Alice: Một ván cờ khổng lồ vĩ đại đang được chơi trên khắp thế giới... Ô, nó mới vui làm sao ! Con ước gì được là một trong những quân cờ ! Giá mà được tham gia thì con sẽ không ngại phải làm một con Tốt, dù tất nhiên, con thích trở thành quân Hậu nhất.
Nữ Hoàng Đỏ: Dễ xoay sở thôi. Con có thể là con Tốt cánh Hậu trắng nếu con muốn, vì Lily quá nhỏ không thể chơi, và con bắt đầu ở ô vuông Thứ hai. Khi con đến ô vuông Thứ tám, con sẽ trở thành quân Hậu...
- Qua tấm gương soi – Lewis Carroli
Sáng thứ hai sau chuyến đi đến Kabyle, mọi thứ rối tung. Mọi chuyện bắt đầu từ đêm trước, khi Kamel thả tôi xuống khách sạn, và tung một tin không mấy hay ho. Dường như hội nghị OPEC diễn ra sớm, trong cuộc họp đó ông ta lên kế hoạch trình làng "phát minh" mô hình máy tính của tôi - một mô hình cho đến giờ vẫn chưa được tạo ra. Therese đã thu thập cho tôi hơn ba mươi băng dữ liệu về số lượng thùng dầu mỗi tháng của từng nước. Tôi phải chỉnh sửa chúng và tải dữ liệu của chính mình bằng máy bấm lỗ để trình ra xu hướng sản xuất, tiêu thụ và phân phối. Sau đó tôi còn phải viết chương trình phân tích nó, tất cả phải hoàn thành trước khi hội nghị diễn ra.
Mặt khác, với OPEC không ai từng biết "sớm" nghĩa là gì. Ngày giờ và địa điểm của mỗi hội nghị được giữ bí mật tuyệt đối đến giờ chót. Người ta cho rằng việc lên kế hoạch không rõ ràng kiểu đó sẽ bất lợi cho các kế hoạch khủng bố nhiều hơn đối với những bộ trưởng OPEC. Đó là thời gian tranh đua của OPEC ở phạm vi nào đó và nhiều bộ trưởng đã bị khai trừ trong những tháng gần đây. Đó là giấy chứng thực tầm quan trọng cho mô hình của tôi mà thậm chí Kamel đã úp mở khi nói về hội nghị sắp tới. Tôi biết mình phải gấp rút phân tích dữ liệu.
Tình hình tồi tệ thêm khi tôi đến trung tâm dữ liệu Sonatrach, tít trên ngọn đồi trung tâm của Algiers và thấy một thông điệp trong bì thư chính quyền ghim vào bảng điều khiển nơi tôi làm việc. Đó là thư của Bộ Quản lý nhà. Cuối cùng họ cũng kiếm được cho tôi một căn hộ thực sự. Tôi có thể dời đến đó đêm nay, thực ra là phải dời trong đêm nay, bằng không tôi mất nó. Nhà ở rất hiếm hoi tại Algiers, tôi đã chờ hai tháng mới có căn hộ này. Tôi tức tốc chạy về thu dọn và dời đi càng nhanh càng tốt trước khi tiếng còi hiệu báo hết giờ. Với tất cả những chuyện đang diễn ra thì làm sao tôi hoàn thành mục tiêu của riêng mình là lùng sục Mokhfi Mokhtar ở khu phố cổ Casbah ?
Mặc dù giờ làm việc ở Algiers là từ bảy giờ sáng đến bảy giờ tối nhưng những tòa nhà im ỉm suốt ba tiếng ăn và ngủ trưa. Tôi quyết định dùng ba tiếng đó để bắt đầu cuộc tìm kiếm của mình.
Như tất cả các thành phố Ả Rập, khu phố cổ Casbah là nơi lâu đời nhất, đã từng một lần được gia cố lại để bảo vệ. Khu phố cổ ở thủ đô Algiers này rối rắm như một mê cung của những con phố hẹp đầy sỏi cuội và những ngôi nhà đá lâu năm xiêu vẹo cứ chực đổ sập xuống chỗ dốc nhất của những ngọn đồi. Dù chỉ bao phủ trên diện tích khoảng 2500 mét vuông cạnh sườn núi nhưng nơi này nhồi nhét hàng tá nhà thờ Hồi giáo, nghĩa trang, nhà tắm hơi Thổ Nhĩ Kỳ, và những bậc đá cao vời vợi tách ra tại mỗi góc như những huyết mạch. Trong số cả triệu cư dân ở Algiers, gần hai mươi phần trăm sống ở khu vực nhỏ bé này: những người mặc áo choàng dài, che mặt đi đứng khẽ khàng rẽ vào những chỗ tăm tối sâu hun hút của các ô cửa lẩn khuất. Người ta có thể bị nuốt chửng trong khu phố cổ này mà không để lại một dấu vết. Đó là nơi lý tưởng cho một người phụ nữ tự xưng là "Người Được Chọn Bí Mật".
Không may, đây cũng là nơi lý tưởng để bị lạc. Dù chỉ mất hai mươi phút đi bộ từ văn phòng của tôi đến quảng trường Casbah ở hẻm núi trên cao nhưng tôi mất cả giờ như con chuột lạc trong mê cung. Bất kể đi qua bao nhiêu con phố quanh co nhưng cuối cùng tôi vẫn thấy mình đánh một vòng tròn trở lại Nghĩa địa Những Bà Hoàng. Bất kể hỏi bao nhiêu người về hậu cung địa phương, tôi cũng chỉ nhận được những cái nhìn chòng chọc vô hồn, chắc chắn là do thuốc gây ra, và vài lời lăng mạ thái quá hay chỉ đường trật lất. Nghe cái tên Mokhfi Mokhtar, người ta cười ngất.
Cuối giờ "ngủ trưa", kiệt sức và về tay không, tôi ghé Bưu điện Trung tâm để gặp Therese tại bàn tổng đài của bà ấy. Không chắc người tôi đang tìm có được liệt kê trong danh bạ điện thoại hay không nhưng tôi còn không thấy đường dây điện thoại ở khu Casbah. Thế nhưng Therese biết tất cả mọi người ở Algiers, mọi người, trừ người tôi đang tìm.
"Sao ai lại có cái tên quá buồn cười thế ?" bà hỏi tôi và để tổng đài điện thoại kêu vang trong khi cho tôi vài viên kẹo màu nhạt. "Con à, cô rất mừng khi con đến đây hôm nay ! Cô có telex cho con..." Bà ta lục xấp giấy trên kệ của bàn tổng đài. "Những người A Rập này", bà thì thầm. "Với họ thì mọi thứ b'ad ghedoua 'cứ để sau' ! Nếu cô gửi cái này đến khách sạn El Riadh cho con, may mắn lắm thì đến tháng sau con sẽ nhận được". Bà lấy telex ra và vung tay đưa cho tôi. Hạ giọng thì thầm, bà nói thêm, "Dù nó đến từ một tu viện nhưng cô ngờ rằng nó được viết dưới dạng mật mã !"
Chắc chắn rồi, bức điện tín từ xơ Mary Magdalene của tu viện thánh Ladislaus ở New York. Bà ta chắc chắn mất thời gian viết nó. Tôi liếc mắt qua, điên tiết khi Nim chơi xỏ quá đáng:
“Vui lòng tham dự trò chơi ô chữ trên tờ New York Times. Tất cả đều sáng tỏ trừ điều theo sau. Lời khuyên của Hamlet cho người bạn gái. Người đứng ở vị trí giáo hoàng. Biên giới của đế chế Tamerlane. Điều làm khi đói. Ca sĩ người Đức thời trung cổ. Lõi lò phản ứng hạt nhân cho ra. Tác phẩm của Tchaikovsky. Số chữ cái là 9-9-7-4-5-S-9.
Xin hồi âm cho xơ Mary Magdalene
Tu viện thánh Ladislaus Ny Ny.
Tuyệt vời, một trò chơi ô chữ. Tôi ghét chúng trong khi Nim biết chúng cực kỳ rõ. Anh ta gửi cái này chỉ để tra tấn tôi. Đúng thứ tôi cần, thêm một trò vớ vẩn với chữ nghĩa.
Tôi cảm ơn Therese vì sự cần cù của bà và rời khỏi bàn tổng đài lắm dây nhợ. Thật ra, vài tháng qua, khả năng giải mã của tôi hẳn đã được nâng cao vì tôi đã tìm ra một số đáp án ngay lúc còn đứng tại Bưu điện Trung tâm. Chẳng hạn như lời khuyên Hamlet cho Ophelia là "Đi vào tu viện đi". Và điều làm khi đói là "gặp để ăn". Tôi phải chia nhỏ thông điệp phù hợp với những chữ cái anh ta cung cấp, nhưng rõ ràng nó thích hợp với người có đầu óc đơn giản như tôi.
Nhưng khi trở về khách sạn lúc tám giờ tối, có một ngạc nhiên khác dành sẵn cho tôi. Trong cảnh tranh tối tranh sáng, chiếc Rolls Comiche xanh lơ của Lily đậu ở cổng khách sạn, những người khuân vác, phục vụ, hầu phòng vây quanh nhìn chòng chọc, tất cả vuốt ve thanh kim loại và chạm vào bảng đồng hồ da mềm của xe.
Tôi hối hả chạy qua, cố hình dung mình không thấy điều đã thấy. Tôi đã gửi cho ông Mordecai ít nhất mười bức điện tín trong hai tháng qua để van xin ông đừng gửi Lily sang Algiers. Nhưng chiếc xe không thể tự nó đến đây.
Khi đến bàn tiếp tân để lấy chìa khóa và thông báo cho nhân viên mình dọn đi thì tôi bị một cú điếng hồn. Dựa vào quầy tiếp tân lát đá cẩm thạch và trò chuyện với nhân viên là anh chàng quyến rũ nhưng nham hiểm Sharrif, chỉ huy cảnh sát mật. Anh ta phát hiện ra tôi trước khi tôi có thể chuồn lẹ.
"Cô Velis !" anh ta kêu lên, phô bày nụ cười như diễn viên điện ảnh của mình. "Cô về đúng lúc để hỗ trợ chúng tôi trong cuộc điều tra nho nhỏ. Có lẽ cô để ý chiếc xe của một trong những đồng hương của cô vừa mới đến ?"
"Thật kỳ lạ, tôi thấy có vẻ nó là của người Anh mà", tôi thản nhiên nói với anh ta trong khi người nhân viên đưa tôi chìa khóa.
"Nhưng với giấy đăng ký của New York !" Sharrif nói, nhướn mày.
"New York là một thành phố rộng lớn..." tôi bắt đầu bước về phía phòng mình nhưng Sharrif chưa chịu thôi.
"Khi xe qua hải quan chiều nay, có người đăng ký nó cho cô tại địa chỉ này. Chắc cô có thể giải thích ?"
Chết thật. Tôi sẽ giết Lily khi gặp cô ta. Cô ta chắc chắn đã vào được phòng tôi nhờ đút lót nhân viên.
"Thế à ! Thật tuyệt", tôi nói. "Một món quà vô danh của một người đồng hương New York. Tôi đang cần một chiếc xe và khó mà đủ tiền thuê được". Tôi hướng ra vườn nhưng Sharrif bám sát gót.
"Tổ chức cảnh sát hình sự quốc tế hiện đang kiểm tra giấy tờ cho chúng tôi", anh ta nói, chạy lẽo đẽo để theo kịp tôi. "Tôi không tin chủ xe đóng thuế ngay, một trăm phần trăm giá trị chiếc xe, rồi gửi cho một người thậm chí còn không quen biết. Chỉ có người phục vụ được thuê xuất hiện đến lấy và mang nó lại đây. Hơn nữa, không có người Mỹ nào đăng ký tại khách sạn này ngoại trừ cô".
"Không có cả tôi luôn", tôi nói, bước ra ngoài và băng qua khu vườn sỏi lạo xạo. "Tôi trả buồng khách sạn trong nửa giờ để dời sang Sidi-Fredj, chắc rằng jawasis của anh đã nói anh nghe". Jawasis là tụi theo dõi, hay bọn chỉ điểm cho cảnh sát mật. Sharrif không bỏ qua câu nói cạnh khóe. Liếc mắt, anh ta túm lấy cánh tay tôi và tôi thình lình bị giật ngừng lại. Tôi khinh bỉ nhìn xuống cánh tay trên khuỷu tay mình và thận trọng cạy nó ra.
"Những mật vụ của tôi", anh ta luôn là một người xét nét cách dùng từ "đã kiểm tra người đến từ nước cô, cũng như danh sách tiếp nhận tuần này từ Algiers và Oran. Chúng tôi đang chờ danh sách từ các cảng tiếp nhận khác. Như cô biết đấy, chúng tôi có chung ranh giới với bảy nước khác và miền duyên hải. Mọi chuyện sẽ đơn giản hơn rất nhiều nếu cô chỉ việc nói chúng tôi biết chiếc xe đó của ai".
"Gì mà ghê gớm đến vậy ?" tôi nói, lại đi tiếp. "Nếu đã đóng thuế và giấy tờ hợp lệ tại sao tôi phải làm lớn chuyện chiếc xe quà tặng ? Hơn nữa chủ chiếc xe là ai thì có gì khác biệt đối với anh ? Không có hạn ngạch nào về xe cộ nhập khẩu tại một đất nước không sản xuất ra chiếc xe nào, đúng không ?"
Anh ta bối rối không biết trả lời thế nào. Anh ta không thể thú nhận bọn chỉ điểm đang bám đuôi tôi khắp nơi và báo cáo mỗi lần tôi hắt hơi. Thật ra tôi chỉ đang cố làm mọi việc khó khăn đối với anh ta đến khi tự tôi có thể tìm thấy Lily, nhưng chuyện này có vẻ kỳ lạ. Nếu cô ấy không ở trong phòng tôi và không đăng ký khách sạn thì cô ấy ở đâu ? Ngay lúc đó câu hỏi của tôi được giải đáp.
Ở cạnh phía xa hồ bơi là tháp gạch trang trí ngăn cách khu vườn và bờ biển. Tôi nghe âm thanh quen thuộc đáng ngờ, tiếng móng vuốt con chó nhỏ cào lên cánh cửa gỗ và tiếng gầm gừ ủy mị nghe một lần khó mà quên được.
Trong ánh sáng nhạt nhòa bên kia hồ bơi, tôi thấy cánh cửa đẩy lộ ra một khe nhỏ, và một nhúm lông tơ tròn quay nhìn hung dữ xộc ra. Chạy dọc mép hồ bơi với tốc độ nhanh nhất, nó lao vút về hướng chúng tôi. Ngay cả trong ánh sáng rõ ràng nhất cũng khó nhận ra chính xác Carioca là loài vật gì bằng cái nhìn đầu tiên, và tôi nhìn thấy Sharrif kinh ngạc nhìn chằm chằm con vật cao tới mắt cá chân đâm bổ vào anh ta, ngoạm nguyên hàm răng nhỏ xíu nhọn hoắt vào cái chân mang tất lụa của Sharrif. Sharrif bật ra tiếng kêu khiếp sợ, nhảy lò cò bằng chân kia và cố giũ Carioca ra khỏi chân này. Chộp lấy tôi kéo phăng con vật nhỏ bé ra xa, dùng cánh tay ghìm chặt nó vào ngực. Con chó vặn vẹo và liếm vào cằm tôi.
"Chúa ơi, nó là gì vậy ? Gì vậy ?" Sharrif kêu lên, nhìn trừng trừng vào con quái vật lông tơ uốn éo.
"Nó là chủ chiếc xe đó", tôi thở dài, nhận ra đã hết hy vọng. "Anh có muốn gặp nửa kia của con vật không ?"
Sharrif theo tôi, đi khập khiễng và kéo gấu quần lên kiểm tra cái chân bị thương. "Sinh vật đó có thể mắc bệnh dại", anh ta oán thán khi chúng tôi đến ngọn tháp. "Thú vật như vậy thường tấn công con người".
"Không phải bệnh dại, chỉ là chỉ trích mãnh liệt", tôi nói với anh ta.
Chúng tôi đẩy cánh cửa khép hờ và đi lên cầu thang tối om của ngọn tháp dẫn đến lầu hai. Đó là căn phòng rộng, khắp nơi có những khoang ghế lót gối. Lily ngồi gọn lỏn giữa cái nệm như vị tổng trấn, chân giơ lên và chèn miếng bông giữa các ngón, cẩn thận quét lớp sơn đỏ tươi như máu lên móng. Mặc một chiếc đầm cực ngắn in hình những con chó xù màu hồng nhảy nhót, cô liếc lên tôi với cái nhìn lạnh lùng thờ ơ, mái tóc quăn màu vàng lòa xòa xuống mắt. Carioca sủa ăng ẳng đòi xuống. Tôi chắt lưỡi kêu nó im.
"Lẽ ra tớ đến lâu rồi", cô ta bắt đầu với sự phẫn nộ. "Cậu sẽ không tin những vấn đề tớ gặp khi đến đây đâu !" cô ta nhìn Sharrif sau vai tôi.
"Cậu có rắc rối à ?" tôi nói. "Cho phép tớ giới thiệu người đi cùng, Sharrif, chỉ huy cảnh sát mật".
Lily bật ra tiếng thở dài thườn thượt.
"Tớ phải nói cậu bao nhiêu lần", cô ta nói, "rằng chúng ta không cần cảnh sát. Chúng ta có thể tự giải quyết chuyện này..."
"Anh ta không phải cảnh sát", tôi ngắt lời. "Tớ nói là cảnh sát mật".
"Cái đó nghĩa là gì, không ai biết anh ta là cảnh sát sao ? Ôi, chết thật. Tớ làm nhòe nước sơn rồi", Lily nói, nhặng xị lên với cái chân. Tôi thả Carioca xuống vạt áo cô ấy và cô ấy lại trừng mắt.
"Tôi thấy cô quen người phụ nữ này", Sharrif nói với tôi. Anh ta đang đứng cạnh chúng tôi và chìa tay ra. "Tôi có thể xem giấy tờ của cô không ? Không có hồ sơ nào về việc cô đến nước này, cô đã đăng ký chiếc xe hơi đắt tiền bằng tên giả, và cô có một con chó rõ ràng là hiểm họa cho dân chúng".
"Ồ, đi mà uống thuốc nhuận tràng", Lily nói, đẩy Carioca ra xa và để chân xuống, đứng lên đối mặt với anh ta. "Tôi trả cái quái quỷ gì để vận chuyển chiếc xe đó vào nước này, và làm sao anh biết tôi đến đây bất hợp pháp ? Thậm chí anh còn không biết tôi là ai !" Cô ta đi khập khiễng quanh phòng trên gót chân, nhét miếng bông giữa các ngón chân để không làm nhòe nước sơn. Cô ta rút vài tờ từ một chồng giấy trong những chiếc túi da đắt tiền và vẫy chúng trước mặt Sharrif. Anh ta giật lấy chúng và Carioca sủa lên.
'Tôi dừng chân tại đất nước nhỏ bé nghèo nàn của anh trên đường sang Tunisia", cô ta cho biết. "Tôi tình cờ trở thành kiện tướng cờ vua chính và đang tham gia một giải đấu quan trọng ở đó".
"Đến tháng chín mới có cuộc đấu cờ ở Tunisia", Sharrif nói, xem xét kỹ hộ chiếu của Lily. Anh ta ngước mắt nhìn cô ấy ngờ vực. "Cô tên Rad, có phải ngẫu nhiên có quan hệ với..."
"Đúng", cô ngắt lời. Tôi nhớ ra Sharrif là một người yêu thích cờ vua. Không nghi ngờ gì anh ta có nghe nói đến Mordecai, thậm chí có thể đã đọc các quyển sách của ông ấy.
"Thị thực của cô không được đóng dấu để vào Algeria", anh ta lưu ý. "Tôi mang nó đi, đến khi nào xem xét kỹ lưỡng xong. Thưa cô, cô không được rời nơi này".
Tôi chờ đến khi cánh cửa dưới kia đóng sầm lại.
"Cậu nhất định kết bạn rất nhanh chóng ở một đất nước mới", tôi nói khi Lily trở về ngồi trên khoang ghế. "Giờ cậu định làm gì khi anh ta lấy hộ chiếu rồi ?"
"Tớ làm cái khác", cô ta rầu rĩ nói, lấy miếng bông giữa các ngón chân ra. "Tớ sinh ra ở Luân Đôn, có mẹ là dân Anh. Cậu biết đấy, công dân Anh được phép có chế độ hai quốc tịch". Tôi không biết nhưng tôi có vài câu hỏi quan trọng hơn.
"Sao cậu đăng ký chiếc xe đáng ghét của cậu cho tớ ? Và làm thế nào cậu vào nước này được nếu không qua bộ phận Nhập cư ?"
"Tớ thuê máy bay bay trên biển tại Palma", cô ta nói. "Họ thả tớ xuống đây gần bãi biển. Tớ phải có tên một người sống ở đây để đăng ký chiếc xe vì tớ vận chuyển nó trước. Mordecai nói tớ đến đây càng kín đáo càng tốt".
"À, nhất định cậu đã làm thế", tôi nói vẻ chế giễu. "Tớ ngờ rằng bất cứ ai tại nước này cũng biết cậu đến đây, ngoại trừ bộ phận Nhập cư ở biên giới, cảnh sát mật và chắc là cả tổng thống mới không biết thôi ! Cậu nghĩ mình làm cái quái gì ở đây, hay Mordecai quên nói phần đó ?"
"Ông nói tớ đến giúp cậu, và ông nói tớ Solarin sẽ chơi ở Tunisia tháng này, tên nói dối khốn khiếp ! Tớ đang chết đói đây. Cậu có thể kiếm cho tớ thịt băm kẹp phô mai hay gì đó bổ dưỡng để ăn đi. Không có dịch vụ gì ở đây, tớ thậm chí không có điện thoại".
"Để xem tớ có thể làm gì", tôi nói. "Nhưng tớ đang dọn khỏi khách sạn này. Tớ có căn hộ mới ở Sidi-Fredj, đi bộ xuôi bãi biển khoảng nửa giờ. Tớ sẽ lấy xe dọn đồ và gọi bữa tối cho cậu ngoài đó trong một giờ. Cậu có thể đi khỏi khi trời tối và lẻn ra gần biển. Đi bộ sẽ làm cậu khỏe".
Lily miễn cưỡng đồng ý và tôi đi thu dọn hành lý với chìa khóa chiếc Rolls trong túi. Tôi chắc Kamel có thể xử lý chuyện nhập cư bất hợp pháp của cô ấy, và trong lúc tôi mắc kẹt với cô ấy, thì ít nhất tôi vẫn có được chiếc xe hơi. Và tôi cũng không nghe tin gì của Mordecai từ sau thông điệp bí ẩn ông viết về bà thầy bói và trò chơi. Tôi phải moi tin tức từ Lily xem cô ấy được ông kể cho biết bao nhiêu khi tôi vắng mặt.
***
Căn phòng của bộ tại Sidi-Fredj thật tuyệt vời, hai gian phòng với mái trần uốn vòm và sàn đá hoa cương, trang bị đầy đủ kể cả đồ vải lanh, và một ban công nhìn ra cảng, xa xa là Địa Trung Hải. Tôi bo cho nhà hàng ngoài trời dưới mái hiên tầng trệt để họ mang thức ăn cùng rượu lên. Tôi ngồi ngoài ghế dài để giải mã trò chơi ô chữ của Nim trong lúc chờ Lily đi xuống bãi biển. Thông điệp như sau:
Lời khuyên của Hamlet cho người bạn gái. (9)
Người đứng ở vị trí giáo hoàng. (9)
Biên giới của đế chế Tamerlane. (9)
Điều làm khi đói. (4)
Ca sĩ người Đức thời trung cổ. (5)
Lõi lò phản ứng hạt nhân cho ra. (8)
Tác phẩm của Tchaikovsky. (9)
Tôi không định dành nhiều thời gian cho trò này như đã dồn sức cho mảnh khăn của bà thầy bói nhưng tôi có lợi thế về kiến thức âm nhạc. Có hai kiểu người hát rong ở Đức: danh ca và nghệ sĩ giang hồ. Tôi cũng biết mọi tác phẩm Tchaikovsky từng viết, không có nhiều tác phẩm có chín chữ cái.
Kết quả đầu tiên có được: "Đi vào, Fishermen, Caspian, Gặp, Minne, Tan chảy, Joan of Arc". Gần đủ để hiểu. Biên giới khác của đế chế Tamerlane là thảo nguyên của Nga, với bảy ký tự cũng như Caspian. Và lò phản ứng hạt nhân đang tan chảy đạt đến trạng thái "đã đến lúc" có tám ký tự. Vậy thông điệp là "Đi vào Fishermen Steps; Gặp Minne; Đã đến lúc!" Dù tôi không biết Joan of Arc liên quan gì, nhưng có một địa danh tại Algiers mang tên Fishermen's Steps - Cầu thang Ngư trường. Liếc nhanh sổ địa chỉ, tôi thấy Minnie Renselaas, bạn của Nim, vợ lãnh sự Hà Lan, người mà anh ta nói tôi gọi điện nếu cần giúp đỡ, sống ở số Một khu Cầu thang Ngư trường. Dù đến giờ theo tôi biết mình không cần giúp gì nhưng dường như anh ta thấy đã đến lúc tôi gặp bà ấy. Tôi cố nhớ cốt truyện tác phẩm Joan of Arc của Tchaikovsky, nhưng tất cả những gì tôi biết là bà ấy bị thiêu sống trên cây cọc. Tôi hy vọng Nim không dành số phận đó cho tôi.
Tôi biết Cầu thang Ngư trường - dãy cầu thang đá vô tận chạy giữa đại lộ Anatole Pháp và một con đường mang tên Bab el Oued, tức Cửa sông. Nhà thờ Hồi giáo của dân chài tít trên đỉnh gần lối vào Casbah, nhưng không có gì giống với một lãnh sự quán Hà Lan. Trái lại, các tòa đại sứ xa tận bên kia thị trấn, trong khu dân cư. Thế nên tôi đi vào trong, nhấc điện thoại và gọi cho Therese, người vẫn còn làm việc đến tận chín giờ tối.
"Tất nhiên cô biết phu nhân Renselaas" bà ta reo lên bằng giọng nghiêm trang. Chúng tôi chỉ cách nhau ba mươi dặm và trên một xứ sở khô ráo, vậy mà đường dây điện thoại nghe như tận đáy biển. "Mọi người ở Algiers đều biết bà ấy, một quý bà rất quyến rũ. Bà ấy thường tặng cô sôcôla Hà Lan và những viên kẹo be bé làm từ rượu trắng Hà Lan có nhân chính giữa. Con biết đấy, bà ấy đã là vợ của vị lãnh sự Hà Lan".
"Cô nói đã là, nghĩa là sao ?" tôi hét trở lại
"Ồ, chuyện đó trước cuộc cách mạng, con à. Mười năm, có thể mười lăm năm, chồng bà ấy đã qua đời, Nhưng bà ấy vẫn còn ở đó, ít ra như người ta nói. Dù bà ta không có số điện thoại nhưng cô biết".
"Làm sao con gặp bà ấy ?" tôi rống lên khi đường dây càng nhiều tiếng ồn của nước. Không cần đặt máy nghe trộm thì khắp khu cảng cũng có thể nghe được cuộc trò chuyện của chúng tôi. "Con chỉ có địa chỉ, số Một Cầu thang Ngư trường. Nhưng không có căn nhà nào gần nhà thờ Hồi giáo".
"Không", Therese hét lên, "không có số Một nào ở đó. Con có chắc mình ghi đúng không ?"
"Con đọc nó cho cô", tôi nói. "Đó là Wahad, Escaliers de la Pêcherie".
"Wahad !" Therese bật cười. "Đó nghĩa là số Một nhưng không phải địa chỉ mà là một người. Cậu ta là hướng dẫn viên du lịch lên Casbah. Con biết sạp hoa gần nhà thờ không ? Hỏi người bán hoa về cậu ta, năm mươi đồng đina, và cậu ta sẽ dẫn con đi. Cái tên Wahad giống như 'Số một', con hiểu không ?"
Therese cúp máy trưóc khi tôi có thể hỏi tại sao cần có hướng dẫn viên để tìm Minnie. Nhưng dường như mọi chuyện được thực hiện khác đi ở Algiers.
Tôi vừa lên kế hoạch du ngoạn vào trưa mai thì nghe âm thanh móng vuốt con chó chạy qua sàn đá hoa cương của hành lang bên ngoài. Một tiếng gõ cửa cụt ngủn và Lily xông vào. Cả cô và Carioca tiến đến bếp, nơi tỏa mùi hương thơm phức của bữa tối được hâm nóng: cá nướng vỉ, hàu hấp và bột mì nấu thịt.
"Tớ phải ăn", Lily nói vọng ra sau. Khi tôi theo kịp thì cô ta đã mở nắp nồi và lấy tay bốc đồ ăn. "Không cần đĩa", cô ta nói, ném mấy miếng cho Carioca nhai ngấu nghiến bên dưới.
Tôi thở dài và nhìn Lily ngốn đồ ăn, một điều luôn làm tôi không còn muốn ăn nữa.
"Tại sao Mordecai gửi cậu sang đây ? Tớ đã viết thư nói ông giữ cậu ở xa".
Lily quay sang nhìn tôi với đôi mắt xám to tròn. Một khoanh thịt cừu của món bột mì nấu thịt nhuyễn nhão tùm lum giữa các ngón tay cô. "Cậu hẳn phải thấy hồi hộp", cô ta cho tôi biết. "Rất tình cờ ông và tớ đã làm sáng tỏ toàn bộ bí ẩn này khi cậu vắng mặt".
"Nói đi", tôi nói, chẳng mảy may xúc động. Tôi đi qua mở chai rượu đỏ Algeria hảo hạng, rót hai ly trong lúc cô ấy nói.
"Mordecai đang cố mua những quân cờ hiếm có và đáng giá này trên danh nghĩa một bảo tàng thì Llewellyn nghiên cứu về chúng và bắt đầu phá rối thương vụ. Mordecai ngờ rằng Llewellyn đã đút lót Saul để tìm hiểu thêm. Khi Saul đe dọa tiết lộ trò hai mặt của ông ta thì Llewellyn hoảng sợ và mướn người khử Saul !" Cô ta rất hài lòng với giải thích này.
"Mordecai đi sai hướng và thảo luận lạc đường với cậu luôn rồi", tôi nói. "Llewellyn không liên quan gì đến cái chết của Saul. Solarin giết ông ta. Chính miệng anh ta nói tớ nghe. Solarin ở đây, tại Algeria".
Lily đang đổ con hàu nửa chừng lên miệng nhưng cô làm rơi nó xuống nồi bột mì nấu thịt. Cầm ly rượu, cô hớp một ngụm lớn. "Nói lại thêm lần nữa xem", cô nói.
Thế là tôi kể cô ấy nghe toàn bộ câu chuyện, ngay khi tôi mới chắp nối các chi tiết với nhau nhưng không rút ra được gì. Tôi thuật lại chuyện Llewellyn đã nhờ tôi lấy cho ông ấy những quân cờ thế nào - bà thầy bói đã ẩn giấu bức thông điệp trong lời tiên tri ra sao - Mordecai đã viết thư tiết lộ ông ấy biết bà thầy bói - Solarin đã lộ mặt tại Algiers và kể rằng Saul đã giết Fiske và cố giết anh ta. Tất cả bởi vì những quân cờ. Tôi nói cô ta tôi đã tìm ra đó là một công thức, đúng như cô ấy đã nghĩ, nó được cất giấu trong bộ cờ mọi người đổ xô đi tìm. Tôi kết luận bằng việc mô tả chuyến đi đến chỗ người bạn buôn thảm của Llewellyn - và câu chuyện bí ẩn mới đây về Mokhh Mokhtar của khu phố cổ Casbah.
Khi tôi kể xong, Lily đứng đó há hốc mồm, và cô không đụng miếng thức ăn nào. "Sao trước đây cậu không kể bất cứ gì về chuyện này cho tớ nghe ?" cô ấy muốn biết.
Carioca đang nằm ngửa quơ chân trên không, như bị bệnh. Tôi xốc nó lên và đặt vào bồn nước, cho nước chảy nhỏ giọt để nó uống.
"Tớ không biết phần lớn chuyện này trước khi đến đây", tôi nói Lily. "Lý do duy nhất tớ nói cậu bây giờ là vì cậu có thể giúp tớ điều gì đó mà tớ không tự làm một mình được. Hình như có một ván cờ đang diễn ra, và người nào đó thực hiện nước đi. Tớ không có manh mối ván cờ được chơi ra sao nhưng cậu là chuyên gia. Tớ cần biết, để tìm ra những quân cờ".
"Cậu đùa chắc", Lily nói. “Ý cậu là một ván cờ ngoài đời à ? Với những quân cờ là người thật à ? Vậy khi có người bị giết, nó giống như một quân bị lôi ra khỏi bàn cờ sao ?"
Cô đi qua bồn nước và rửa tay, tóe nước trúng Carioca. Kẹp con chó vẫn còn ướt vào dưới cánh tay, cô thơ thẩn ra phòng khách và tôi theo sau, cầm chai rượu cùng mấy cái ly. Dường như cô quên tất cả về thức ăn.
"Cậu biết đấy", cô ta nói, vẫn đi khắp phòng, "nếu chúng ta có thể tìm ra những quân cờ là ai, chúng ta có thể thực hiện chuyện này. Tớ có thể nhìn bất cứ bàn cờ nào, kể cả giữa trận đấu và dựng lại các nước cờ từ đầu đến giờ. Chẳng hạn như tớ nghĩ chúng ta có thể giả thiết chắc chắn Saul và Fiske là những quân Tốt..."
"Và cậu với tớ cũng vậy", tôi đồng tình. Đôi mắt Lily sáng rực như mèo thấy mỡ. Hiếm khi tôi thấy cô ấy phấn khích đến vậy.
"Llewellyn và Mordecai có thể là quân...”
"Và Hermanold nữa", tôi nhanh chóng thêm vào. "Ông ta là kẻ bắn vào xe chúng ta !"
"Chúng ta không thể quên Solarin", cô nói. "Anh ta chắc chắn là một quân cờ. Cậu biết đấy, nếu chúng ta có thể thận trọng xem xét kỹ lưỡng chuyện này, tái lập các sự kiện thì tớ nghĩ mình có thể bố trí các nước đi trên bàn cờ và rút ra được điều gì đó".
"Có lẽ cậu nên ở đây đêm nay", tôi đề nghị. "Sharrif có lẽ sẽ cho người đến bắt cậu ngay khi hắn có bằng chứng cậu ở đây thực sự bất hợp pháp. Tớ có thể lén đưa cậu vào thị trấn ngày mai. Vị đối tác Kamel của tớ có thể giật dây giúp cậu khỏi vào tù. Trong khi đó chúng ta có thể xem xét vấn đề nan giải này".
Chúng tôi thức đến giữa khuya dựng lại các sự kiện, di chuyển các quân cờ quanh bàn cờ bỏ túi của Lily, dùng que diêm thay thế cho quân Hậu trắng. Nhưng Lily vỡ mộng.
"Giá như chúng ta có thêm chút đỉnh dữ liệu", cô phàn nàn trong khi chúng tôi nhìn bầu trời buổi sớm chuyển sang màu xanh nhạt pha đỏ.
"Thật ra tớ biết cách để chúng ta có thêm thông tin", tôi thú nhận. "Tớ có người bạn rất thân đang giúp tớ với bài toán hóc búa này khi tớ có thể gặp anh ta. Anh ta là thiên tài máy tính và cũng chơi rất nhiều ván cờ. Anh ta có người bạn quen thân ở Algiers, vợ vị lãnh sự Hà Lan quá cố. Tớ đang hy vọng ngày mai gặp được bà ấy. Cậu có thể đi cùng tớ nếu chúng ta giải quyết xong chuyện thị thực của cậu".
Thế là chúng tôi đồng ý và ngả xuống tấm trải giường chợp mắt. Tôi không đoán được chỉ vài giờ nữa có chuyện xảy ra biến tôi từ một người tham gia bất đắc dĩ thành nhân vật quan trọng trong ván cờ.
***
La Darse là bến cảng đầu Tây Bắc của khu cảng Algiers, nơi các thuyền đánh cá thả neo. Đó là đê đá chắn sóng dài nối đất liền với hòn đảo nhỏ được lấy tên đặt cho Algiers - Al-Djezair.
Bãi đậu xe của bộ nằm ở đó, nhưng xe của Kamel không có, nên tôi đậu chiếc Comiche lớn màu xanh vào chỗ của ông ấy, để lại vài chữ. Tôi cảm thấy hơi nổi bật khi để chiếc xe du lịch màu xanh lơ giữa những chiếc Limousine đen bóng nhưng vậy vẫn đỡ hơn đậu xe trên phố.
Lily và tôi đi dọc khu cảng trên đại lộ Anatole Pháp và băng qua đường Ernesto Che Guevara đến Escalier dẫn tới nhà thờ de la Pêcheur. Lily mới đi lên một phần ba các bậc thềm đã ngồi xuống phiến đá bằng phẳng lạnh lẽo, mồ hôi nhễ nhại dù trời sáng vẫn còn mát mẻ.
'Tớ chết mất", cô ta thở hổn hển. "Thật không hiểu nổi ? Đường sá cứ thẳng đứng. Họ nên san bằng toàn bộ và làm lại từ đầu".
"Tớ thấy nó đẹp đấy chứ", tôi nói, kéo cánh tay lôi cô ta dậy. Carioca đang nằm lê lết trên các bậc thềm cạnh bên cô chủ, lưỡi thè ra ngoài. "Hơn nữa, gần Casbah không có chỗ đậu xe nên chúng ta đi tiếp thôi".
Sau nhiều lời than vãn và nhiều đợt dừng chân nghỉ, chúng tôi đến đỉnh nơi con đường uốn cong Bab el Oued ngăn cách nhà thờ dân chài với Casbah. Bên trái là Quảng trường Liệt sĩ, một quảng trường rộng đầy những người già ngồi trên ghế công viên, nơi có sạp hoa. Lily ngồi phịch xuống chiếc ghế dài trống đầu tiên.
"Tôi đang tìm Wahad hướng dẫn viên", tôi nói với người bán hoa cáu kỉnh. Ông ta nhìn tôi khắp từ đầu tới chân và vẫy tay. Một cậu bé nhếch nhác chạy tới, ăn mặc như trẻ bụi đời khố rách áo ôm, một điếu thuốc bốc mùi sợi gai dầu lòng thòng giữa cặp môi tái nhợt.
"Wahad, có khách tìm mày", người bán hoa nói với cậu bé. Tôi vờ kinh ngạc.
"Em là hướng dẫn viên à ?" tôi nói. Một hình hài nhỏ bé bẩn thỉu không quá mười tuổi mà đã héo hon và lụ khụ, chưa kể đầy chấy rận. Cậu bé gãi sồn sột, liếm ngón tay để dập tắt điếu thuốc và nhét nó vào sau tai.
"Năm mươi đồng đina là giá chót để đi khắp Casbah", cậu bé nói. "Một trăm đồng tôi sẽ dẫn chị đi tham quan thành phố".
"Chị không muốn tham quan", tôi nói, rón rén nắm tay áo của chiếc áo tả tơi để kéo cậu bé sang bên. "Chị đang tìm bà Renselaas, Minnie Renselaas, vợ của lãnh sự Hà Lan quá cố. Một người bạn nói chị..."
"Tôi biết bà ấy", cậu bé nói, liếc mắt dò xét tôi.
"Chị sẽ trả năm mươi đồng đina để em đưa chị đến đó, được không ?" tôi đang lục túi đếm tiền.
"Tôi không đưa ai đến gặp bà ấy, trừ khi bà ấy bảo tôi làm vậy", cậu bé nói. "Chị có lời mời hay gì đó không ?"
Một lời mời ư ? Tôi thấy mình như kẻ ngốc nhưng tôi vẫn rút bức telex của Nim ra đưa cậu bé xem, nghĩ nó có thể đánh lừa. Cậu ta nhìn nó hồi lâu, xoay nhiều hướng rồi cuối cùng nói:
"Tôi không biết đọc. Nó nói gì ?" Thế là tôi phải giải thích cho đứa trẻ kinh khủng ấy rằng một người bạn của tôi đã gửi nó dưới dạng mật mã. Tôi nói cậu bé nội dung tôi nghĩ ra: "Đi vào Cầu thang Ngư trường. Gặp Minne. Đã đến lúc !"
"Vậy thôi hả ?" cậu bé hỏi như thể cuộc trò chuyện này là việc hàng ngày. "Không còn từ nào khác ư ? Như một từ bí mật ?"
"Joan of Arc", tôi nói. "Nó nói Joan of Arc".
"Không phải từ đúng", cậu ta nói, rút điếu thuốc trở ra và châm lửa. Tôi liếc qua quảng trường chỗ Lily ngồi ở ghế dài. Cô nhìn lại với kiểu cho rằng tôi bị điên. Tôi nặn óc cố nghĩ đến tác phẩm khác của Tchaikovsky có chín ký tự, rõ ràng đó là manh mối, nhưng không tìm ra. Wahad vẫn nhìn mảnh giấy trong tay.
"Tôi có thể đọc số", cuối cùng cậu bé lên tiếng. "Đây có số điện thoại". Tôi nhìn xuống và thấy Nim đã viết bảy con số. Tôi rất phấn khởi.
"Đó là số điện thoại của bà ấy !" tôi nói. "Chúng ta có thể gọi bà ấy và hỏi xem..."
"Không phải", Wahad nói, ra vẻ bí ẩn, "đó không phải số điện thoại của bà ấy, mà là số của tôi".
"Của em à ?" tôi kêu lên. Lily và người bán hoa hiện đều nhìn chúng tôi và Lily đứng lên, bắt đầu rảo bước về phía tôi. "Nhưng không phải nó cho thấy..."
"Nó cho thấy người nào đó biết tôi có thể tìm bà ấy", cậu bé nói. "Nhưng tôi không tìm, trừ khi chị biết đúng cụm từ".
Một thằng bé đáng ghét cứng đầu. Tôi thầm nguyền rủa Nim vì anh ta quá bí ẩn thì bỗng nhiên tôi nghĩ ra một vở nhạc kịch khác của Tchaikovsky có chín chữ cái, ít ra là vậy nếu đọc theo tiếng Pháp. Lily vừa đến chỗ chúng tôi khi tôi túm cổ áo Wahad.
"Đầm Bích !" tôi kêu lên. "Nữ hoàng của những quân bích !"
Wahad mỉm cười lộ hàm răng xiêu vẹo.
"Đúng rồi", cậu bé nói. "Nữ Hoàng Đen". Đè bẹp điếu thuốc dưới đất, cậu bé ra hiệu cho chúng tôi băng qua Bab el Oued và theo cậu ta vào khu Casbah.
***
Wahad đưa chúng tôi lên xuống những con phố dốc đứng trong Casbah mà tôi không bao giờ tự mình tìm ra được. Lily đang gắt gỏng và mệt đứt hơi phía sau chúng tôi và cuối cùng tôi nhấc Carioca lên nhét vào túi đeo vai của mình để nó thôi rên ư ử. Sau nửa giờ vòng vèo qua những khúc quanh ngoằn ngoèo, cuối cùng chúng tôi đến một ngõ cụt có những bức tường gạch cao không để ánh sáng bên trên lọt xuống. Wahad dừng bước để Lily đuổi kịp và thình lình tôi cảm thấy cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng. Tôi cảm giác trước đây mình đã ở nơi này. Sau đó tôi nhận ra đây giống giấc mơ vào cái đêm tôi ở nhà Nim khi tôi thức giấc lạnh toát mồ hôi. Tôi khiếp đảm, xoay Wahad và túm vai cậu bé.
"Em đang dẫn chị đi đâu vậy ?" tôi kêu lên.
"Theo tôi", cậu bé nói, mở cánh cửa gỗ nặng nề được chôn sâu trong bức tường đá. Tôi liếc nhìn Lily và nhún vai, sau đó chúng tôi bước vào. Có một cầu thang tối om trông như dẫn xuống hầm ngục.
"Em có chắc em biết mình đang làm gì không ?" tôi gọi với đến phía Wahad, cậu bé đã biến mất vào nơi âm u kia.
"Sao chúng ta biết không phải mình đang bị bắt cóc ?" Lily thì thầm sau tôi khi chúng tôi bắt đầu đi xuống cầu thang. Tay cô ấy đặt trên vai tôi, và Carioca rên rỉ khe khẽ trong túi. "Tớ nghe nói những phụ nữ tóc vàng được bán với giá rất cao trong thương vụ mua bán nô lệ da trắng..."
Tôi nghĩ cách nói đó cho thấy cô ấy đang hoảng hơn. Tôi lớn tiếng nạt, "Im đi và đừng đẩy tớ". Nhưng tôi sợ. Tôi biết mình không bao giờ có thể tìm đường ra khỏi nơi này lần nữa.
Wahad đang chờ ở phía cuối, tôi đụng vào cậu bé trong bóng tối. Lily vẫn bám vào tôi khi chúng tôi nghe Wahad mở khóa cửa. Cánh cửa hé mở, hắt ra ánh sáng lờ mờ.
Cậu bé kéo tôi vào trong một căn hầm tối om rộng lớn nơi có hơn cả tá người ngồi đây đó trên sàn lót nệm, chơi xúc xắc. Một vài người ngước cặp mắt lờ đờ lên khi chúng tôi đi qua căn phòng đầy khói. Thế nhưng không ai cản chúng tôi lại.
"Mùi kinh khủng gì vậy ?" Lily thì thào hỏi. "Giống như mùi thịt thối rữa".
"Mùi Hasit (thuốc lá chế bằng lá thuốc non và đọt gai dầu ở Thổ Nhĩ Kì, Ấn Độ)", tôi thì thào trả lời, liếc nhìn những xô lớn đầy nước đặt khắp phòng, nhìn những người ngậm mấy cái vòi dài và đổ khối xúc xắc màu ngà.
Chúa ơi, Wahad đang đưa chúng tôi đi đâu đây ? Chúng tôi theo cậu bé qua căn phòng đến cánh cửa bên kia và lên hành lang dốc nghiêng tối mịt vào phía sau cửa hiệu nhỏ. Cửa hiệu đầy nghẹt chim - khắp nơi những con chim rừng nhảy nhót trong những cái lồng.
Chỉ có một khung cửa sổ lớn phủ dây leo để ánh sáng bên ngoài lọt vào. Những miếng thủy tinh lủng lẳng của các ngọn đèn treo có lăng kính lấp lánh màu vàng, xanh lá, và xanh dương dội vào tường và lên các khuôn mặt che mạng và mái tóc của vài người phụ nữ di chuyển khắp phòng. Như những người đàn ông bên dưới, những phụ nữ này cũng phớt lờ như thể chúng tôi là một phần của giấy dán tường.
Wahad kéo tôi qua mê cung những cái cây và lồng chim vào cổng tò vò nhỏ tít phía xa của cửa hiệu, mở ra một lối đi hẹp. Nó hoàn toàn không còn lối nào khác trừ lối chúng tôi đến, những bức tường đá phủ đầy rêu cao vợi bao quanh con đường nhỏ hình vuông rải sỏi và một cánh cửa nặng nề ở bức tường bên kia.
Wahad băng qua khoảng sân được bao bọc, kéo một sợi dây treo cạnh cửa. Một hồi lâu sau mới có động tĩnh. Tôi liếc nhìn Lily vẫn bám vào tôi. Cô lấy lại hơi nhưng khuôn mặt còn trắng bệch và tôi chắc mặt mình cũng vậy. Nỗi lo lắng đang chuyển thành kinh hoàng.
Khuôn mặt một người đàn ông xuất hiện ở khung lưới cánh cửa. Ông ta nhìn Wahad không nói gì. Sau đó mắt ông ta nhìn sang Lily và tôi nơi chúng tôi túm tụm vào nhau bên này sân. Ngay cả Carioca cũng im bặt. Wahad lầm bầm gì đó và dù cách xa hai mươi foot tôi vẫn nghe thấy cậu bé nói.
"Mokhfi Mokhtar", cậu bé thì thầm. "Con mang đến cho bà người phụ nữ".
Chúng tôi đi qua cánh cửa gỗ đồ sộ đứng trong một khu vườn ngay hàng thẳng lối nhỏ có tường gạch. Sàn lót mẫu đá men kiểu dáng đa dạng, dường như không bị lặp lại. Những dòng nước nhỏ róc rách trong tán lá trang trí không đồng đều. Chim rù rì và líu lo trong đốm sáng chập chờn. Chỗ sân trong cùng là một hàng những khung cửa sổ kiểu Pháp nhiều ô kính phủ dây leo. Qua những ô cửa sổ này, tôi thoáng thấy căn phòng trang hoàng lộng lẫy những tấm thảm kiểu Ma-rốc, bình Trung Hoa và vô vàn đồ da trang trí, đồ gỗ chạm khắc.
Wahad lẻn đi ra qua cánh cửa phía sau chúng tôi. Lily quay ngoắt lại, hét lớn. "Đừng để thằng oắt con trốn thoát, chúng ta sẽ không bao giờ ra khỏi đây !"
Nhưng cậu bé đã mất dạng. Người đàn ông đưa chúng tôi vào cũng đi mất, thế là chỉ còn lại hai chúng tôi trơ trọi trên sân, nơi không khí u ám, mát mẻ và mùi nước hoa trộn lẫn mùi cây cỏ ngọt ngào tràn ngập không gian. Tôi cảm thấy mê mẩn trong khi suối nước chảy du dương, vang vọng dội lên các bức tường rêu phong.
Tôi để ý một bóng người di chuyển sau những khung cửa sổ kiểu Pháp. Bóng người thấp thoáng lướt qua khóm hoa nhài và đậu tía um tùm. Lily chộp lấy tay tôi. Chúng tôi đứng cạnh vòi nước và nhìn hình dáng phủ bạc óng ánh di chuyển qua cổng tò vò vào khu vườn, lơ lửng qua ánh sáng chập chờn, một phụ nữ mảnh mai xinh đẹp với chiếc áo choàng trong mờ dường như cất tiếng thì thầm khi bà di chuyển. Mái tóc mềm lòa xòa như đôi cánh chim óng ánh phủ lên khuôn mặt che mạng phân nửa. Khi bà nói, giọng ngọt ngào và trầm lắng như dòng nước mát rượi chảy qua phiến đá trơn nhẵn.
"Ta là Minnie Renselaas", bà nói, đứng trước mặt chúng tôi như một linh hồn trong ánh sáng mờ ảo. Nhưng thậm chí trước khi bà giở tấm mạng che màu bạc mờ đục che khuôn mặt lên, tôi đã biết bà là ai. Đó chính là bà thầy bói.