Năm”. Tôi nói chuyện với quản lý quầy rượu ở khách sạn hơn cả nửa tiếng đồng hồ để hoàn toàn chắc chắn mình nói thật. Ông ta làm việc tại đây đã mười lăm năm và lặp lại nhiều lần khẳng định của mình. Chưa từng có bất kỳ thầy bói nào ở quầy rượu của khách sạn Đại lộ số Năm. Kể cả trong đêm giao thừa cũng không có. Người phụ nữ biết tôi phải có mặt, người chờ Harry gọi đến trung tâm dữ liệu tìm tôi, người đọc vận mệnh của tôi bằng vần thơ năm âm tiết, người đưa ra cho tôi những lời lẽ giống hệt cảnh báo Solarin sẽ nói ba tháng sau - thậm chí tôi nhớ lại rằng người phụ nữ đó biết cả ngày sinh của tôi. Vậy mà bà ta hoàn toàn chưa hề tồn tại.
Tất nhiên bà ta có tồn tại. Tôi có ba nhân chứng chứng minh điều đó. Nhưng giờ đây tôi còn bán tín bán nghi ngay cả điều tận mắt mình chứng kiến.
Thế nên sáng thứ hai, khi nước trên tóc còn nhỏ giọt vào áo choàng tắm, tôi mò tìm điện thoại và cố gọi cho Nim thêm lần nữa. Lần này tôi bị bất ngờ.
Khi tôi gọi đến dịch vụ trả lời điện thoại của anh ta, Công ty Điện thoại New York trả lời bằng tin nhắn ghi âm, cho tôi biết số đã đổi. Tôi nhấn số mới, thấy lạ khi Nim đổi địa điểm dịch vụ. Nói cho cùng, tôi là một trong số ba người duy nhất trên thế giới có vinh hạnh biết số điện thoại cũ. Một người không thể có quá nhiều số điện thoại.
Bất ngờ thứ hai ập đến khi có người nhấc máy.
"Đại sảnh Rockaway Greens", giọng nữ trả lời điện thoại vang lên.
'Tôi đang tìm Tiến sĩ Nim", tôi nói.
"Tôi e là ở đây chúng tôi không có ai tên đó", cô ta dịu dàng đáp. Đó là cách xử sự nhã nhặn so với lời từ chối hằn học tôi thường nhận được từ dịch vụ trả lời của Nim. Nhưng lại còn thêm một bất ngờ nữa.
"Tiến sĩ Nim, tiến sĩ Ladislaus Nim", tôi lặp lại rõ ràng. "Đây là số thông tin Manhattan cho tôi".
"Đó... đó có phải tên một người đàn ông ?" người phụ nữ thở gấp và nói.
"Vâng", tôi nhẫn nại trả lời "Tôi có thể để lại lời nhắn không ? Tôi cần gặp anh ta, chuyện rất quan trọng".
"Thưa cô", người phụ nữ nói, giọng dần chuyển sang thái độ lạnh lùng. "Đây là nữ tu viện Carmelite ! Ai đó đang trêu chọc cô đấy !" Rồi cô ta cúp máy.
Tôi biết Nim lẩn tránh nhưng việc này thật lố bịch. Trong cơn giận dữ, tôi quyết định dứt khoát sẽ tìm cho ra anh ta. Vì đã trễ làm nên tôi lôi máy sấy ra sấy tóc ngay giữa phòng khách trong lúc đi tới lui cố nghĩ ra tiếp theo nên làm gì. Và tôi nảy ra một ý.
Nim đã cài đặt một số hệ thống quan trọng cho Sở giao dịch Chứng khoán New York vài năm trước. Chắc chắn những người làm về máy tính tại đó biết anh ta. Có lẽ đôi lúc anh ta còn vô tình nói cho họ biết nơi ở để liên hệ về công việc. Tôi gọi cho giám đốc bộ phận máy tính ở đó.
"Tiến sĩ Nim à ?" ông ta nói. "Chưa từng nghe về anh ta. Cô có chắc anh ta làm việc ở đây không ? Tôi làm ở đây ba năm mà không bao giờ nghe cái tên đó".
"Thôi được rồi", tôi thật sự điên tiết lên "Tôi nghe điều đó quá đủ rồi. Tôi muốn nói chuyện với giám đốc các người. Tên ông ta là gì ?"
"Sở... giao... dịch... Chứng... khoán... New... York... không... có... giám đốc !" ông ta nói với kiểu chế nhạo. Khôn thật.
"Vậy nó có cái gì ?" tôi gần như hét vào điện thoại. "Phải có người điều hành công việc ở đó chứ".
"Chúng tôi có chủ tịch", ông ta phẫn nộ đáp, và nói cho tôi biết tên vị chủ tịch đó.
"Tốt, giờ vui lòng chuyển máy cho tôi gặp ông ta".
"Được thôi, thưa quý cô", ông ta cất giọng. "Tôi đoán cô biết mình đang làm gì".
Quả thật tôi biết chứ. Thư ký của chủ tịch vô cùng lịch sự nhưng tôi biết tôi đã đi đúng hướng bởi cái cách bà ta trả lời câu hỏi của tôi.
"Tiến sĩ Nim à ?" giọng của một người phụ nữ lớn tuổi. "Không.. không tôi không nghĩ mình biết cái tên đó. Chủ tịch hiện đang ở nước ngoài. Cô có để lại tin nhắn không ?"
"Có", tôi nói. Theo kinh nghiệm lâu nay với anh chàng bí hiểm đó thì đây là điều tốt nhất tôi có thể mong đợi. "Nếu cô liên hệ với Tiến sĩ Nim, vui lòng nhắn anh ấy rằng cô Velis đang đợi anh ấy gọi tại tu viện RocRaway Greens. Và thêm nữa, nếu đến tối tôi không thấy anh ta liên lạc, tôi thề sẽ dùng đến vũ lực".
Tôi đọc số điện thoại của mình cho người phụ nữ bối rối tội nghiệp kia và cúp máy. Việc làm này thích hợp cho Nim, tôi nghĩ nếu tin nhắn rơi vào tay cấp trên tại Sở giao dịch Chứng khoán New York trước khi đến tay anh ta. Tôi muốn thấy anh ta giải thích việc này.
Sau khi vận dụng hết khả năng để hoàn thành một việc cực kỳ khó khăn, tôi khoác lên người bộ quần áo màu đỏ cho một ngày làm việc ở Con Edison. Tôi mò mẫm khắp đáy tủ tìm giày, lớn tiếng chửi rủa. Con Carioca đã gặm nhấm hết phân nửa số giày của tôi để đó và bới tung mớ còn lại. Cuối cùng tôi mới kiếm ra một đôi phù hợp, mặc áo khoác vào và đi ăn sáng. Giống như Lily, có vài chuyện tôi khó đối mặt khi cái bao tử trống rỗng, và Con Edison là một trong số những chuyện loại đó.
La Galette là một quán rượu nhỏ kiểu Pháp trong vùng, cách khu tôi ở gần một dãy nhà, ở cuối quảng trường Tudor. Nơi đó trải khăn bàn kẻ ca rô và có những chậu hoa phong lữ màu hồng. Khung cửa sổ phía sau quán nhìn sang tòa nhà của tổ chức Liên Hiệp Quốc. Tôi gọi nước ép cam tươi, cà phê đen và món bánh mận.
Khi bữa sáng được dọn lên, tôi mở cặp và lấy ra vài ghi chú đã viết đêm qua trước lúc đi ngủ. Tôi nghĩ có thể rút ra vài điều từ việc xâu chuỗi các sự kiện.
Soiarin có một công thức bí mật và đã bị đưa trở về Nga một thời gian. Fiske không tham gia thi đấu cờ vua trong mười lăm năm. Solarin cảnh báo tôi, với lời lẽ giống hệt bà thầy bói tôi đã gặp ba tháng trước. Solarin và Fiske lời qua tiếng lại trong suốt ván cờ và trận đấu tạm hoãn. Lily nghĩ Fiske gian lận. Fiske bị treo cổ trong trường hợp khả nghi. Có hai phát đạn bắn vào xe Lily, một viên trước khi chúng tôi đến nơi và một viên bắn ra lúc chúng tôi đứng đó. Và sau cùng, cả Saul và bà thầy bói đều biến mất. Dường như không điều gì trùng khớp, chưa kể còn nhiều manh mối chỉ ra mọi chuyện không biết vì sao lại liên quan với nhau. Tôi biết rằng quá nhiều chuyện trùng hợp xảy ra không thể chỉ do tình cờ.
Tôi uống xong tách cà phê đầu tiên và đang ăn dở miếng bánh thì trông thấy anh ta. Tôi đang chăm chú ngó khúc quanh màu xanh của trụ sở Liên Hiệp Quốc qua cánh cửa sổ lớn bằng kính thì có gì đó đập vào mắt. Một người đàn ông bước đi ngoài kia, mặc toàn đồ trắng, một cái áo khoác có mũ trùm đầu với khăn choàng cổ che nửa mặt dưới. Anh ta đang đẩy chiếc xe đạp.
Tôi ngồi bất động trên ghế, ly nước cam uống dở kề trên môi. Anh ta bắt đầu đi xuống những bậc thang đổ dốc hình xoắn ốc nằm kế bên bức tường đá dẫn tới quảng trường đối diện tòa nhà Liên Hiệp Quốc. Tôi đặt ly nước xuống và đứng bật dậy. Tôi đặt vài tờ tiền lên bàn, nhét hết giấy tờ vào cặp xách, chộp lấy cặp và áo khoác, chạy như bay ra khỏi cánh cửa kính của quán.
Những bậc thềm đá trơn tuột phủ băng và muối mỏ. Tôi xỏ áo khoác vào cánh tay, lóng ngóng với cặp xách khi phóng xuống những bậc thang. Người đàn ông cùng chiếc xe đạp mất hút ở góc đường. Khi đang cho tay kia vào áo, mũi đôi giày cao gót của tôi kẹt vào băng, tôi rút chân ra và ngã khuỵu xuống hai bậc thang. Phía trước mặt tôi, đoạn trích trong Ngôn sứ Isaiah được khắc lên bức tường đá.
Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến.
Thật là đen đủi. Tôi đứng dậy, phủi băng tuyết khỏi đầu gối. Ngôn sứ Isaiah chứa đựng nhiều điều để học hỏi về con người và đất nước. Đó không phải cái trong hơn năm ngàn năm, chiến tranh không bùng nổ trên hành tinh chúng ta. Những người phản đối chiến tranh Việt Nam đang dồn lại quảng trường. Tôi phải khó nhọc len lỏi qua khi họ vẫy những dấu hiệu hòa bình bồ câu nhỏ. Tôi muốn thấy họ đúc tên lửa đạn đạo thành cuốc cày.
Tôi trượt qua góc đường trên gót giày bị gãy, va vào tường Viện nghiên cứu Hệ thống của IBM. Người đàn ông hiện ở phía trước cách tôi cả khu nhà, cưỡi trên chiếc xe đạp. Anh ta đến ngã tư dẫn sang trụ sở Liên Hiệp Quôc và ngừng lại chờ đèn xanh.
Tôi gấp rút chạy trên vỉa hè đuổi theo, đôi mắt lạnh buốt, vẫn đang cố cài khuy áo khoác và đóng cặp lại trong lúc gió mạnh thổi bạt vào người. Đang chạy giữa chừng đến khu nhà, tôi thấy đèn giao thông đổi màu cùng lúc anh ta thong thả đạp xe qua đường. Tôi bước dồn nhưng đèn đỏ lại sáng lần nữa ngay khi tôi đến ngã tư và xe cộ bắt đầu tuôn đi. Mắt tôi dán chặt vào bóng người khuất dần bên kia đường.
Anh ta lại bước xuống và dắt xe lên những bậc tam cấp đi vào tòa nhà. Thế là hết đường thoát ! Không có lối khác đi ra khỏi khu vườn tượng, thế nên tôi có thể yên tâm. Khi trấn tĩnh lại và chờ đèn xanh, tôi chợt nhận ra điều mình đang làm.
Hôm qua tôi gần như là nhân chứng của một vụ có khả năng là mưu sát và lọt vào tầm ngắm của viên đạn bay, tất cả xảy ra ở chốn công cộng trong thành phố New York. Giờ tôi đang bám theo một gã đàn ông không quen biết, chỉ vì hắn giống người trong bức tranh của tôi, giống chỗ chiếc xe và tất cả. Nhưng làm thế nào gã đó có thể giống đến từng li từng tí như trong tranh được nhỉ ? Tôi nghĩ nát óc mà vẫn không có câu trả lời, không còn cách nào khác, đèn đã chuyển màu, tôi nhìn đường rồi bước xuống khỏi lề.
Bỏ lại sau lưng cánh cổng sắt của trụ sở Liên Hiệp Quốc, tôi đi lên những bậc tam cấp. Sàn nhà trải bê tông trắng, trên ghế đá phía bên kia có một bà lão mặc đồ đen đang cho lũ bồ câu ăn. Với chiếc khăn choàng đen quấn quanh đầu, bà vươn người ra trước, ném thóc cho những chú chim óng ánh sắc bạc tụm lại thành đàn, phát ra những tiếng gù gù và vây quanh bà như đám mây trắng lớn. Và đứng trước mặt bà là người đàn ông trên chiếc xe đạp.
Tôi phát hoảng, đứng im quan sát họ, không biết làm gì. Họ đang nói chuyện với nhau. Ba lão quay người nhìn về phía tôi và nói gì đó với ngươi đàn ông. Gã ấy gật đầu cái rụp, một tay dẫn xe, quay đi mà không hể nhìn lại, và nhanh chóng đi xuống những bậc thang về hướng dòng sông. Tôi trấn tĩnh lại và chạy theo hắn. Cả đàn bồ câu đậu ở cầu thang ồ ạt bay vụt lên, che khuất tầm nhìn của tôi. Tôi tiến đến cầu thang và lấy tay che mặt khi chúng lượn vòng quanh tôi.
Ở chân cầu thang nhìn ra sông là bức tượng người nông dân lớn bằng đồng do Xô Viết trao tặng. Bức tượng mô tả cảnh anh ta rèn thanh kiếm thành lưỡi cày. Trước mặt tôi là dòng sông Đông đóng băng, bảng hiệu Pepsi-Cola lớn bên bờ đối diện, xung quanh có các ống khói lò sưởi có khói bốc lên cuồn cuộn. Bên trái là khu vườn, tuyết che phủ hàng cây rộng thẳng tắp. Không dấu chân nào in hằn lên bề mặt tuyết trơn láng. Con đường mòn trải sỏi chạy dài dọc bờ sông, ngăn cách với khu vườn bằng những tường cây thấp hơn cũng không có bóng người nào cả.
Hắn ta đã đi đâu nhỉ ? Không có lối khác ra khỏi khu vườn mà. Tôi chậm rãi quay lại đi lên cầu thang đến tòa nhà. Bà lão ở cổng biến mất nhưng tôi thoáng thấy bóng người lờ mờ đang vào cửa dành cho khách tham quan. Chiếc xe dựng bên ngoài là của hắn. Làm cách nào hắn qua mặt tôi nhỉ ? Tôi tự hỏi khi hấp tấp chạy vào. Bên trong không ai khác trừ viên bảo vệ đang đứng trò chuyện với nhân viên lễ tân trẻ tuổi tại chiếc bàn hình bầu dục.
"Xin lỗi", tôi lên tiếng, "ông có thấy người đàn ông mặc đồ trắng nào vừa vào đây không ?"
"Không để ý", viên bảo vệ trả lời, khó chịu vì bị cắt ngang câu chuyện.
"Trong đây ông sẽ đi đâu nếu muốn trốn ai đó ?" tôi hỏi. Câu nói gây sự chú ý. Cả hai nhìn tôi không chớp mắt như thể tôi là kẻ gây rối. Tôi vội vàng giải thích, "ý tôi là, nếu ông muốn ở một mình, không bị quấy rầy ?"
"Các đại biểu đến Phòng Suy ngẫm", người bảo vệ nói. "Nơi đó rất yên tĩnh, nó ngay đằng kia". Ông ta chỉ tay về cánh cửa bên kia sàn nhà đá hoa cương rộng lớn kẻ ô vuông hồng xám như bàn cờ. Cạnh bên cánh cửa là tấm kính màu xanh của Chagall (danh họa xuất sắc của thế kỷ 20). Tôi gật đầu cảm ơn và đi qua bên đó. Khi tôi bước vào Phòng Suy ngẫm, cánh cửa lặng lẽ khép lại sau lưng tôi.
Căn phòng dài và tối như hầm mộ. Bóng tối khiến tôi suýt vấp phải một trong nhiều hàng ghế dài be bé đặt gần cửa. Giữa phòng có một phiến đá hình dạng như cỗ quan tài, bề mặt của nó được soi rọi bởi ánh sáng yếu ớt phát ra từ ngọn đèn nhỏ như đầu bút chì. Căn phòng hoàn toàn yên ắng, lạnh lẽo và ẩm thấp. Tôi cảm thấy đồng tử trong mắt giãn ra để điều tiết làm quen với ánh sáng.
Tôi ngồi vào một trong những dãy ghế. Tiếng cót két phát ra nho nhỏ. Đặt chiếc cặp xuống cạnh ghế, tôi nhìn cỗ quan tài. Lơ lửng trong không trung như khối đá trôi nổi, nó rung lên kỳ lạ. Hình ảnh đó có tác dụng như thuốc an thần, gần như là thuốc ngủ.
Cánh cửa sau lưng tôi lại hé mở không một tiếng động, để lọt vài tia sáng mỏng manh rồi khép lại, khi đó tôi mới từ từ quay người sang.
"Đừng la lên", một giọng thì thầm phía sau. "Tôi sẽ không làm hại cô, nhưng cô phải yên lặng".
Tim tôi giật thót khi nhận ra giọng nói. Tôi lập tức nhảy dựng và quay lại, lưng đập vào phiến đá.
Trong ánh sáng yếu ớt là hình dáng Solarin, đôi mắt xanh của anh ta phản chiếu hình ảnh phiến đá. Tôi muốn nhảy lên, máu không dồn nổi lên não. Tôi đặt tay ra sau và chống vào phiến đá. Solarin bình thản đứng đối diện, vẫn chiếc quần xám thường mặc trước đây, giờ anh ta khoác chiếc áo da màu sậm khiến da dẻ trông xanh xao hơn lần trước
"Ngồi xuống", anh ta hạ giọng nói. "Cạnh tôi này. Tôi chỉ có vài phút".
Đôi chân yếu ớt, tôi làm theo những gì anh ta bảo và không hé môi.
"Hôm qua tôi đã cố cảnh báo nhưng cô không nghe. Giờ cô biết là tôi nói thật rồi đấy. Cô và Lily Rad sẽ phải tránh xa giải đấu nếu cô không muốn có kết cục như Fiske".
"Anh không tin ông ta tự tử", tôi thì thào đáp lại.
"Đừng ngốc thế. Ông ta bị bẻ gãy cổ bởi một tay chuyên nghiệp. Tôi là người cuối cùng thấy ông ta còn sống, hoàn toàn khỏe mạnh. Hai phút sau, ông ta chết. Và các bài báo mất.."
"Trừ khi anh giết ông ta", tôi ngắt lời. Solarin mỉm cười, nụ cười quả thật rất tươi, nó làm thay đổi sắc mặt anh ta. Solarin ngả người đặt cả hai tay lên vai tôi. Tôi cảm thấy hơi ấm qua các ngón tay của anh ta.
"Tôi sẽ nguy to nếu bị bắt gặp đi với cô, nên xin hãy nghe những gì tôi phải nói. Tôi không bắn vào xe bạn cô. Nhưng sự mất tích của bác tài xế không phải tai nạn".
Tôi kinh ngạc nhìn anh ta. Lily và tôi đã nhất trí không kể ai nghe điều đó. Làm sao Solarin biết chuyện đó nếu không phải anh ta làm ?
"Anh biết chuyện gì xảy ra với Saul không ? Anh có biết ai bắn vào xe không ?"
Solarin nhìn tôi không nói lời nào. Tay anh ta vẫn còn đặt trên vai tôi. Giờ anh ta bấu tôi chặt hơn trong khi nở nụ cười dễ thương ấm áp lần nữa. Anh ta cười trông rất trẻ.
"Họ nói đúng về cô", anh ta nói. "Cô là người đó".
"Ai nói đúng ? Anh biết gì mà không nói tôi nghe", tôi tức giận nói. "Anh cảnh báo tôi, mà không cho tôi biết lý do vì aao. Anh biết bà thầy bói không ?"
Solarin đột ngột buông tay khỏi vai tôi và trở lại bộ mặt nghiêm nghị. Tôi nhận ra mình đang đánh mất vận may nhưng không thể ngừng nói.
"Anh biết", tôi nói, "Và gã trên xe đạp là ai ? Anh phải trông thấy gã ta nếu theo dõi tôi ! Tại sao anh theo cảnh báo tôi mà cứ để tôi mù tịt về mọi thứ ? Anh muốn gì hả ? Tất cả chuyện này với tôi là sao ?" tôi ngừng lại lấy hơi và liếc nhìn Solarin. Anh ta đang nhìn tôi thật gần.
"Tôi không biết phải nói gì với cô", anh ta nói. Giọng rất nhẹ nhàng và lần đầu tiên tôi mới nghe âm điệu Slavơ rõ rệt trong cách nói tiếng Anh rõ ràng và trang trọng của anh ta. "Bất cứ điều gì tôi nói cũng chỉ khiến cô lâm nguy hơn thôi. Tôi yêu cầu cô chỉ cần tin tôi, tôỉ đã rất mạo hiểm chỉ để nói chuyện với cô".
Tôi quá đỗi ngạc nhiên khi anh ta đến và vuốt tóc tôi nhẹ nhàng như thể tôi là một đứa trẻ. "Cô phải tránh xa giải đấu cờ vua này. Đừng tin ai hết. Cô có những người bạn quyền lực về phe mình nhưng cô không hiểu cô đang chơi trò gì đâu..."
"Phe nào ?" tôi nói. "Tôi không chơi trò gì hết",
"Có, cô đang chơi", anh ta đáp, nhìn xuống tôi với vẻ mặt như muốn choàng tay ôm lấy tôi. "Cô đang chơi một ván cờ vua. Nhưng đừng lo lắng, tôi là bậc thầy về môn này. Và tôi về phe cô".
Anh ta đứng lên và đi về phía cửa, tôi mụ mẫm lững thững bước theo. Khi đến cửa, Solarin áp lưng dựa tường và nghe ngóng như đợi ai đó mở cửa. Sau đó anh ta quay lại nhìn tôi trong lúc tôi còn đứng đó, vẫn bối rối.
Anh ta đặt một tay vào áo và hất đầu ra hiệu tôi ra trước. Tôi thoáng thấy khẩu súng anh ta đang giấu trong áo. Tôi khó nhọc nuốt nước miếng và nhanh chóng ra cửa, không ngoái lại.
Ánh sáng mùa đông tràn ngập qua những bức tường kính của hành lang. Tôi nhanh chóng đi ra cửa. Choàng áo khoác quanh người, tôi băng qua quảng trường rộng lớn lạnh lẽo và bước hối hả xuống những bậc thang ra đường Sông Đông.
Đang đi giữa chừng, chống chọi với cơn gió lạnh lẽo, tôi bất chợt dừng lại trước cổng ở lối vào của đại biểu. Tôi đã để quên chiếc cặp của mình cạnh băng ghế trong Phòng Suy ngẫm. Trong đó không chỉ có sách mượn thư viện mà còn có những ghi chú của tôi về các sự kiện xảy ra hôm trước.
Xui thật ! Để Solarin tìm ra những giấy tờ đó và tin rằng tôi đang điều tra thân thế anh ta chi tiết hơn anh ta ngờ tới. Tất nhiên những điều đó chính xác là những gì tôi dự định làm. Tôi tự mắng mình ngốc quá và quay lại trên đôi giày sứt gót, bước gấp về trụ sở Liên Hiệp Quốc.
Tôi vào hành lang. Nhân viên tiếp tân đang bận rộn với một vị khách tham quan, không thấy viên bảo vệ đâu. Tôi tự quả quyết với mình rằng thật nực cười khi sợ quay lại căn phòng đó một mình. Toàn bộ hành lang vắng tanh, tôi có thể thấy đường lên dãy cầu thang xoắn ốc không có bóng người.
Đi nhanh qua hành lang, tôi liếc lại sau lưng khi đến cánh cửa sổ kính Chagall. Tôi mở cửa phòng và nhìn vào trong.
Mất một giây mắt tôi mới quen với ánh sáng trong đó nhưng ngay từ chỗ đang đứng tôi cũng thấy mọi thứ không như lúc tôi rời khỏi đây. Solarin đã đi, cặp xách của tôi cũng không còn. Và trên bề mặt phiến đá là một thân thể. Tôi đứng ngay cửa, sợ hãi đến tột cùng. Thân người dài, mặc đồng phục tài xế nằm duỗi ra trên phiến đá. Máu tôi đông cứng, tai tôi ù đi. Hít một hơi thật sâu, tôi đi từng bước vào phòng và để cửa tự đóng lại phía sau.
Tôi đến bên phiến đá và nhìn gương mặt trắng bệch nhợt nhạt dưới ánh đèn. Đó đúng là Saul, và ông ta đã chết. Tôi thấy buồn nôn và sợ chết khiếp, từ trước đến giờ tôi chưa thấy xác chết, kể cả ở đám tang. Tôi bắt đầu nấc lên như sắp khóc.
Nhưng chưa kịp nấc thì bất chợt tôi đã nghĩ ra một điều khác: Saul không tự bò lên phiến đá này được và ông ta chỉ vừa tắt thở.
Có người đã đặt ông ta ở đây, và người đó đã ở trong phòng này mấy phút trước.
Tôi nhảy bổ đến cánh cửa dẫn ra hành lang. Nhân viên tiếp tán vẫn đang giải thích gì đó với vị khách tham quan. Lúc đầu tôi định báo động cho ai đó nhưng lại nghĩ không nên. Tôi có thể gặp rắc rối với việc giải thích làm sao người tài xế của bạn tôi lại bị giết ở đó, làm sao tôi tình cờ thấy cái xác. Làm sao trùng hợp đến độ tôi cùng có mặt tại vụ án mạng bí ẩn hôm qua. Làm thế nào bạn tôi, chủ của ông tài xế này, cùng ở đó hôm qua. Và sao chúng tôi lại không trình báo về hai viên đạn xuất hiện trên xe cô ấy.
Tôi ra khỏi trụ sở Liên Hiệp Quốc và lao thẳng xuống những bậc thang dẫn ra đường. Tôi biết mình nên đến thẳng đồn cảnh sát nhưng tôi khiếp sợ. Saul bị giết trong gian phòng chỉ vài phút sau khi tôi đi khỏi. Fiske bị giết chỉ mấy phút sau giờ giải lao. Cả hai vụ, nạn nhân đều bị sát hại ở chốn đông người. Và trong cả hai vụ đều có mặt Solarin. Solarin có một khẩu súng, và anh ta ở đó, trong cả hai vụ.
Vậy là chúng tôi đang chơi một trò chơi. À, nếu thế tôi sẽ tự mình tìm ra luật chơi. Khi đi qua con đường lạnh lẽo để về đến văn phòng ấm áp, an toàn, tôi không chỉ cảm thấy sợ hãi và bối rối. Tôi quyết tâm phải vén được bức màn bí mật quanh trò chơi này, xác định luật chơi và người tham gia. Và sẽ nhanh thôi. Vì những nước đi đang tiến đến quá gần. Tôi không biết rằng cách đó ba mươi dãy nhà, một hành động sắp diễn ra làm thay đổi cuộc đời tôi...
***
'"Brodski tức giận", Gogol lo lắng nói. Ngay khi thấy Solarin bước qua cửa, anh ta bật dậy khỏi chiếc ghế êm ái, dễ chịu trong hành lang của khách sạn Algonquin. "Anh đi đâu vậy ?" anh ta hỏi, làn da xanh xao trắng bệch như cái bao gối.
"Ra ngoài hít thở khí trời", Solarin bình thản đáp. "Anh biết đấy, đây đâu phải nước Nga Xô Viết. Người dân New York đi dạo mọi lúc mà không cần báo trước với chính quyền dự định của mình. Bộ anh ta nghĩ tôi đang đào ngũ à ?"
Gogol không đáp lại nụ cười của Solarin. "Ông ta nổi điên". Anh ta lo lắng nhìn quanh nhưng không có ai khác ngoại trừ một phụ nữ lớn tuổi đang uống trà tận cuối hành lang xa kia. "Sáng nay, Hermanold nói với chúng tôi giải đấu hoãn vô thời hạn đến khi điều tra xong vụ của Fiske. Ông ta bị bẻ gãy cổ".
'Tôi biết", Solarin đáp, nắm lấy khuỷu tay Gogol và đưa anh ta đến cái bàn đặt tách trà nguội. Anh ra hiệu cho Gogol ngồi xuống uống hết trà. "Tôi thấy cái xác, nhớ không ?"
"Vấn đề là chỗ đó", Gogol nói. "Anh ở một mình với ông ta ngay trước khi xảy ra án mạng. Tệ thật. Chúng ta không được gây chú ý. Nếu có điều tra, chắc chắn họ sẽ thẩm vấn bắt đầu từ anh".
"Sao anh không để tôi lo việc đó ?" Solarin nói.
Gogol cầm viên đường và cho vào miệng. Anh ta trầm ngâm mút viên đường và nín thinh.
Người phụ nữ lớn tuổi cuối hành lang đằng xa đang khập khiễng đến bàn của họ. Bà ta mặc đồ đen và chống gậy đi đứng khó khăn. Gogol ngước mắt nhìn bà ta.
"Xin thứ lỗi", bà ta ngọt ngào cất giọng khi đến bên hai người đàn ông. "Phục vụ không cho tôi sacarin, và tôi không thể tự đi lấy. Anh có thể cho tôi xin một ít không ?"
"Tất nhiên là được", Solarin nói. Với tay tới lọ đường trên khay của Gogol, anh ta rút vài bịch màu hồng và đưa cho bà ta. Bà ta lịch sự cảm ơn và lui bước.
"Ôi, không", Gogol thốt lên, nhìn phía thang máy. Brodski đang xăm xăm băng qua căn phòng, len lỏi qua những dãy bàn uống trà và ghế bọc vải hoa. "Tôi đã phải đưa anh lên ngay khi anh về tới", Gogol khẽ nói với Solarin rồi đứng dậy, gần như hất đổ cả khay trà, trong khi đó Solarin vẫn ngồi.
Brodski là một người cao lớn, lực lưỡng với khuôn mặt rám nắng. Anh ta trông giống một doanh nhân châu Âu trong bộ com lê hải quân có sọc nhuyễn và cà vạt vải lụa chéo. Anh ta hùng hổ đến bàn như thể đến dự cuộc họp rồi dừng trước mặt Solarin và giơ tay ra. Solarin bắt tay mà không đứng dậy. Sau đó Brodski ngồi xuống.
"Tôi đã thông báo bộ trưởng về sự biến mất của anh", Brodski mở lời.
"Tôi không biến mất, tôi chỉ đi dạo".
"Đi mua sắm hả ?" Brodski nói. "Cái cặp xách đẹp đấy. Anh mua nó ở đâu thế ?" Anh ta chỉ vào chiếc cặp đặt trên nền nhà cạnh Solarin, cái mà ngay cả Gogol không để ý. "Bằng da Ý. Đúng là thứ xứng tầm một tay cờ Xô Viết", anh ta mỉa mai. "Anh có phiền không nếu tôi xem bên trong cặp ?"
Solarin nhún vai, và Brodski lôi cặp đặt lên người rồi mở nó ra, bắt đầu xem xét các thứ bên trong.
"Nhân tiện hỏi anh, người phụ nữ vừa đi khỏi lúc tôi đến là ai vậy ?"
"Chỉ là một bà già", Gogol nói. "Bà ta muốn có đường cho vào tách trà".
"Bà ta hẳn không cần gấp lắm", Brodski đăm chiêu khi đang giở xấp giấy. "Bà ta đi ngay khi tôi đến". Gogol liếc nhìn cái bàn chỗ bà ta ngồi. Bà ấy đã đi nhưng tách trà vẫn còn đó.
Brodski để giấy tờ trở vào cặp và đưa nó lại cho Solarin. Rồi anh ta nhìn Gogol thở dài.
"Gogol, anh là đồ ngốc", anh ta nói thản nhiên như thể bàn chuyện thời tiết. "Tính đến giờ, kiện tướng vĩ đại của chúng ta đã qua mặt anh ba lần rồi. Một lần khi cật vấn Fiske ngay trước vụ ám sát. Một lần khi ra ngoài lấy chiếc cặp không chứa gì ngoài kẹp giấy, vài mẩu giấy trắng và hai quyển sách về công nghiệp dầu khí. Rõ ràng thứ giá trị đã bị lấy khỏi cặp. Và giờ, ngay trước mặt anh đây, anh ta đưa ghi chép cho gián điệp chính tại ghế này”. Gogol mặt đỏ như gấc và đặt tách trà xuống.
"Nhưng tôi cam đoan..."
"Cho tôi xin cái cam đoan của anh", Brodski cộc lốc ngắt lời. Anh ta quay sang Solarin. " Bộ trưởng nói chúng ta phải liên hệ trong vòng hai mươi bốn giờ, bằng không sẽ bị triệu hồi về Nga. Ông ta không mạo hiểm để lộ vỏ bọc nếu giải đấu này hoãn lại. Thật là tệ khi trình diện và nói rằng chúng ta chỉ lưu lại New York để mua sắm cặp xách da Ý đã qua sử dụng,' anh ta chế nhạo. "Anh có hai mươi bốn giờ để thu dọn, thưa kiện tướng".
Solarin nhìn Brodski trong đáy mắt, rồi anh nở nụ cười lạnh lùng và nói "Anh có thể thông báo với Bộ trưởng rằng chúng ta đã liên lạc, Brodski thân mến của tôi".
Brodski không nói gì, chờ Solarin tiếp lời. Khi Solarin vẫn trầm ngâm thì anh ta lên tiếng "Vậy à ? Đừng để chúng tôi hồi hộp".
Solarin nhìn chiếc cặp xách đỏ trong lòng. Cuối cùng anh ta ngước lên lại nhìn Brodski, khuôn mặt lạnh tanh.
"Những quân cờ ở Algeria", anh ta nói.
***
Đến giữa trưa tôi vẫn không làm gì được. Tôi điên cuồng cố liên lạc với Nim nhưng vô ích. Tôi vẫn nhìn thấy thi thể kinh khủng của Saul trên phiến đá và cố nghĩ xem tất cả chuyện này có nghĩa gì, trùng khớp với nhau thế nào.
Tôi nhốt mình trong văn phòng ở Con Ed nhìn ra lối vào trụ sở Liên Hiệp Quốc, lắng nghe bản tin trên đài và chờ xe cảnh sát chạy tới trước trụ sở khi thi thể được phát hiện thấy. Nhưng không có chuyện đại loại như vậy xảy ra.
Tôi cố liên lạc với Lily nhưng cô ta đã ra ngoài. Văn phòng Harry cho biết ông ta đã đi đến Buffalo để xem các chuyến hàng áo lông bị thiệt hại và đến tận tối mịt mới trở về. Tôi định gọi cảnh sát và để lại tin nhắn nặc danh về xác chết của Saul nhưng rồi họ sẽ sớm phát hiện thôi. Một xác chết không thể nằm trong trụ sở Liên Hiệp Quốc mà không bị phát hiện.
Hơn mười hai giờ, tôi nhờ thư ký mua bánh mì giùm. Điện thoại reo, tôi bắt máy. Sếp Lisle gọi. Ông ta có vẻ vui mừng gượng gạo.
"Chúng tôi có vé và kế hoạch công tác cho cô rồi, Veil, ông ta nói, "Văn phòng đợi cô ở Paris sáng thứ hai tới. Cô sẽ nghỉ đêm ở đó và lên đường đến Algieri vào sáng hôm sau. Tôi sẽ gửi vé và giấy tờ đến nhà cô trưa nay. Mọi thứ ổn chứ ?", tôi nói với ông ta mọi thứ đều ổn
"Cô không có vẻ hào hứng, Veils, Cô cứ suy tính lại về chuyến đi đến châu Phi không ?"
"Không" tôi tự tin trả lời. "Tôi có thể nghỉ ngơi. New York bắt đầu khiến tôi căng thẳng".
"Rất tốt, thế nhé. Chúc cô thượng lộ bình an, Veils. Đừng nói tôi không cảnh báo cho cô nhé".
Cúp máy, vài phút sau thư ký trở lại mang cho tôi bánh mì và sữa. Tôi đóng cửa phòng và cố ăn nhưng chỉ nuốt nổi vài miếng. Tôi cũng không thể tập trung vào quyển sách nói về lịch sử ngành dầu khí. Tôi chỉ ngồi đó và nhìn chằm chằm vào cái bàn.
Khoảng ba giờ, thư ký gõ cửa phòng và bước vào, mang theo một cặp xách.
"Một người đàn ông đưa nó cho bảo vệ dưới lầu", cô ta nói với tôi. "Anh ta để kèm mẩu giấy". Tôi cầm mảnh giấy với đôi tay run run và chờ người thư ký rời khỏi phòng. Tôi lục lọi ngăn bàn tìm dao rọc giấy, rạch bì thư và rút mạnh tờ giấy ra.
"Tôi lấy vài thứ giấy tờ của cô", mẩu giấy ghi. "Xin đừng về nhà một mình". Mẩu giấy không đề tên nhưng tôi nhận ra lối diễn đạt này. Tôi nhét tờ giấy vào túi và mở cặp xách. Mọi thứ còn nguyên vẹn, tất nhiên ngoại trừ những ghi chú của tôi về Solarin.
***
Sáu giờ ba mươi tối, tôi vẫn còn trong văn phòng. Thư ký đang ngồi đánh máy ngoài kia, dù gần như mọi người đã về hết. Tôi giao cho cô ấy cả đống giấy tờ để tôi không bị ở lại một mình, nhưng tôi đang tự hỏi làm sao về nhà. Hai nơi chỉ cách một dãy nhà và có vẻ ngớ ngẩn khi gọi taxi để về căn nhà cách công sở chỉ vỏn vẹn một dãy nhà.
Nhân viên lao công lên dọn dẹp, Anh ta đang đổ tàn thuốc vào thùng rác thì điện thoại reo lên. Tôi suýt đánh rơi điện thoại khỏi bàn khi vội vàng nhấc máy.
"Em làm việc hơi trễ đây ?" giọng nói quen thuộc lâu ngày vang lên. Tôi muốn bật khóc vì nhẹ nhõm.
"Nếu không phải sơ Nim", tôi nói, cố kiềm giọng. "Tôi e anh gọi quá muộn, tôi đang thu xếp rời đi đến chốn ẩn dật. Giờ tôi là thành viên đã gia nhập vào nhóm các nữ tu phụng sự Chúa rồi".
"Chắc chắn đó là điều vừa đáng tiếc vừa lãng phí", giọng Nim vui vẻ.
"Sao muộn thế này anh biết gọi đến đây tìm em ?" tôi hỏi.
"Còn nơi nào khác cho một người cống hiến không biên giới như em vào buổi tối mùa đông ?" anh ta nói. "Hẳn em giờ đã đốt trụi nguồn cung cấp dầu dự trữ của thế giới... Khỏe không, cô bạn thân mến ? Anh biết em đã cố gọi cho anh". Tôi chờ đến khi người lao công đi khỏi mới trả lời.
"Em e là mình đang gặp rắc rối nghiêm trọng", tôi cất lời.
"Vốn thế mà, em luôn gặp rắc rối", Nim nói tỉnh bơ. "Đó là một trong những điều anh thấy thích thú ở em. Đầu óc như anh trở nên kiệt sức với liên tiếp những cuộc chạm trán đoán trước được".
Tôi liếc nhìn lưng người thư ký qua lớp kính của văn phòng.
"Em gặp rắc rối kinh khủng", tôi rít lên trong điện thoại. "Hai người bị giết gần như trước mặt em trong hai ngày qua ! Em được cảnh báo có gì đó liên quan đến sự hiện diện của mình tại các trận đấu cờ vua..."
"Ôi", Nim thốt lên. "Em đang làm gì vậy, bịt miệng nói chuyện à ? Anh không nghe rõ. Em được cảnh báo về cái gì ? Nói lớn lên".
"Một bà thầy bói tiên đoán em gặp nguy hiểm", tôi kể. "Và giờ em nguy rồi. Những vụ ám sát này.
"Cat thân mến", Nim bật cười nói. "Một bà thầy bói ư ?"
"Bà ta không phải người duy nhất", tôi nói, miết ngón tay vào lòng bàn tay "Anh có biết Alexander Solarin không ?" Nim im lặng giây lát.
"Một tay cờ vua phải không ?" cuối cùng anh ta lên tiếng.
"Anh ta là người nói với em..." tôi bắt đầu nói giọng yếu ớt, nhận ra tất cả chuyện này nghe quá khó tin.
"Sao em quen Alexander Solarin ?" Nim hỏi.
"Hôm qua em đến xem giải đấu cờ vua. Anh ta đến và nói với em rằng em gặp nguy hiểm. Anh ta cứ khăng khăng về điều đó".
"Có lẽ anh ta nhầm em với người khác", Nim nói. Nhưng giọng anh ta vẫn nghe xa xôi, như thể chìm đắm trong suy nghĩ.
"Có thể", tôi thừa nhận. "Nhưng rồi sáng hôm nay tại trụ sở Liên Hiệp Quốc, anh ta nói rõ..."
"Chờ chút", Nim ngắt lời. "Anh tin mình thấy được vấn đề rồi. Bà thầy bói và tay cờ Nga theo dõi em, thì thầm những cảnh báo kỳ lạ vào tai em. Những xác chết đang rơi từ không trung xuống. Hôm nay em ăn gì ?"
"Ơ, em ăn bánh mì và uống sữa".
"Quá đói sẽ gây ra chứng hoang tưởng", Nim nói giọng phấn khởi. "Thu dọn đồ đạc đi. Anh sẽ chạy xe đến gặp em dưới lầu năm phút nữa. Chúng ta sẽ đi ăn một bữa thịnh soạn, và những điều hoang đường này sẽ nhanh chóng biến mất".
"Đó không phải chuyện hoang đường", tôi nói. Mặc dù tôi nhẹ nhõm khi Nim sẽ đến đón, ít ra tôi cũng có thể về nhà an toàn.
"Anh thấy thế này", anh ta đáp. "Từ chỗ anh đứng em trông quá ốm, nhưng bộ đồ đỏ em đang mặc rất hấp dẫn".
Tôi nhìn quanh văn phòng, rồi nhìn ra ngoài đưòng phố sụp tối trước trụ sở Liên Hiệp Quốc. Đèn đường vừa bật sáng nhưng hầu hết các vỉa hè còn chìm trong bóng tối. Tôi trông thấy một bóng người đứng ở trạm điện thoại gần bến xe buýt. Người đó giơ tay lên.
"Bạn thân mến", giọng Nim nói qua điện thoại, "nếu em bận tâm về nguy hiểm, anh đề nghị em thôi nhởn nhơ tại những khung cửa sổ sáng trưng khi trời tối. Tất nhiên chỉ là gợi ý". Rồi anh ta cúp máy.
***
Chiếc Morgan xanh sẫm của Nim dừng trước cổng Con Edison.
Tôi chạy xuống và nhảy vào băng ghế bên trái. Chiếc xe mở mui và sàn xe làm bằng gỗ. Bạn có thể thấy vỉa hè lướt qua những khoảng hở.
Nim mặc quần jean bạc màu, áo vét lưng ngắn với cổ tay áo có thun đắt tiền của Ý và một khăn lụa trắng có tua. Mái tóc màu đồng của anh phất phơ trong gió khi chúng tôi chạy khỏi lề đường. Tôi tự hỏi sao mình có nhiều bạn thích chạy xe hạ mui vào mùa đông thế không biết. Nim ngoặt xe, ánh sáng ấm áp của những ngọn đèn đường óng sắc vàng lên tóc anh.
"Chúng ta sẽ tạt qua nhà em để em có thể thay bộ đồ ấm hơn", Nim nói. "Nếu em thích, anh sẽ vào trước dò mìn cho". Do gen di truyền xoắn kỳ lạ nên đôi mắt Nim có hai màu khác nhau, một nâu và một xanh dương. Tôi luôn có cảm giác anh ta nhìn tôi, đồng thời nhìn thấu tâm can tôi. Một cảm giác tôi không thích chút nào.
Chúng tôi dừng xe trước nhà. Nim bước ra chào Boswell, nhét tờ hai mươi đô vào lòng bàn tay ông ta.
"Chúng tôi chỉ ở đây vài phút, ông bạn tốt bụng", Nim nói. "Ông có thể trông giùm tôi chiếc xe trong lúc chúng tôi vào trong được không ? Nó là của gia truyền đây".
"Dĩ nhiên được, thưa ông", Boswell lịch sự trả lời. Ông ta còn vòng sang mở cửa xe cho tôi. Đáng kinh ngạc về những thứ đồng tiền có thể mua được.
Tôi lấy thư ở bàn, phong bì của Fulbright Cone đựng vé của tôi. Nim và tôi bước vào thang máy lên lầu.
Nim nhìn cánh cửa nhà tôi và nói không cần đặt mìn ở đó. Nếu có người muốn đột nhập thì chỉ cần có chìa khóa. Như hầu hết các căn hộ ở New York, nhà tôi có cánh cửa sắt dày khoảng 5cm và có những cái chốt đôi ở giữa.
Nim vào trước, đi vào hành lang dẫn đến phòng khách.
"Anh thấy nếu có người làm đến mỗi tháng một ngày thì nơi này sẽ xuất hiện phép màu đấy", anh ta nhận xét. "Anh nghĩ em giữ lại bộ sưu tập quá nhiều bụi bẩn và giấy vụn này không giúp ích gì khác ngoài mục đích làm công cụ dò tội phạm". Anh ta thổi một lớp bụi khỏi chồng sách và cầm một quyển lên, lật sơ qua.
Tôi lục tủ và lấy ra cái quần nhung kaki và áo len dài tay không nhuộm màu kiểu dân chài Ai-Len. Khi tôi vào nhà tắm thay đồ thì Nim đang ngồi ở cây đàn piano, bấm phím vu vơ.
"Em có chơi đàn không ?" anh ta nói vọng ra hành lang. "Anh để ý các phím đàn không dính bụi".
"Em học nhạc mà", tôi lên tiếng từ trong nhà tắm. "Nhạc sĩ là chuyên gia máy tính giỏi nhất. Tốt hơn kết hợp kỹ sư và nhà vật lý". Theo tôi biết thì Nim có bằng kỹ sư và vật lý học. Phòng khách im lặng trong khi tôi thay đồ. Khi tôi trở ra hành lang đi tất thì Nim đang đứng giữa phòng dán mắt vào bức vẽ người đàn ông trên xe đạp mà tôi đã úp vào tường.
"Cẩn thận đấy", tôi nói. "Sơn còn ướt".
"Em vẽ à ?" anh ta nói, vẫn nhìn chằm chằm bức tranh.
"Chính nó lôi em vào mọi rắc rối", tôi giải thích. "Em vẽ nó, rồi em trông thấy một gã nhìn giống hệt trong tranh. Nên em đuổi theo...".
"Em đuổi theo à ?" Nim đột ngột ngước lên nhìn tôi.
Tôi ngồi ở ghế chơi đàn và bắt đầu kể câu chuyện cho anh ta nghe, bắt đầu từ cuộc viếng thăm của Lily và Carioca. Chỉ mới hôm qua thôi ư ? Lần này Nim không ngắt lời tôi. Thỉnh thoảng anh ta ngước nhìn bức tranh trong lúc tôi nói, rồi quay lại nhìn tôi. Tôi kết thúc câu chuyện với đoạn kể về bà thầy bói và chuyến đi đến khách sạn Đại lộ số Năm đêm qua, lúc tôi phát hiện bà ta chưa từng tồn tại. Khi tôi kể xong, Nim đứng đó nghĩ ngợi. Tôi đứng dậy đi về phía tủ, moi ra đôi giày thể thao cũ và áo khoác màu đào, bắt đầu thắt dây giày.
"Nếu em không phiền", Nim nói với vẻ đầy suy tư, "anh muốn mượn bức tranh của em vài ngày". Anh ta cầm bức tranh lên và thận trọng nắm sợi dây phía sau. "Và em vẫn còn bài thơ của bà thầy bói chứ ?"
"Em để đâu đó quanh đây", tôi nói, ra dấu về đống lộn xộn.
'Tìm xem,' anh ta nói.
Tôi thở dài và bắt đầu lục tung túi mấy cái áo khoác để trong tủ. Mất khoảng mười phút nhưng cuối cùng tôi tìm thấy mảnh khăn giấy lót ly mà Llewellyn đã viết lời tiên tri, nó nằm sâu trong lớp vải lót.
Nim lấy mảnh giấy khỏi tay tôi và nhét vào túi của anh ta. Một tay nhấc bức tranh còn ướt, tay kia anh quàng lên vai tôi và chúng tôi đi ra cửa.
"Đừng lo về bức tranh", anh ấy nói khi chúng tôi ra hành lang. "Anh sẽ trả lại nội trong tuần".
"Anh có thể giữ nó luôn cũng được", tôi đáp. "Thứ sáu nhóm khuân vác sẽ đến thu dọn đồ đạc của em. Đó là lý do ban đầu em gọi cho anh. Cuối tuần, em sẽ rời khỏi đây và đi trong một năm. Công ty cử em ra nước ngoài công tác".
"Công ty của những tên ăn cắp dữ liệu", Nim nói. "Họ chuyển em đi đâu ?"
"Algeria", tôi nói khi chúng tôi đến cửa.
Nim dừng bước đứng ngay đơ và liếc nhìn tôi. Rồi anh ta bắt đầu bật cười. "Cô bạn trẻ thân mến của tôi", anh ta nói, "em không bao giờ thất bại trong chuyện khiến anh ngạc nhiên. Trong gần một giờ, em mua vui anh bằng cách kể câu chuyện nào là sát nhân, nào là lộn xộn, nào là bí ẩn và mưu đồ. Vậy mà em lại cố tình bỏ lỡ chi tiết chính".
Tôi hoàn toàn bối rối. "Algeria ư ?" tôi hỏi. "Chi tiết đó liên quan gì đến những chuyện kia ?"
"Nói anh nghe", Nim bảo, đặt tay bên dưới cằm và nâng mặt tôi lên nhìn anh, "em có bao giờ nghe nói về Bộ cờ Montglane chưa ?"