Bí Ẩn Bộ Cờ Montglane

Lượt đọc: 100 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Lục Địa Thất Lạc

❊ ❊ ❊

Cách mười ngày đường có một gò muối, một dòng suối, và một vùng đất rộng bỏ hoang. Cạnh nó sừng sững ngọn núi Atlas, hình thù như cái nón hẹp bề ngang, cao đến nỗi người ta nói không thể thấy được đỉnh núi vì mùa hè hay mùa đông thì cũng không bao giờ hết mây che phủ.

Người địa phương sống ở đó có tên là "người Atlas", đặt theo tên ngọn núi mà họ còn gọi là "Cột chống trời". Nghe đồn dân ở đó không ăn thịt sống và không bao giờ nằm mơ.

- "Cư dân của vành đai cát" - Lịch sử (năm 454 trước Công nguyên) - Herodotus

Khi chiếc Comiche lớn của Lily lao nhanh từ núi sa mạc xuống ốc đảo tại Ghardaia, tôi trông thấy khắp nơi đều là hàng dặm cát đỏ mịt mờ trải dài ra xa vô tận.

Trên bản đồ, địa hình Algeria khá đơn giản: nó có hình thù như một cái bình nằm nghiêng. Vòi bình, cuối biên giới Ma-rốc, nghiêng mình như đang rót nước vào các nước lân cận ở phía tây sa mạc Sahara và Mauretania. Tay cầm của bình được tạo thành bởi hai dải đất: vùng ẩm ướt dọc bờ biển phía Bắc bề ngang trải dài năm mươi dặm và một dải núi ba trăm dặm ngay phía Nam dải đất đó. Phần còn lại của quốc gia này, diện tích khoảng gần triệu dặm, toàn là sa mạc.

Lily đang lái xe, chúng tôi đã đi năm giờ đồng hồ và được 360 dặm đường núi nhìn sang sa mạc, một kì công kiến Carioca đang rên rỉ dưới gầm ghế. Tôi không để ý, vì quá say mê dịch và đọc lớn quyển ghi chép Minnie đưa cho chúng tôi, một câu chuyện về điều bí ẩn đen tối, diễn ra cuộc khủng bố ở Pháp. Và ẩn bên dưới mọi chuyện là cuộc truy lùng hai trăm năm trước của vị nữ tu người Pháp Mireille về bí mật của bộ cờ Montglane. Cuộc truy lùng hệt như điều chính chúng tôi đang theo đuổi.

Giờ đã rõ làm thế nào Minnie khám phá ra lịch sử của bộ cờ, quyền năng bí hiểm của nó, công thức chứa trong nó, và ván cờ trí mạng dành cho các quân cờ. Một ván cờ tiếp tục từ thế hệ này sang thế hệ khác, di chuyển các người chơi tiến theo gót nó như việc Lily và tôi, Solarin và Nim, và có lẽ cả chính Minnie, bị nuốt chửng vào nó. Một ván cờ chơi trên cùng địa hình mà hiện chúng tôi đang băng qua.

"Sa mạc Sahara", tôi nói, ngước mắt lên khỏi quyển sách khi xe bắt đầu đi xuống Ghardaia. "Cậu biết không, không phải trước đây vùng này luôn là sa mạc lớn nhất thế giới đâu. Hàng triệu năm trước, Sahara là vùng biển nội địa lớn nhất thế giới. Sự phân hủy thành thể khí của động thực vật biển vô cùng nhỏ bé chính là cách hình thành dầu thô và khí lỏng tự nhiên, Thuật giả kim của tạo hóa",

"Thế ư ?" Lily nhận xét cộc lốc. "À, cây kim xăng cho thấy chúng ta phải ngừng để châm cái thứ do đời sống sinh vật biển nhỏ bé đó tạo ra. Tớ đoán tốt hơn chúng ta nên đến Ghardaia. Bản đồ của Minnie cho thấy không có nhiều thành phố dọc đường này".

"Tớ không xem nó", tôi nói, nhắc đến tấm bản đồ Minnie đã vẽ rồi sau đó cũng đã tiêu hủy. "Tớ hy vọng cậu có trí nhớ tốt".

"Tớ là tay cờ vua mà", Lily nói như thể điều đó giải thích được tất cả.

"Thành phố Ghardaia này từng được gọi là Khardaia", tôi nói, lại chúi mũi vào quyển ghi chép, "Cô bạn Mireille của chúng ta dường như đã dừng chân tại đây năm 1793". Tôi đọc:

Và chúng tôi tới khu vực Khardaia ngập nước. Vùng đất được đặt theo tên Nữ thần Kar của người Berber – nữ thần mặt trăng mà người Ả Rập gọi là "Libya". Bà cai quản vùng biển nội địa từ sông Nile đến Đại Tây Dương. Con trai Phoenix của bà sáng lập đế chế Phoenicia, nghe đồn bản thân cha bà trở thành vị thần cai quản đại dương Poseidon. Bà có vô số tên gọi ở rất nhiều vùng đất: Ishtar, Astarte, Kali, Cybelle.. Tất cả suối nguồn sự sống tuôn trào từ bà như từ biển cả. Ở vùng đất này người ta gọi bà là Nữ Hoàng Trắng.

"Chúa ơi", Lily nói, vừa liếc mắt sang tôi vừa giảm ga rẽ sang đường chính đến Ghardaia, "Ý cậu là thành phố này được đặt theo tên nữ thần báo oán tinh quái của chúng ta ư ? Vậy có lẽ chúng ta sắp rơi vào ô cờ trắng !"

Chúng tôi say mê dồn hết tâm trí tìm kiếm thêm các sự kiện trong cuốn sách đến nỗi tôi không để ý có một chiếc Renault xám sẫm chạy theo sau cho đến khi nó đạp phanh và theo xe chúng tôi vào đường chính đến Ghardaia.

"Nãy giờ cậu có thấy chiếc xe đó không ?" tôi hỏi Lily.

Cô gật đầu quả quyết vẫn tập trung nhìn đường. "Tại Algiers", cô bình tĩnh nói. "Nó đậu cách chúng ta ba xe ở khu để xe của bộ, cũng hai gã đó trong xe; chúng qua mặt xe tụi mình ở dãy núi khoảng một giờ trước nên tớ mới nhìn kỹ. Từ lúc đó chúng không rời mình. Nghĩ xem anh bạn Sharrif của chúng ta có dính líu trong vụ này không ?"

"Không", tôi nói, quan sát bọn họ trong kính chiếu hậu. "Đó là xe của bộ", và tôi biết ai ra lệnh cho bọn họ.

***

Tôi bồn chồn không yên mãi từ lúc ở Algiers. Khi gọi cho Minnie ở Casbah, tôi gọi cho Kamel từ buồng điện thoại công cộng ở quảng trường để cho ông ta biết tôi sẽ đi vắng vài ngày và ông ta nổi khùng lên.

"Cô điên à ?" Ông hét toáng vào đường dây diện thoại rè rè "Cô biết mô hình cân bằng mậu dịch đó rất cần thiết cho tôi ngay bây giờ ! Tôi phải có những số liệu này trong vòng cuối tuần ! Dự án này của cô phải được đặt lên mức độ khẩn cấp cao nhất".

"Tôi sẽ quay về sớm mà", tôi nói. "Hơn nữa mọi thứ đã xong. Tôi đã thu thập dữ liệu từ mọi quốc gia ông chỉ định và tải hầu hết vào các máy vi tính ở Sonatrach rồi. Tôi có thể để lại cho ông danh sách các chỉ dẫn để chạy chương trình, tất cả đã được cài đặt".

"Hiện giờ cô ở đâu ?" Kamel ngắt lời, thiếu điều muốn nhảy qua đường dây điện thoại để đến chỗ tôi. "Hơn một giờ rồi, lẽ ra cô phải có mặt tại chỗ làm cách đây mấy tiếng. Tôi thấy một chiếc xe kỳ cục đậu tại chỗ xe tôi với một mảnh giấy trên đó. Giờ Sharrif đang ở ngay ngoài cửa văn phòng tôi để tìm cô. Hắn nói rằng cô đã buôn lậu xe hơi, chứa chấp kẻ nhập cư bất hợp pháp, và gì đó về một con chó nguy hiểm ! Xin cô vui lòng giải thích chuyện gì đang xảy ra vậy ?"

Tuyệt thật. Nếu tôi chạy đến chỗ Sharrif trước khi hoàn tất nhiệm vụ này thì chắc chắn mọi thứ hỏng bét. Tôi cần phải thẳng thắn trao đổi với Kamel, ít ra cũng một phần nào. Tôi đang thiếu đồng minh.

"Được rồi", tôi nói. "Một người bạn của tôi gặp rắc rối. Cô ta đến thăm tôi nhưng chưa đóng dấu thị thực".

"Hộ chiếu của cô ta đang nằm trên bàn tôi đây này", Kamel cáu kỉnh. "Sharrif mang nó đến, cô ấy thậm chí không có đến một dấu thị thực !"

"Không quan trọng", tôi nói nhanh. "Cô ấy có chế độ hai quốc tịch, một hộ chiếu khác. Ông có thể thu xếp để chuyện này giống như cô ấy đến đây một cách hợp pháp. Ông sẽ làm Sharrif thành kẻ ngớ ngẩn..."

Giọng Kamel đang trở nên gắt gỏng. "Thưa cô, tôi không có tham vọng biến chỉ huy cảnh sát mật thành kẻ ngớ ngẩn !" Sau đó dường như ông dịu đi đôi chút. "Dù thấy làm vậy thật ngốc nhưng tôi sẽ cố giúp cô. Tình cờ tôi biết cô gái kia là ai, tôi quen ông nội cô ta. Ông ấy là bạn thân của cha tôi. Họ chơi cờ với nhau tại Anh".

Thật hay, giờ mọi chuyện hóa ra ly kỳ ! Tôi ra hiệu cho Lily, người cố chen vào buồng điện thoại và áp tai vào ống nghe với tôi.

"Cha ông chơi cờ với Mordecai à ?" tôi lặp lại. "Ông ấy có phải là tay cờ thực thụ không ?"

"Chứ không phải tất cả chúng ta à ?" Kamel đáp quanh co. Ông im lặng một lúc, có vẻ đang nghĩ ngợi. Những lời tiếp theo của ông khiến Lily đứng cứng đờ cạnh tôi còn tôi cảm thấy bụng mình giật thót. "Tôi biết cô đang lập kế hoạch cho chuyện gì. Cô đã gặp bà ấy rồi, phải không ?"

"Bà ấy nào ?" tôi nói, cố hết sức ra vẻ ngây thơ.

"Đừng giả bộ. Tôi là bạn cô, tôi biết El-Marad đã nói gì với cô, tôi biết thứ cô đang tìm kiếm. Cô bạn thân mến, cô đang chơi một trò chơi nguy hiểm. Những người này là kẻ sát nhân, tất cả bọn họ. Không khó để đoán ra cô định đi đâu, tôi biết thứ được đồn đại ẩn giấu ở đó. Cô không hình dung rằng khi biết chắc cô đang mất tích, Sharrif cũng sẽ đến đó tìm cô sao ?"

Lily và tôi nhìn nhau chằm chằm qua ống nghe. Liệu có phải điều này nghĩa là Kamel cũng là một quân cờ không ?

"Tôi sẽ cố che giấu cho cô", ông ta lên tiếng, "nhưng tôi mong chờ cô trở về khoảng cuối tuần. Bất kể làm gì cô cũng đừng đến văn phòng của cô hay của tôi trước thời điểm đó, và đừng ra sân bay. Nếu có điều gì cần nói tôi nghe về... dự án... của cô, tốt nhất liên lạc qua Bưu điện Trung tâm".

Qua giọng điệu của ông ta, tôi đoán điều đó có nghĩa: tôi nên chuyển mọi liên lạc thư từ qua Therese. Tôi có thể gửi hộ chiếu của Lily và các chỉ dẫn OPEC của tôi cho bà ấy trước khi chúng tôi đi.

Khi cúp máy, Kamel chúc tôi may mắn và nói thêm, "Tôi sẽ cố tìm cho cô thứ tốt nhất tôi có. Nhưng nếu cô rơi vào rắc rối thật sự thì có lẽ cô phải tự giải quyết đấy".

"Không phải tất cả chúng ta à", tôi đáp, bật cười. Sau đó tôi trích dẫn câu của El-Marad: "El-safar Zafar !" Lên đường thắng lợi. Tôi hy vọng câu tục ngữ Ả Rập cổ sẽ thành sự thật nhưng tôi cực kỳ e dè. Khi cúp máy, tôi cảm thấy như thể mối liên kết cuối cùng với thực tế của mình đã bị cắt đứt.

***

Vậy là, tôi chắc chắn chiếc xe của bộ chạy theo sau chúng tôi vào Ghardaia do Kamel phái đi. Chắc những nhân viên này được gửi đến bảo vệ chúng tôi. Hai đứa tôi không thể để họ lẽo đẽo theo đuôi vào sa mạc, tôi phải tìm hiểu ra vài thứ.

Tôi không biết khu vực này của Algeria, nhưng tôi biết thành phố Ghardaia hai đứa đang đến là một trong những Pentapolis nổi tiếng, hay còn gọi là "Năm thành phố của M'zab". Khi Lily chạy dọc đường để tìm cây xăng, tôi trông thấy các thành phố xếp hàng tựa vào những vách đá tím, hồng và đỏ xung quanh chúng tôi như sự hình thành khối đá bằng pha lê trồi lên từ cát. Chúng là những thành phố được nói đến trong các quyển sách viết về sa mạc. Le Corbusier nói họ đắm mình trong 'nhịp điệu tự nhiên của cuộc sống'. Frank Lloyd Wright đã gọi chúng là những thành phố xinh đẹp nhất thế giới, kết cấu cát đỏ 'màu của máu - màu của sáng tạo". Nhưng nhật ký của nữ tu người Pháp Mireille lại có thông tin thú vị hơn về chúng:

Những thành phố này được thành lập cả ngàn năm trước bởi dân Ibadites, tức 'Chúa nắm giữ', họ là những người tin rằng các thành phố được sở hữu bởi linh hồn nữ thần mặt trăng kỳ lạ, và gọi chúng theo tên bà: Thành phố dạ quang, Melika - Nữ hoàng...

***

"Chết thật", Lily nói, tấp vào trạm xăng. Chiếc xe theo đuôi vượt qua mặt chúng tôi, vòng ngược lại và lại quay đầu xe. "Chúng ta ở một nơi xa xôi hẻo lánh với hai gã ngốc theo đuôi, cả triệu dặm trước mặt toàn là cát, và không biết mình đang tìm kiếm gì, ngay cả khi đã tìm ra".

Tôi buộc lòng phải đồng tình với đánh giá ảm đạm của cô ấy, thế nhưng mọi chuyện chẳng mấy chốc lại còn tồi tệ hơn nhiều.

“Tốt hơn tớ nên đổ thêm xăng", Lily nói, nhảy khỏi xe. Cô rút ra một nắm tiền và mua hai bình xăng 5 galông và hai bình nước trong khi người nhân viên đổ xăng vào đầy ắp chiếc Rolls.

"Cậu không cần làm vậy", tôi nói khi cô ấy trở lại xe. "Đường đèn Tassili sẽ đi qua mỏ dầu Hassi-Messaoud, có giàn khoan và ống dẫn".

"Chúng ta không đi đường đó", cô ta cho tôi biết, bắt đầu rồ máy. "Lẽ ra cậu nên nhìn bản đồ". Tôi bắt đầu cảm thấy khó chịu.

Từ đây chỉ có hai đường đến Tassili. Một đường đi hướng Đông băng qua các mỏ dầu tại Ourgla rồi chạy xuống phía Nam vào phần trên cùng của khu đó. Ngay cả đoạn đường này cũng đã cần có xe để đi. Còn đường kia, có lẽ dài gấp đôi, băng qua cánh đồng hoang, đồng bằng Tidikelt cằn cỗi, một trong những khu khô cằn nhất, nguy hiểm nhất của sa mạc, một nơi đường đi được đánh dấu bằng những cây cột cao ba mươi foot, người ta thường đào cột ra khi nó bị lún xuống, mà chuyện đó thì khá thường xuyên. Chiếc Comiche có thể trông như xe tăng nhưng nó không có dây xích dưới bánh cần thiết để băng qua những cồn cát này.

"Cậu không đùa chứ ?" tôi hỏi Lily khi cô ấy chạy khỏi trạm xăng với những người bạn 'đồng hành' ngay sau đuôi. "Ghé vào quán ăn gần nhất, chúng ta cần nói chuyện".

"Và họp bàn chiến lược", cô ấy đồng ý, liếc nhìn kính chiếu hậu. "Những gã đó đang khiến tớ bực dọc".

Chúng tôi tìm thấy một quán ăn nhỏ ở bìa Ghardaia. Xuống xe, hai đứa đi qua quán rượu mát mẻ tại lối vào, bước vào phần sân trong, nơi đặt những cái bàn có gắn dù và những cây chà là xõa bóng trong ráng chiều đỏ. Chỉ mới sáu giờ chiều, các bàn đều trống trơn nhưng tôi tìm ra người phục vụ và gọi vài món khai vị cùng món tadjine, ragu cừu với bột mì nấu thịt.

Lily đang bốc rau sống trong món khai vị đầy dầu mỡ thì hai anh bạn hộ tống đến nơi và kín đáo ngồi xuống cái bàn cách đó một chút.

"Theo cậu chúng ta tống khứ hai thằng cha kia đi thế nào ?" Lily nói, nhét miếng thịt cừu tadjine vào miệng Carioca đang ngồi trong lòng cô.

"Trước hết bàn về lộ trình đi", tôi nói. "Tớ đoán từ đây đến Tassili còn bốn trăm dặm. Nhưng nếu chúng ta đi hướng nam thì còn tới tám trăm dặm, trên đường đó quán ăn, cây xăng và thành phố rất thưa thớt và cách xa nhau, chỉ toàn là cát trải dài vô tận".

"Tám trăm dặm không thành vấn đề", Lily nói. "Tất cả là đường bằng phẳng. Tớ mà lái thì chúng ta sẽ đến được đó trước sáng mai". Cô búng tay kêu người phục vụ và gọi sáu chai Ben Haroun lớn, thứ rượu lê của phương nam. "Hơn nữa, đó là lối duy nhất để đến nơi chúng ta định đi. Tớ cam đoan lộ trình nằm trong đầu tớ mà, nhớ không ?"

Trước khi kịp phản đối, tôi liếc ra khoảng sân ở lối vào và lắp bắp không nên lời. "Đừng nhìn", tôi nói thầm, "nhưng giờ chúng ta có thêm vài vị khách".

Hai gã lực lưỡng bước qua tấm mành chuỗi và đang băng qua mảnh sân đặt những cây cọ, ngồi xuống gần đó. Họ tình cờ đưa mắt quan sát chúng tôi nhưng phái viên của Kamel ngồi bên kia không nhìn thấy. Bọn họ nhìn chằm chằm người mới đến rồi thì thầm với nhau và tôi biết tại sao. Cuối cùng tôi nhận ra hai gã vạm vỡ kia, một là tên cầm súng ở sân bay, còn tên kia đã đưa tôi từ quán rượu về vào ngay cái đêm tôi vừa đến Algiers, những kẻ làm không công cho cảnh sát mật.

"Sharrif xét cho cùng đã không quên chúng ta", tôi cho Lily biết và lấy đồ ăn. "Tớ không bao giờ quên mặt ai và có lẽ Sharrif chọn bọn họ cũng vì chúng không quên mặt tớ. Lúc trước cả hai đều gặp tớ rồi".

"Nhưng bọn họ không thể theo dõi chúng ta trên một con đường vắng tanh", cô ấy khăng khăng. "Nếu chúng bám theo thì tớ đã phải để ý như những người khác rồi".

"Trò theo dõi ra mặt đã hết thời cùng Sherlock Holmes rồi", tôi nói.

"Ý cậu là chúng gắn gì đó vào xe ta, như máy ra đa à !" cô thì thầm giọng khàn khàn, "Nên chúng có thể bám đuôi ta mà không bị phát hiện !"

"Đoán đúng rồi đó, Watson thân mến", tôi hạ giọng nói. "Cậu giữ chân chúng trong hai mươi phút đi, tớ sẽ tìm ra cái máy be bé đó và gỡ đi. Thiết bị điện tử là sở trường của tớ mà".

"Tớ có vài mánh khóe của riêng mình", Lily nháy mắt thì thầm. "Thứ lỗi nhé, tớ nghĩ tớ phải vào nhà vệ sinh một lát". Mỉm cười đứng dậy, cô bỏ Carioca vào lòng tôi và lớn tiếng gọi người phục vụ phía bên kia phòng, hỏi thăm "nhà vệ sinh nữ" ở đâu. Gã dữ dằn toan đứng dậy theo Lily nhưng khựng lại khi nghe vậy và đành phải ngồi xuống.

Tôi đang vật lộn với Carioca, con vật có vẻ khoái món tadjine. Cuối cùng Lily quay lại, nhấc con chó lên, nhét vào giỏ tôi, hai đứa chia nhau cầm những chai nước lớn và tiến ra cửa.

"Trò gì vậy ?" tôi thì thầm. Tất cả những người "hộ tống" của chúng tôi vội vã trả tiền và đi theo.

"Chơi khăm chúng", cô nói rành rọt khi chúng tôi tiến đến chiếc xe. "Một cái giũa móng tay bằng thép và một cục đá. Tớ đâm thủng ống xăng và lốp xe chúng, không phải lỗ lớn, chỉ vài khe rò rỉ thôi. Chúng ta sẽ dẫn chúng đi dạo sa mạc một hồi đến khi xe chúng không chạy được nữa rồi mới đi đúng đường".

"Nhất cử lưỡng tiện", tôi hào hứng nói khi hai đứa leo vào chiếc Comiche. "Cậu giỏi thật !" Nhưng khi chạy xe ra, tôi mới để ý có đến gần chục chiếc xe đậu quanh xe tôi trong bãi, có lẽ một số chiếc là của nhân viên quán ăn hay quán cà phê bên cạnh. "Sao cậu biết được chiếc nào là xe của cảnh sát mật ?"

"Tớ đâu biết", Lily mỉm cười tự mãn khi băng ra đến đường. "Nên để chắc ăn, tớ đâm thủng tất tần tật".

Tôi đã nhầm khi đoán lộ trình hướng nam là tám trăm dặm.

Bảng chỉ dẫn chi tiết tại bìa Ghardaia cho biết quãng đường đến tất cả các địa điểm phía Nam số lượng bảng chỉ dẫn này không nhiều chỉ còn 1637 cây số, tức hơn cả ngàn dặm mới tới được Djanet ở phía nam Tassili. Và mặc dù Lily chạy nhanh nhưng còn mất bao lâu khi chúng tôi đã cắt đuôi ?

Như Lily dự đoán, vệ sĩ của Kamel chỉ theo chúng tôi thêm được khoảng một giờ trong ánh chiều tà của M'zab. Và đúng theo tôi dự đoán, những gã của Sharrif chạy phía sau cách rất xa nên chúng tôi không thấy được họ đã để chủ mình thất vọng khi phải tấp vào vỉa hè thế nào. Một khi không còn bị bám đuôi, chúng tôi tấp vào lề đường trong bóng tối nhá nhem và tôi bò xuống gầm xe Comiche to lớn. Mất năm phút trong ánh sáng đèn pin tôi mới thấy thiết bị theo dõi gắn phía sau trục xe đằng sau. Tôi lấy xà beng Lily đưa để đập nó ra.

Nhìn ra nghĩa trang Ghardaia ngổn ngang, hít thở không khí ban đêm mát mẻ, chúng tôi nhảy tưng tưng, vỗ lưng nhau vài cái khen nhau tài giỏi trong khi Carioca lon ton đi quanh, ngẩng đầu sủa ăng ẳng. Sau đó chúng tôi trở vào xe và đổi hướng.

Giờ tôi đã đổi ý về sự lựa chọn lộ trình của Minnie. Mặc dù xa lộ phía bắc dễ đi hơn nhưng chúng tôi sẽ bị săn đuổi nên không thể để bọn họ đoán ra chúng tôi đi hướng nào. Không người Ả Rập nào đầu óc minh mẫn lại có thể mơ đến chuyện hai cô gái đơn độc dám chọn lộ trình này, đến cả tôi còn khó hình dung. Nhưng chúng tôi đã phí nhiều thời gian tránh né những gã kia nên đến hơn chín giờ tôi chúng tôi mới rời khỏi M'zab và trời đã tối mịt, tối đến nỗi tôi không thể đọc quyển sách để trên vạt áo, tối đến nỗi không thấy quang cảnh vắng ngắt. Trong khi Lily chạy xuống con đường thẳng tắp dài ngoằng, tôi chợp mắt chút đỉnh để đoạn đường tới lái thay cô ấy.

Đến lúc chúng tôi băng qua Hammada và đi tắt qua phía nam cồn cát Touat, mười tiếng đồng hồ đã trôi qua và bình minh đã ló dạng. Thật may chuyến đi yên ổn, có lẽ quá yên ổn. Tôi có cảm giác băn khoăn hình như vận may của hai đứa đang mất dần, tôi bắt đầu nghĩ đến sa mạc.

Những dãy núi chúng tôi đi qua hôm trước vào buổi trưa nhiệt độ mát mẻ khoảng 19°C. Ghardaia lúc xế chiều có lẽ nóng hơn mười độ và những cồn cát đêm khuya sưomg vẫn rơi lạnh cóng dù đã cuối tháng sáu. Nhưng hiện giờ là bình minh tại đồng bằng Tidikelt, bờ của một sa mạc thật sự, một sa mạc cát gió, không còn những cây cọ, hoa lá và nước ngọt. Thế mà chúng tôi vẫn còn bốn trăm năm mươi dặm trước mắt, không quần áo ngoại trừ những thứ đang mặc trên người, không thức ăn ngoại trừ vài chai nước có ga. Nhưng điều tồi tệ hơn còn phía trước. Lily cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi.

"Có một rào chắn trên kia", cô nói với giọng căng thẳng, chăm chú nhìn qua kính chắn gió ngăn côn trùng thấp thoáng ánh sáng gay gắt của mặt trời đang mọc. "Trông như đường biên giới... tớ không biết nó là gì. Chúng ta có nên liều đi đại không ?"

Không còn nghi ngờ gì nữa, vài trạm nho nhỏ có cột hàng rào chấn song liên minh với tiền đồn của đơn vị Nhập cư mọc lên nơi đây, giữa sa mạc. Nó có vẻ kỳ lạ và lạc lõng giữa chốn hoang vu bao la vắng vẻ này.

"Dường như chúng ta không có sự lựa chọn", tôi nói. Chúng tôi vượt qua đường tắt cuối cùng cách một trăm dặm. Đó là con đường duy nhất trong thành phố.

"Tại sao bọn họ lại đặt rào chắn ở đây mà không phải chỗ khác ?" Lily hỏi, lách xe lên trước, giọng nóng nảy.

"Có lẽ để kiểm soát sự minh mẫn", tôi giả bộ nói đùa. "Không nhiều người điên đến nỗi vượt qua chỗ này đâu. Cậu biết cái gì ngoài đó mà, phải không ?"

"Chẳng có gì hết hả ?" cô ấy đoán. Tiếng cười của chúng tôi giảm bớt đôi chút sự căng thẳng. Cả hai cùng lo một chuyện: nhà ngục ở chốn sa mạc này sẽ ra sao. Vì đó là thứ chúng tôi phải đối mặt nếu bọn họ phát hiện ra chúng tôi là ai và chúng tôi đã làm gì với chiếc xe của bộ trưởng OPEC và chỉ huy cảnh sát mật. 

"Đừng hốt hoảng", tôi nói khi chúng tôi tiến đến hàng rào. Người canh gác bước ra, một anh chàng nhỏ con có râu mép trông như thể bị bỏ quên lại khi đội lính lê dương của Pháp tẩu thoát. Sau một hồi vận dụng vốn tiếng Pháp xoàng xĩnh của mình, tôi được biết rõ rằng anh ta muốn chúng tôi trình vài thứ giấy phép trước khi được đi qua.

"Giấy phép ư ?" Lily hét lên, suýt nhổ vào mặt anh ta. "Chúng ta cần sự cho phép để vào cái nơi khỉ ho cò gáy của trái đất à ?"

Tôi nói lịch sự lại bằng tiếng Pháp, "Thưa ngài, mục đích của tờ giấy phép chúng tôi cần là gì ?"

"Vì El-Tanzerouft, Sa mạc Thiếu nước", anh ta quả quyết, "xe của các cô bắt buộc phải được chính phủ kiểm tra và cấp giấy phép không mang mầm bệnh".

"Anh ta 'lo xe của chúng ta không được ổn", tôi nói với Lily. "Hãy cho anh ta tiền và để anh ta tự tay kiểm tra vài thứ, sau đó chúng ta có thể đi".

Khi người lính gác trông thấy tiền và Lily rơi vài giọt nước mắt, anh ta quyết định mình đủ quyền để cho chúng tôi giấy phê chuẩn của chính phủ. Anh ta nhìn những bình xăng và nước, ngạc nhiên về hình trang trí trên mui xe lớn màu bạc, trầm trồ ngưỡng mộ trước nhãn dán vào thanh hãm chống va chạm của xe. Mọi chuyện có vẻ ổn thỏa đến khi anh ta bảo chúng tôi nâng mui lên và chạy đi.

Lily nhìn tôi lo lắng, tôi không chắc có vấn đề gì. "Theo tiếng Pháp nó có phải điều tớ nghĩ không ?" cô ta nói.

"Anh ta nói chúng ta có thể đi", tôi quả quyết với cô ấy, bắt đầu đi trở vào xe.

"Ý tớ là mui xe, tớ có phải nâng nó lên không ?"

"Tất nhiên. Đây là sa mạc. Vài giờ nữa nhiệt độ trong bóng râm sẽ lên đến một trăm độ F (37 độ C), chỉ có điều không có bóng râm, chưa kể tóc tai dính đầy cát..."

"Tớ không thể !" cô ta rít lên với tôi. "Không có cái mui nào hết !"

"Chúng ta đã chạy hơn tám trăm dặm từ Algiers trong một chiếc xe hơi không thể băng qua sa mạc à ? !" tôi cất cao giọng. Người lính gác ở cổng đã sẵn sàng nhấc cột hàng rào lên nhưng anh ta ngừng lại.

"Tất nhiên xe sẽ đi qua", cô ta phẫn nộ, ngồi vào ghế tài xế. "Đây là chiếc xe hơi tốt nhất từng được chế tạo, nhưng nó không có mui. Mui xe gãy rồi và bố Harry nói sẽ sửa cho tớ, chỉ có điều ông ấy không bao giờ làm. Tuy nhiên, tớ nghĩ vấn đề trước mắt cấp bách hơn của chúng ta..

"Vấn đề trước mắt của chúng ta", tôi hét vào cô ấy, "là cậu sắp chạy vào sa mạc lớn nhất thế giới trong một chiếc xe không có mui che trên đầu ! Cậu sắp giết cả hai ta đó !"

Người lính gác nhỏ bé có thể không hiểu tiếng Anh nhưng anh ta biết có vấn đề gì đang diễn ra. Ngay lúc đó có một chiếc xe lớn dừng lại sau chúng tôi và bóp còi. Lily vẫy tay, nổ máy và lùi chiếc Comiche sang một bên để chiếc xe tải lớn có thể chạy lên trước. Người lính gác lại bước ra kiểm tra giấy tờ của tài xế xe tải.

"Tớ không hiểu tại sao cậu lại quá nóng nảy đến vậy", Lily nói. "Xe tớ có máy điều hòa nhiệt độ mà".

"Máy điều hòa nhiệt độ !" tôi lại hét lên. "Máy điều hòa nhiệt độ ư ? Nó sẽ giúp ích cho chúng ta bị say nắng và bão cát nhiều lắm đây..", tôi vừa mới khơi lại câu chuyện thì người lính gác trở vào đồn nâng hàng rào lên cho người tài xế xe tải, chiếc xe này rõ ràng đã được kiểm tra trước khi đâm đầu xuống tầng địa ngục thứ bảy.

Trước khi tôi kịp nhận ra chuyện gì thì Lily đã tăng tốc. Cát bay mù mịt, cô lao trở ra đường và băng qua cánh cổng ngay bên cạnh người lính gác. Tôi cúi đầu né khi thanh sắt đổ ào xuống, trượt qua đầu tôi và đập cái rầm vào thân sau chiếc Comiche. Tiếng kim loại cọ xát vào nhau rít lên thật kinh khủng khi thanh sắt cứa một nhát thật dài lên thanh chắn đẹp đẽ phía sau xe. Tôi có thể nghe tiếng người lính gác chạy ra khỏi trạm, gân cổ hét bằng tiếng Ả Rập nhưng giọng của chính tôi đã át tiếng anh ta. 

"Suýt chút nữa là cậu làm tớ bay đầu rồi !”, tôi hò hét. Chiếc xe chao đảo bấp bênh hướng về lề đường. Tôi bị đập vào cửa rồi sau đó, hoảng kinh hồn vía khi chiếc xe phóng khỏi con đường, lao vào biển cát đỏ dày đặc.

Nỗi kinh hoàng bám lấy tôi, tôi không còn thấy được gì nữa. Cát bay vào mắt, vào mũi, vào miệng. Lớp bụi đỏ mù mịt cuộn xoáy quanh tôi. Âm thanh duy nhất vẳng bên tai tôi là tiếng ho khan của Carioca dưới gầm ghế và tiếng còi vang rền của chiếc xe tải khổng lồ đầy vẻ nguy hiểm.

Khi chúng tôi nhìn thấy lại được ánh sáng chói lọi, cát rải đầy từ sườn xe Comiche, bánh xe lăn trên mặt đường cứng, và không biết làm sao, thật phi thường, chiếc xe nằm trước xe tải ba mươi thước, vẫn bon bon trên đường. Tôi giận dữ với Lily nhưng cũng hết sức sững sờ.

"Làm sao chúng ta ra đây được ?" tôi hỏi, vuốt tóc để lấy cát ra.

"Tớ không biết tại sao lúc nào ba cũng bắt tớ phải có tài xế", Lily nói vô tư như không có gì xảy ra. Toàn bộ tóc tai mặt mũi, và cả quần áo của cô ấy bám đầy một lớp cát mỏng. "Tớ lúc nào cũng yêu thích việc lái xe. Thật tuyệt vời được ở đây. Tớ cá trong số các tay cờ, tớ đã nắm giữ thành tích tốc độ chạy xe.”

"Cậu không nghĩ", tôi ngắt lời, "dù cậu không khiến hai đứa chết nhưng cái gã nhỏ con kia có thể có điện thoại thì sao ? Nếu hắn trình báo vụ chúng ta thì sao ? Hắn gọi đến những trạm gác trên nữa thì thế nào ?"

"Trạm trên nữa ở đâu ?" Lily khịt mũi xem thường. "Nơi này chắc chắn không đầy rẫy Đội Tuần tra Xa lộ".

Tất nhiên cô ấy nói đúng. Không ai hăng hái đến mức đuổi theo chúng tôi ra ngoài giữa cái chốn xa xôi hẻo lánh này chỉ vì chúng tôi phóng qua trạm kiểm soát xe.

Tôi quay lại với quyển nhật ký của nữ tu người Pháp Mireille, bắt đầu từ đoạn tôi ngừng lại hôm qua:

Và vậy là tôi từ Khardaia đi về hướng đông, băng qua Chebkha khô cằn và đồng bằng đá sỏi của Hammada, tiến đến Tassili n'Aijer nằm ở rìa sa mạc Libyan. Và khi tôi khởi hành, mặt trời chiếu rọi trên những cồn cát đỏ dẫn tôi đến thứ tôi tìm kiếm...

Phía đông, hướng mặt trời mọc mỗi sáng trên biên giới Libyan, bên kia những hẻm núi của Tassili, cũng là nơi chúng tôi hướng đến. Nhưng nếu mặt trời mọc hướng đông, tại sao khi chúng tôi từ hàng rào ở Ain Salah đi xuống con đường dài vô tận, tôi không để ý dường như nó đang mọc, đỏ đắn và tròn trịa, từ phía bắc ?

Suốt cả mấy giờ, Lily chạy trên con đường hai làn dài vô tận, ngoằn ngoèo như con rắn dài, thật dài giữa các cồn cát. Tôi đang trở nên lơ mơ vì cái nóng, và Lily, người đã ngồi sau tay lái gần hai mươi tiếng đồng hồ và thức suốt hai mươi bốn tiếng, trông xanh xao vàng vọt và đầu mũi đỏ ửng vì cái nóng kinh khủng.

Nhiệt độ cứ tăng đều đều trong bốn giờ qua từ lúc chúng tôi đi khỏi trạm kiểm soát. Giờ là mười giờ và các đồng hồ trên xe chỉ mức nhiệt độ không thể tin được, 120 độ Fahrenheit và độ cao cách mực nước biển năm trăm foot. Những con số này không thể đúng được, tôi dụi mắt nhìn lại.

"Có cái không ổn", tôi nói Lily. "Những đồng bằng khi nãy có thể gần mực nước biển nhưng chúng ta đã đi khỏi Ain Salah bốn giờ rồi. Lẽ ra vào giờ này sa mạc đã rất cao, chúng ta đã đi lên hơn vài ngàn foot chứ, và sáng sớm thế này khí hậu không nóng đến vậy đâu".

"Chưa hết", Lily đồng tình với giọng khản đặc vì cái nóng ngột ngạt. "Lẽ ra phải có một ngã rẽ ít nhất nửa giờ trước, theo chỉ dẫn của Minnie, nhưng tớ không thấy... Và giờ tớ để ý hướng mặt trời".

"Tại sao cái gã kia nói chúng ta cần giấy phép cho xe ?" tôi hỏi, giọng cất cao hơi hoảng loạn. "Chẳng phải hắn nói vì El- Tanzerouft - Sa mạc Thiếu nước sao ? Chúa ơi..." Dù bảng chỉ đường toàn bằng tiếng Ả Rập và tôi không quen thuộc mấy với bản đồ Sahara nhưng có gì đó khủng khiếp đang bắt đầu dấy lên trong tôi. 

"Gì vậy ?" Lily kêu lên, nhìn tôi lo lắng,

"Chỗ hồi nãy mình qua không phải Ain Salah", tôi bất chợt phán ra. "Tớ nghĩ hôm qua chúng ta đã quẹo sai đường ở đâu đó. Chúng ta đang tiến đến phía nam sa mạc ngập mặn ! Chúng ta đi tới Mali !"

Lily ngừng xe giữa xa lộ. Khuôn mặt vốn đã bị phồng rộp kinh khủng vì nắng của cô ấy giờ nhăn nhó tuyệt vọng. Lily gục đầu xuống tay lái và tôi đặt tay lên vai cô ấy. Cả hai đều biết tôi đã đúng. Chúa ơi, chúng tôi làm gì bây giờ ?

Khi chúng tôi đùa rằng không có gì bên ngoài hàng rào, chúng tôi đã cười quá sớm. Tôi đã nghe những câu chuyện về Sa mạc Thiếu nước, trên thế giới không nơi nào kinh khủng hơn chỗ này. Kể cả miền hoang vắng khét tiếng của Ả Rập, lạc đà cũng còn có thể băng qua, nhưng chỗ này là tận cùng thế giới, một sa mạc không sự sống nào có thể tồn tại. Nó khiến những vùng cao nguyên chúng tôi tình cờ đi qua như thiên đường thất lạc. Ở đây, người ta nói khi xuống thấp hơn mực nước biển, nhiệt độ sẽ tăng cao đến nỗi bạn có thể chiên trứng trên cát và nước bốc hơi tức thì.

"Tớ nghĩ chúng ta nên quay lại", tôi nói Lily, người vẫn ngồi cúi đầu. "Đổi chỗ tớ lái cho. Chúng ta sẽ bật máy điều hòa không khí, trông cậu không khỏe rồi".

"Việc đó chỉ làm nóng động cơ thêm thôi", cô ngẩng đầu lên nói một cách mệt nhọc. "Tớ không biết quái quỷ thế nào mà tớ lại đi nhầm đường. Cậu có thể lái nhưng cậu biết nếu chúng ta quay lại là hết hy vọng mà".

Cô ấy nói đúng nhưng chúng tôi còn có thể làm gì khác đây ? Tôi nhìn Lily và thấy môi cô ấy nứt nẻ do nóng quá. Tôi ra khỏi xe và mở cốp, lấy hai cái mền trùm, một quấn quanh đầu và vai mình, cái kia phủ lên người Lily. Tôi lôi Carioca ra khỏi gầm ghế; cái lưỡi nhỏ của con vật thè ra gần như khô ran. Tôi ngửa miệng nó ra, rót vào cổ họng nó chút nước, sau đó tôi đi xem xét thùng xe.

Tôi đổ thêm xăng và nước vào. Tôi không muốn làm Lily lo lắng thêm nhưng nhầm lẫn tối qua của cô ấy đã khiến mọi thứ rối tung nghiêm trọng. Theo cái cách xe tiêu hao bình nước đầu tiên thì chúng tôi không thể cầm cự trong xe, cho dù có quay lại. Nếu vậy thì đi tiếp cũng không hại gì.

"Có một chiếc xe tải theo sau chúng ta, phải không ?" tôi nói, ngồi vào sau tay lái và nổ máy. "Nếu chúng ta đi tiếp, cho dù dừng lại dọc đường thì cuối cùng anh ta cũng xuất hiện. Không còn đường nào khác ngoại trừ con đường bụi bẩn hai trăm dặm vừa rồi".

"Nếu là cậu, tớ cũng liều vậy", cô nói một cách yếu ớt rồi nhìn tôi cười toe toét khiến đôi môi khô bị nứt thêm một chút. "Giá như ba tớ thấy chúng ta bây giờ".

"Vậy là cuối cùng chúng ta cũng là bạn của nhau, đúng như chú Harry luôn mong muốn". Tôi lại mỉm cười, làm ra vẻ hiên ngang.

"Ừ", Lily đồng tình. "Nhưng cách kết liễu này mới điên rồ làm sao".

"Chúng ta chưa chết mà", tôi nói. Thế nhưng khi nhìn mặt trời chói lòa vẫn tiếp tục nhô cao hơn trên nền trời trắng xoá nóng như thiêu đốt, tôi tự hỏi chuyện đó còn bao lâu nữa sẽ xảy ra...

Trông như cát trải dài hàng triệu dặm, tôi nghĩ thầm khi tiếp tục cho chiếc Comiche chạy từ từ với vận tốc dưới bốn mươi, cố để nước khỏi bốc hơi. Nó như một bãi biển đỏ rực khổng lồ, sao không phải màu vàng hay trắng, hoặc xám xịt u ám như các sa mạc khác ? Các hòn đá bị nghiền nhỏ lấp lánh như pha lê dưới ánh mặt trời nóng bức chói chang, rực rỡ hơn cả những hạt cát, sẫm hơn cả màu nâu vàng. Khi tôi nghe tiếng động cơ từ từ hút nước và nhìn bộ điều chỉnh nhiệt tăng lên, sa mạc lặng im chờ đợi tận cuối tầm mắt, chờ đợi đúng như đặc tính muôn đời mang màu đỏ thẫm của nó.

Tôi phải ngừng xe để làm nguội động cơ nhưng bộ điều chỉnh cho biết nhiệt độ bên ngoài giờ đã lên đến hơn con số 130 (khoảng hơn 54 độ C) tôi khó hình dung được mức nhiệt độ đó lại có bên ngoài một cái lò hấp. Khi ngừng xe để nhấc mui lên, tôi trông thấy lớp sơn phía trước chiếc Comiche nứt nẻ, bong ra. Giày tôi ướt nhèm nhẹp, nhưng khi tôi cúi xuống tuột nó ra thì không phải thấy mồ hôi. Lớp da chân sưng phồng của tôi đã toét ra vì sức nóng, đôi giày đầy máu. Tôi cảm thấy cơn buồn nôn trào lên cổ họng, mang giày trở lại, tôi trở vào xe không nói lời nào và chạy tiếp.

Vài dặm trước tôi đã cởi áo sơmi ra quấn quanh tay lái vì lớp da trên đó đã nứt nẻ và giờ nó đang bong tróc đi. Máu trên não tôi sôi sục, cảm giác cái nóng nghẹt thở đang thiêu đốt trong phổi. Giá như có thể cầm cự đến hoàng hôn thì chúng tôi có thể sống sót thêm một ngày. Có lẽ ai đó sẽ đến và cứu nguy cho chúng tôi, có lẽ chiếc xe tải phía sau sẽ đến. Nhưng ngay cả chiếc xe khổng lồ mà chúng tôi qua mặt sáng nay bắt đầu có vẻ thành chuyện hoang đường do trí tưởng tượng của tôi mà ra, ảo vọng của ký ức.

Hai giờ chiều, khi kim nhiệt độ gần đến 140 (khoảng 60 độ C), thì tôi lần đầu để ý tới một thứ. Thoạt tiên tôi nghĩ não tôi bốc cháy và tôi đang bị ảo giác, rằng tôi thật sự trông thấy ảo ảnh. Tôi nghĩ mình thấy cát bắt đầu di chuyển.

Không có đến một ngọn gió lay động không gian, vậy làm sao cát đang chuyển động được ? Nhưng thật sự là vậy. Tôi chạy xe chậm hơn một chút rồi dừng hẳn. Lily đang ngủ mê trên ghế sau, cô ấy và Carioca phủ mền trùm lên người.

Tôi hít mạnh và lắng nghe. Đó là không khí yên ắng ngột ngạt người ta cảm thấy trước một trận bão, nó bung bít mọi thứ tạo nên sự tĩnh lặng. Cái âm thanh hoàn toàn không nghe được một tiếng động khiến người ta sợ hãi chỉ xuất hiện khi một cơn bão kinh khủng nhất sắp ập đến: bão táp... cuồng phong... chắc có cái gì đó đang đến, nhưng là gì nhỉ ?

Tôi nhảy ra, lôi tấm mền của mình trải lên mui xe nóng bỏng để leo lên cao nhất nhìn cho rõ. Leo đến nơi, từ đó tôi đưa mắt lướt qua đường chân trời. Trên trời không có gì, nhưng xa tít tận cuối tầm mắt bên kia sa mạc, cát đang di chuyển, bò lê chầm chậm như có sự sống. Tôi rùng mình bất chấp cái nóng đang thiêu cháy mình.

Tôi nhảy xuống đánh thức Lily, kéo cái mền trùm ra khỏi người cô ấy. Cô uể oải ngồi dậy, khuôn mặt đã phồng rộp lên kinh khủng vì cái nắng cô đã hứng chịu trước đó.

"Chúng ta hết xăng rồi hả ?" cô hoảng sợ hỏi, giọng khàn vỡ, môi và lưỡi sưng vù.

"Xe vẫn ổn", tôi nói. "Nhưng có gì đó đang đến, tớ không biết”.

Carioca chui ra khỏi lớp mền và bắt đầu rên rỉ trong khi săm soi ngờ vực đám cát di chuyển quanh chúng tôi. Lily liếc xuống nhìn con vật rồi quay lại nhìn tôi với đôi mắt khiếp đảm.

"Một cơn bão ư ?" cô nói.

Tôi gật đầu. "Tớ nghĩ vậy, tớ không cho là chúng ta có thể hy vọng có mưa ở đây, nên đó là một trận bão cát. Nó có thể sẽ rất nguy hiểm".

Tôi không muốn nhắc đi nhắc lại rằng "nhờ" cô ấy mà chúng tôi không có chốn dung thân. Chuyện đó không lợi gì cho chúng tôi. Ở một nơi mà đường sá có thể bị chôn vùi trong lớp cát cao đến ba mươi foot như vậy thì chúng tôi cũng có thể bị như thế. Hai đứa tôi sẽ không có cơ may, kể cả nếu chiếc xe đáng ghét này có mui, thậm chí chui xuống gầm xe cũng không ích gì.

"Tớ nghĩ chúng ta nên thử vượt qua nó", tôi kiên quyết như thể biết mình đang nói gì.

"Nó đang đến từ hướng nào ?" Lily hỏi

Tôi nhún vai, "Không thấy được, không ngửi được, cũng không cảm nhận được", tôi nói. "Đừng hỏi làm thế nào, nhưng tớ biết bão sắp tới". Carioca cũng thế, nó sợ hãi đến độ muốn phát điên. Tôi và con chó không thể đều nhầm lẫn được.

Tôi nổ máy xe và nhấn ga hết mức có thể. Khi chiếc xe xé toạc cái nóng khôn cùng, tôi cảm nhận nỗi sợ hãi thật sự kẹp chặt lấy mình. Như Ichabod Crane lẩn trốn bóng ma kỵ sĩ không đầu kinh khiếp của Thung lũng Im lìm, tôi đua trước đầu một cơn bão không nghe mà cũng không thấy được (Nhân vật trong tác phẩm 'The Legend of Sleepy Hollow' nổi tiếng (tạm dịch: Huyền thoại về Thung lũng Im lìm) của nhà văn Mỹ Washington Irving (1783 -1859).. Không khí càng lúc càng ngột ngạt hơn, bao trùm như tấm chăn nóng bỏng rực lửa táp vào mặt. Lily và Carioca ngồi ở ghế trước cạnh tôi, nhìn chằm chằm ra phía trước qua lớp kính chắn gió bám cát lỗ chỗ trong lúc chiếc xe lao vào ánh sáng đỏ gay gắt. Và sau đó tôi nghe âm thanh.

Ban đầu tôi nghĩ do mình tưởng tượng, một kiểu ù tai do cát cứ không ngừng đập vào vỏ xe kim loại. Lớp sơn trên mui và lưới sắt bị mất, cát đã ăn mòn khiến chúng chỉ còn trơ lớp sắt phía trong. Thế nhưng âm thanh càng lúc càng lớn hơn gấp bội, tiếng vo ve xa xăm như tiếng cưa hoặc con ruồi bay. Tôi vẫn chạy tiếp nhưng sợ hãi, Lily cũng nghe tiếng đó và quay sang nhìn tôi, nhưng tôi không ngừng xe để khám phá ra nó là gì, tôi e rằng mình đã biết.

Khi âm thanh dâng cao dữ dội, nó dường như nhấn chìm mọi vật xung quanh chúng tôi. Cát bên vệ đường giờ bay thốc lên thành những luồng nhỏ, những cơn gió mạnh hất tung nó ra mặt đường, nhưng âm thanh vẫn cứ to lên không ngừng đến khi gần như điếc tai. Rồi bất chợt tôi buông chân ga còn Lily bấu chặt thanh chắn trước xe bằng những ngón tay sơn đỏ. Âm thanh tràn qua đầu chúng tôi mãnh liệt và tôi suýt té ra đường trước khi đạp được phanh.

"Một cái máy bay !" Lily đang hét toáng và tôi cũng thét lên. Chúng tôi bấu chặt lấy nhau, nước mắt làm cay sống mũi. Một chiếc máy bay xuất hiện ngay phía trên và đang đáp xuống trước mắt chúng tôi, cách chưa đến một trăm thước trên bãi đỗ tại sa mạc !

***

"Các cô", viên chức của Đường băng Debnane lên tiếng, "các cô thật may khi gặp được tôi ở đây. Mỗi ngày chúng tôi chỉ có duy nhất một chuyến từ sân bay Algeria đến đây. Trái lại khi không có kế hoạch cho chuyến bay riêng nào thì chỗ này sẽ đóng cửa. Trạm xăng kế tiếp cách hơn cả trăm cây số và các cô sẽ không cầm cự nổi đâu".

Anh ta đang đổ đầy xăng và nước từ máy bơm gần đường băng. Chiếc máy bay chuyên chở to lớn bay sát bên trên cái xe hơi nằm ì dưới mặt đường, hơi nóng bốc lên từ động cơ cánh quạt nóng hổi hòa vào không khí. Lily đứng ẵm Carioca, nhìn vị cứu tinh trẻ tuổi lực lưỡng như thể anh ta là tổng thiên sứ Gabriel. Thật ra nhìn quanh quất chỉ thấy mỗi anh ta. Phi công máy bay đã vào trong nhà tôn tháo lắp để chợp mắt giây lát trong cái nóng kinh hoàng. Bụi bay qua sân băng, gió đang nổi lên. Cổ họng tôi đang đau nhói vì khô rát và nhẹ nhõm vì được cứu rỗi, tôi quyết định tin vào Chúa.

"Đường băng này đặt ở đây, giữa chốn hẻo lánh này để làm gì ?" Lily hỏi tôi và tôi truyền đạt lại cho vị viên chức.

"Để phân phát thư từ", anh ta nói, "hàng tiếp tế cho vài đội khai thác khí tự nhiên làm việc ở những nhà lưu động phía tây của nơi này. Họ chỉ dừng chân trên đường đến Hoggar rồi lại trở về Algiers". Lily đã hiểu ra.

"Hoggar", tôi nói với cô ấy, "là những dãy núi lửa ở phía nam. Tớ nghĩ chúng gần Tassili".

"Hỏi anh ta khi nào họ sẽ lấy cái thùng đó lên khỏi mặt đất", Lily nói, hất đầu về phía căn nhà tạm bợ trong lúc phía sau cô, Carioca lon ton đi trên đầu ngón chân, rón rén nhấc lòng bàn chân lên khỏi mặt đường nóng bỏng.

"Sớm thôi", anh chàng đáp lại câu hỏi của tôi bằng tiếng Pháp. Anh ta chỉ về hướng sa mạc, "Chúng ta phải nâng nó lên trước khi cơn cuồng nộ của cát sa mạc tấn công đến, không lâu nữa đâu". Vậy là tôi đã đúng, có một cơn bão đang ập tới.

"Cậu đi đâu vậy ?" tôi gọi với theo Lily.

"Tìm xem mất bao nhiêu tiền để nâng chiếc xe hơi", cô ta nói vọng lại. 

Bốn giờ chiều, chiếc xe của chúng tôi được hạ từ máy bay xuống mặt đường Tamanrasset. Những cây chà là phất phơ trong gió ấm và xung quanh các dãy núi xanh đen xoắn lại nhô lên chọc trời.

''Đồng tiền có thể mua được những thứ thật đáng ngạc nhiên", tôi nói với Lily trong khi cô ấy trả khoản tiền bồi dưỡng cho người phi công hớn hở và hai đứa tôi trèo trở vào chiếc Corniche.

“Cậu quên điều đó à", cô ta đốp chát lại, kéo cửa xe ra khỏi vành khung thép. "Và thậm chí anh ta còn đưa tớ một tấm bản đồ nhăng nhít ! Tớ phải nhả ra thêm một ngàn đôla để trở lại sa mạc này. Giờ ít ra nếu lạc lần nữa chúng ta sẽ biết mình đang ở đâu".

Tôi không biết thứ nào trông tệ hơn, Lily hay chiếc Comiche. Làn da tái nhợt của cô ấy bong tróc thành từng mảng do ánh nắng, còn lớp sơn xanh trên toàn bộ nửa thân trước của chiếc xe đã bị cát và mặt trời mài mòn mất sạch, chỉ trơ phần kim loại xám xịt. Thế nhưng động cơ vẫn nổ đều đều nghe như tiếng một con mèo, và điều đó khiến tôi ngạc nhiên hết sức.

"Đây là nơi chúng ta sẽ đi", Lily trải tấm bản đồ lên thành xe trước mặt và chỉ vào một nơi trên đó. "Cộng cây số và đổi ra cho tớ, rồi chúng ta sẽ tìm ra tuyến đường nhanh nhất".

Chỉ có một lộ trình, 450 dặm, và con đường toàn là núi non. Tại khúc giao nhau ở Djanet, chúng tôi ngừng ở quán lề đường ăn bữa đầu tiên sau gần hai mươi bốn giờ đồng hồ. Tôi đói rã ruột và ngồi ngấu nghiến hai đĩa súp gà trộn rau củ, chấm bánh mì vào nước súp. Bình rượu và một suất cá hồi đỏ kèm khoai tây lớn giúp làm dịu đi cái bao tử kêu réo. Tôi còn mua một chai cà phê ngọt đem theo trên đường.

“Cậu biết không, chúng ta nên đọc quyển nhật ký này sớm hơn", tôi nói với Lily khi chiếc xe lại tiếp tục lăn bánh trên con đường hai chiều quanh co hướng về phía đông đến Djanet. "Nữ tu Mireille dường như đã dừng chân khắp vùng này nên biết mọi thứ về nó". Cậu có biết người Hy Lạp đặt tên cho những rặng núi này là 'Atlas' từ rất lâu trước khi cái tên đó gán cho những người trên phương bắc không ? Và theo sử gia Herodotus, những người sống ở đây được gọi là 'người Atlas'. Chúng ta đang đi qua lục địa Atlantis thất lạc !" (Lục địa Atlantis còn được gọi là đảo Atlas).

"Tớ nghĩ nó chìm dưới đại dương", Lily nói. "Bà ấy đâu đề cập tới những quân cờ được cất giấu ở đâu, phải không ?"

"Ừ, tớ nghĩ bà ấy biết điều gì xảy ra cho chúng nhưng bà ấy đã bỏ đi tìm kiếm bí mật đằng sau chúng, tìm kiếm công thức".

"Thôi, đọc tiếp đi, bạn thân mến. Đọc đi, nhưng lần này nói tớ biết chúng ta rẽ ở đâu".

Xe chạy suốt chiều đến tối, tới nửa đêm, chúng tôi đến Djanet và cây đèn pin hết năng lượng do tôi đã dùng đọc sách. Thế nhưng giờ chúng tôi biết đích xác nơi phải đến, và lý do tại sao.

"Chúa ơi", Lily kêu lên khi tôi đặt quyển sách ra xa. Cô ấy dừng xe lên lề đường và tắt máy. Hai đứa tôi ngồi ngước mắt nhìn bầu trời lấp lánh ánh sao, mặt trăng sáng vằng vặc như sữa tràn xuống cao nguyên trên cao của Tassili phía bên tay trái. "Tớ không thể tin được chuyện này ! Bà ấy đã băng qua sa mạc trên lưng lạc đà trong trận bão cát, cuốc bộ leo lên những cao nguyên này và sinh một đứa trẻ giữa đồi núi dưới chân Nữ Hoàng Trắng ư ? Người phụ nữ này là kiểu người gì vậy ?"

"Chúng ta còn không chạm chân xuống đất", tôi nói và bật cười. "Có lẽ hai ta nên chợp mắt vài giờ đến khi trời sáng".

"Nhìn này, trăng tròn đó. Tớ có thêm vài cục pin trong cốp xe cho cây đèn. Lái đi tiếp đến khi chúng ta tới đèo rồi đụng phải đường mòn. Cà phê làm mắt tớ cứ mở to, chúng ta có thể mang mền ra dùng đúng lúc. Đi ngủ đi, khi xung quanh không có ai hết".

Từ Djanet đi khoảng chục dặm, chúng tôi đến đoạn đường giao nhau, con đường dài đầy khói bụi đưa tới nhiều hẻm núi. Nó được đánh dấu là 'Tamrit' với một mũi tên và bên dưới hình năm con lạc đà cho thấy 'Piste Chameliere', tức Đường mòn Lạc đà. Dù thế nào chúng tôi cũng tiến lên trước.

"Chỗ này dài bao nhiêu ?" tôi hỏi Lily. "Cậu là người duy nhất ghi nhớ đường đi".

"Có một khu lều. Tớ nghĩ đó là Tamrit, làng của những căn lều. Từ chỗ này đi bộ đến các bức vẽ thời tiền sử, bà ấy nói khoảng hai mươi cây số, vậy là cỡ mười ba dặm".

"Một cuộc đi bộ bốn tiếng đồng hồ", tôi nói. "Nhưng không phải bằng những đôi giày này". Tôi rầu rĩ nghĩ thầm, cả hai hoàn toàn không chuẩn bị gì cho chuyến hành trình băng sa mạc đầy gian nan này. Nhưng giờ quá muộn để kiếm ra cửa hàng Saks (hệ tho61g cửa hàng bách hóa nổi tiếng, chuyên bán hàng xa xỉ ở NewYork) gần nhất trong danh bạ điện thoại địa phương.

Chúng tôi tạm thời dừng trên con đường mòn bụi bặm quẹo sang Tamrit và đậu chiếc Comiche cạnh đường phía sau một lùm cây. Lily lắp pin và lấy mền ra. Tôi nhét Carioca trở vào giỏ và cả hai tiến bước theo lối mòn. Dọc đường, cứ cách khoảng năm mươi thước lại có một biển chỉ dẫn ghi chữ Ả Rập ngoằn ngoèo và bên dưới dịch ra tiếng Pháp.

"Chỗ này có chỉ dẫn rõ ràng hơn ngoài xa lộ", Lily thì thầm. Dù hàng dặm đường chúng tôi chỉ nghe âm thanh duy nhất là tiếng dế kêu và sỏi đá lạo xạo khô khốc dưới chân nhưng cả hai vẫn rón rén và nói khẽ bí mật như thể sắp đột nhập ngân hàng. Tất nhiên chuyện đó cũng khá giống việc hai đứa đang làm.

Bầu trời rất trong, ánh trăng rất sáng, thậm chí chúng tôi không cần đèn pin để đọc biển chỉ dẫn. Con đường bằng phẳng dần dần trở nên dốc xuống khi tiến về phía đông nam. Chúng tôi đang đi qua hẻm núi hẹp cạnh dòng suối róc rách thì tôi để ý một đống biển chỉ dẫn, tất cả đều chỉ các hướng khác nhau: Sefar, Aouanrhet, In Itinen...

"Tiếp theo là gì ?" tôi hỏi, thả Carioca ra cho nó chạy vòng quanh. Con vật lập tức hối hả phóng tới cái cây gần nhất và tưới nước cho nó. 

"Đúng rồi" Lily reo lên, nhảy tưng tưng. "Nó đây rồi !" Cô chỉ vào những thân cây Carioca vẫn đang ngửi ngửi. Chúng mọc lên từ lòng sông, một lùm những cây bách khổng lồ cao ít nhất mười sáu foot, cao đến nỗi che cả bầu trời đêm. "Trước tiên là những thân cây khổng lồ", Lily nói, "sau đó hẳn phải có vài hồ nước trong vắt gần đây".

Không còn nghi ngờ gì nữa, đi tới trước chưa đầy một ngàn năm trăm foot, chúng tôi trông thấy những hồ nhỏ, mặt nước trong veo in bóng ánh trăng rực rỡ. Carioca lao vụt đến một cái hồ để uống nước, lưỡi nó liếm láp làm bề mặt nước tan thành hàng triệu gợn sáng lăn tăn.

"Những thứ này chỉ rõ hướng", Lily nói. "Chúng ta tiếp tục đi xuống hẻm núi này, qua chỗ gọi là Rừng Đá..." Khi hai đứa đang hào hứng đi xuống lòng sông cạn thì tôi thấy một tấm biển khác, chỉ hướng đi lên phía một hẻm núi hẹp, có ghi dòng chữ: 'Rừng Đá”.

"Lối này", tôi nói, chộp lấy cánh tay Lily và bắt đầu lên đồi. Trên con đường dốc của hẻm núi có nhiều lớp đá vụn tơi ra vỡ nát dưới chân khi chúng tôi tiến lên. Đi vài thước tôi lại nghe Lily kêu khẽ “Ui da !" mỗi lần đá đâm qua đôi giày mỏng manh cô mang. Và cứ mỗi khi một mẩu đá vỡ ra, Carioca lại lăn lông lốc đến khi tôi túm nó đặt trở lại.

Chúng tôi mất hơn nửa giờ đồng hồ mới vượt qua được con đường dài và dốc đó. Tít trên cùng của hẻm núi mở rộng thành một cao nguyên lớn bằng phẳng, một thung lũng trên đỉnh núi. Bao quát khắp tầm nhìn rộng lớn, dưới ánh trăng, chúng tôi trông thấy những chỏm núi nhọn xoắn ốc nhô lên khỏi cao nguyên như các khung xương khủng long dài và uốn cong, dàn trải khắp thung lũng.

"Rừng Đá !" Lily thì thầm. "Đúng là nơi tớ nghĩ". Cô ấy đang thở một cách khó nhọc và tôi cũng hổn hển không ra hơi sau khi leo lên con dốc đầy đá sỏi vỡ nát, và đường đi giờ có vẻ quá dễ dàng. Nhưng có lẽ tôi đã kết luận quá sớm. 

Hai đứa băng qua Rừng Đá, những mỏm đá xoắn tuyệt đẹp tạo ra màu sắc gây ảo giác trong ánh trăng. Tít phía cuối cao nguyên có thêm một đống biển chỉ dẫn chỉ đủ hướng khác nhau.

"Bây giờ tính sao ?” tôi hỏi Lily.

"Chúng ta phải tìm một chỉ dẫn”, cô ấy nói với vẻ bí ẩn.

"Thì đây này, ít nhất cũng gần cả chục chỉ dẫn", tôi chỉ vào những mũi tên nhỏ có ghi tên bên dưới.

"Không phải kiểu chỉ dẫn này”, cô ấy nói. ”Một chỉ dẫn sẽ cho chúng ta biết các quân cờ ở đâu”.

"Nó trông như thế nào ?”

'Tớ không chắc”, cô ấy lên tiếng, nhìn xung quanh trong ánh sáng trăng. ”Nó ngay sau Rừng Đá..."

"Cậu không chắc ư ?” tôi nói, kềm chế ước muốn bóp cổ cô ấy. Bạn có thể gọi đó là một ngày gian khổ. ”Cậu nói cậu có tất cả nằm trong đầu như ván cờ khỏi cần nhìn, một khung cảnh mường tượng ra, như cậu mô tả. Tớ tưởng cậu có thể hình dung mọi ngóc ngách của cái địa hình này chứ ?"

'Tớ làm được”, Lily giận dữ nói. ”Tớ đã đưa chúng ta đến tận đây, đúng không nào ? Tại sao cậu không im đi và giúp tớ giải quyết vấn đề này ?”

"Vậy cậu thừa nhận mình lạc đường đi”, tôi nói.

"Tớ không lạc !" Lily hét toáng, giọng cô ấy vang vọng dội trở lại từ khu rừng lấp lánh các tảng đá nguyên khối bao quanh chúng tôi. "Tớ đang tìm một thứ, một thứ đặc biệt. Một chỉ dẫn, bà ấy nói có một chỉ dẫn mang ý nghĩa nào đấy, ngay bên cạnh chỗ này”.

"Có ý nghĩa với ai ?" tôi chậm rãi lên tiếng. Lily nhìn tôi nín thinh dưới ánh trăng. Tôi có thể trông thấy làn da bong tróc trên cái mũi nghiêng nghiêng của cô ấy. "Ý tớ là một chỉ dẫn như cầu vồng à ? Hay như tia sét ? Hay như chữ viết tay trên tường, Mene, mene, tekel..."

Lily và tôi trố mắt nhìn nhau, cả hai cùng nghĩ ra một lúc. Cô ấy bật đèn pin, quay đèn về hướng vách đá nằm tận cuối cao nguyên dài trước mặt chúng tôi, và nó ở đó.

Một bức vẽ khổng lồ choán hết toàn bộ bức tường. Nó khắc họa hình ảnh linh dương hoang dã chạy trốn khắp các đồng bằng, màu sắc bức vẽ rực rỡ ngay cả dưới ánh sáng đèn. Ở giữa chúng, một cỗ xe ngựa đơn độc phóng như bay, chở một nữ thợ săn mặc trang phục toàn là màu trắng.

Chúng tôi đứng nhìn thật lâu, lia ánh đèn pin qua toàn cảnh bức vẽ tráng lệ để thấy rõ từng hình dạng trang trí sắc sảo. Bức tường cao và rộng, uốn cong vào bên trong như mảnh vỡ của mái vòm. Giữa bầy thú chạy tán loạn điên cuồng băng qua những đồng bằng cổ đại là cỗ xe ngựa của cõi trời, thân xe có hình dáng như trăng lưỡi liềm, hai bánh xe có tám nan, ba con ngựa kéo xe đang chồm lên, phần hông của chúng có đốm đỏ, trắng và đen. Một người đàn ông da đen đầu như cò quăm quỳ phía trước, cầm chặt dây cương trong khi những con ngựa nhảy vọt về phía trước lên lãnh nguyên. Phía sau, hai dải dây cương uốn lượn bay phấp phới trong gió, xoắn vào nhau tạo thành số tám. Chính giữa, cao ngất so với hình dáng người đàn ông và bầy ngựa là một vị nữ thần trắng vĩ đại khủng khiếp. Bà đứng im lìm trong khi tất cả mọi thứ quanh bà chuyển động điên cuồng. Lưng bà quay lại phía chúng tôi, mái tóc bay trong gió, thân hình bất động như tượng. Cánh tay bà giơ cao như thể đang tấn công. Cây giáo thật dài bà cầm trên cao không nhắm vào bầy linh dương đang chạy trốn tán loạn khắp nơi mà chĩa lên bầu trời đầy sao. Thân người vị nữ thần này mang hình thù số tám xù xì, hai đầu là hình tam giác dường như đục đẽo từ đá.

"Nó đó", Lily nín thở, nhìn chằm chằm lên bức vẽ.

"Cậu biết hình thù đó có ý nghĩa gì, đúng không ? Tam giác đôi đó mang hình dạng như đồng hồ cát phải không ?" Cô chạm vào phần tường có ánh đèn pin chiếu vào làm nổi bật hình thù.

"Suốt từ lúc trông thấy mảnh vải ở chỗ Minnie, tớ cứ nghĩ mãi vật đó gợi tớ nhớ đến điều gì", cô nói tiếp. "Và giờ tớ biết rồi. Đó là cái rìu cổ đại có hai lưỡi hái được gọi là labrys, nó mang hình dạng như số tám, và được người Minoans cổ đại sử dụng ở Crete". 

"Nó có liên quan gì tới lý do chúng ta ở đây ?"

"Tớ thấy nó trong một quyển sách cờ vua mà Mordecai cho tớ xem. Người ta tìm thấy bộ cờ cổ đại nhất từng được khám phá từ trước tới giờ tại cung điện của vua Minos ở Crete, nơi xây dựng mê cung nổi tiếng, đặt theo tên cây rìu linh thiêng này Labyrinth nghĩa là mê cung, lấy từ chữ labrys (rìu 2 lưỡi hái). Bộ cờ có từ năm 2000 trước Công nguyên. Nó được làm bằng vàng, bạc và đá quý, y như Bộ cờ Montglane. Và ngay giữa có chạm một labrys".

"Hệt như mảnh vải của Minnie", tôi xen vào. Lily gật đầu và bối rối lia đèn pin xung quanh. "Nhưng tớ tưởng đến năm sáu hay bảy trăm sau Công nguyên, cờ vua mới xuất hiện", tôi nói thêm. "Người ta luôn nói nó xuất xứ từ Ba Tư hay Ấn Độ. Làm sao bộ cờ của người Minoan này lại lâu đời đến vậy ?"

"Bản thân Mordecai viết rất nhiều sách về lịch sử cờ vua", Lily nói, quay ánh đèn về hình người phụ nữ mặc toàn trang phục trắng, đứng trong cỗ xe hình mặt trăng, cây giáo giơ lên trời. "Ông nghĩ bộ cờ vua ở Crete cũng được thiết kế bởi chính tay người đã xây mê cung, nhà điêu khắc Daedalus.. "

Giờ mọi thứ đang bắt đầu trở nên rõ ràng. Tôi lấy cây đèn pin từ tay cô ấy và chiếu khắp bề mặt vách đá. "Nữ thần mặt trăng", tôi thì thầm. "Nghi thức của mê cung...”. Có một vùng đất mang tên Crete ở giữa biển màu đen như rượu, một vùng đất khá giàu có bao quanh là biển cả.." Tôi nhớ lại, đó là một hòn đảo, như các đảo khác của Địa Trung Hải, cũng có người Phoenicia đến định cư. Người Phoenicia mở mang mê cung có biển cả bao quanh, và họ thờ phụng thần mặt trăng. Tôi nhìn những hình thù trên bức tường.

"Tại sao cây rìu này được khắc lên bàn cờ ?", tôi hỏi Lily, dù biết sẵn câu trả lời trước khi cô ấy lên tiếng. "Mordecai nói mối liên hệ là gì ?" Nhưng dù đã chuẩn bị trước, những lời cô ấy nói vẫn khiến tôi cảm thấy cơn ớn lạnh như thường lệ, giống cảm giác khi nhìn hình vẽ trắng toát ở bức tường cao vút phía trên tôi. 

Lưỡi rìu linh thiêng dùng để giết chết Vua, nghi thức đó vẫn không đổi từ thời khai thiên lập địa. Ván cờ chỉ đơn thuần là việc tái ban hành luật lệ. Tại sao tôi không nhận ra điều đó từ trước ?

Kamel đã kêu tôi đọc Kinh Koran. Và ngay khi tôi đặt chân đến Algiers, Sharrif đã đề cập đến tầm quan trọng của ngày tôi chào đời theo lịch của đạo Hồi. Lịch đạo Hồi, cũng như hầu hết các lịch cổ đại, đều tính theo âm lịch, dựa vào chu kỳ của mặt trăng. Thế mà tôi đã không gắn kết mọi việc lại với nhau.

Có một nghi thức giống hệt nhau trong tất cả các nền văn minh còn tồn tại được phụ thuộc vào biển cả và dựa vào nữ thần mặt trăng, vì bà ấy điều khiển các con sóng, làm cho các dòng sông vơi hay đầy. Vị nữ thần đó đòi hỏi phải có hy sinh và đổ máu. Đối với bà ấy, người ta chọn một người lên làm vua, nhưng kỳ hạn của triều đại đó, được sắp đặt bởi nghi thức khắt khe. Người đó cai trị trong "Năm Lý tưởng", tức tám năm, thời gian cần thiết để âm lịch và dương lịch cùng nhau vận hành xong chu kỳ, một trăm tháng âm lịch bằng tám năm dương lịch. Kết thúc khoảng thời gian trị vì đó, nhà vua sẽ được mang đi hiến tế đế chiều lòng nữ thần và một vị vua mới sẽ được chọn lựa trong mùa trăng mới.

Nghi thức chết đi và hồi sinh luôn cử hành vào mùa xuân, thời điểm mặt trời nằm đúng ngay giữa chòm sao Bạch dương và Kim ngưu trong cung hoàng đạo, mà theo tính toán hiện nay, nó rơi vào ngày bốn tháng tư. Đó là ngày giết chết nhà vua !

Đây là nghi thức của nữ thần Car, vị thần mà dân chúng từ Carchemish đến Carcassone, từ Carthage đến Khartoum phải dâng nộp cống phẩm. Trong những mộ đá của Kamak, trong những hang động của Karlasbad và Karelia, vượt qua những dãy núi Carpathian, tên vị thần còn ngân vang đến tận ngày nay.

Những con chữ trong tên bà tràn ngập trí óc tôi trong lúc tôi cầm cây đèn quan sát hình dáng bà tạc vào khối đá của bức tường cao vút ở trên. Tại sao trước đây tôi chưa bao giờ nghe cái tên này ? Tên bà xuất hiện trong những từ ngữ: màu đỏ son, hồng y giáo chủ, và người bị bệnh tim, trong từ trần tục, ăn thịt, và Karma, tức chu kỳ vô tận của luân hồi, biến đổi, và quên lãng. Bà là khẩu hiệu tạo nên con người, tạo nên sự rung chuyển của số phận bao quanh cốt lõi của cuộc sống như kundalini, nửa vòng tròn, hay còn gọi là tác động xoắn ốc hình thành nên vũ trụ. Đây là ý nghĩa được tháo mở từ Bộ cờ Montglane.

Tôi quay sang Lily, đèn pin run run trong tay và chúng tôi ôm chầm lấy nhau để truyền hơi ấm khi mặt trăng lạnh lẽo phủ ánh sáng lên hai đứa như dòng nước băng giá.

"Tớ biết cây giáo đang chĩa lên cái gì", Lily cất giọng yếu ớt, ra hiệu về phía bức vẽ trên tường. "Bà ấy không nhắm vào mặt trăng, mặt trăng không phải chỉ dẫn. Nó là thứ ánh trăng trút lên, ở đỉnh vách đá". Trông cô cũng hoảng sợ như tôi, khi cả hai sắp phải leo lên kia vào lúc đêm khuya, vách đá cao dựng đứng chắc phải đến bốn trăm foot.

"Có lẽ vậy", tôi đáp. "Nhưng châm ngôn trong công việc của tớ là: 'Đừng làm việc một cách cật lực, mà hãy làm việc một cách khôn ngoan’. Chúng ta có được thông điệp, chúng ta biết các quân cờ ở đâu đó quanh đây. Nhưng còn có thứ khác ngoài thông điệp mà cậu đã đoán ra nó".

"Tớ đoán ra à ?", cô ấy nói, mở to đôi mắt xám nhìn tôi. "Nó là gì ?"

"Nhìn người phụ nữ trên tường", tôi nói. "Bà ấy cưỡi cỗ xe hình mặt trăng băng qua một biển linh dương. Bà ấy không để ý chúng, bà ấy quay lưng về phía chúng ta và chĩa ngọn giáo lên trời. Nhưng bà ấy không nhìn bầu trời..."

"Bà ấy nhìn thẳng vào núi !", Lily kêu lên. "Nó nằm trong vách đá kia !" Tình trạng kích động của cô dịu xuống đôi chút khi nhìn

lại lần nữa. "Nhưng chúng ta phải làm gì, thổi bay vách đá sao ? Tớ quên mang theo nitroglycerine rồi".

"Nghĩ kỹ đi", tôi nói. "Chúng ta đang đứng trong Rừng Đá. Cậu nghĩ sao khi những mỏm đá nhọn xoắn này trông rất giống các thân cây ? Cát không thể mài mòn đá kiểu này, dù nó có thổi mạnh đến đâu. Nó chỉ làm đá bằng phẳng, trơn nhẵn thôi. Thứ duy nhất có thể tạo cho đá hình thù rõ ràng thế này là nước. Toàn bộ cao nguyên này được hình thành từ các đại dương và dòng sông ngầm dưới mặt đất. Không thứ gì khác có thể khiến nơi này trông như thế. Nước tạo thành các lổ hổng trên đá... Cậu có hiểu ý tớ không ?"

"Một mê cung !", Lily reo lên. "Cậu đang nói có một mê cung trong vách đá kia ! Đó là lý do họ vẽ thân nữ thần mặt trăng như cái rìu hai lưỡi ! Đó là thông điệp, như biển chỉ đường. Nhưng ngọn giáo vẫn chỉ lên. Nước hẳn phải chảy ra và hình thành mê cung từ trên đỉnh".

"Có lẽ", tôi miễn cưỡng nói tiếp. "Nhưng nhìn bức tường này đi, hình thù nó thế nào. Nó uốn cong hướng vào trong, thuôn lên như một cái chén, đúng như kiểu nước biển ăn mòn vách đá. Đó là cách hình thành tất cả các hang động trên biển. Cậu thấy kiểu hang này dọc các bờ biển có nhiều đá từ Carmel đến Capri. Tớ nghĩ lối vào ở dưới đây, ít ra chúng ta nên kiểm tra trước khi tự sát bằng cách leo lên vách đá".

Lily cầm đèn pin và cả hai mò mẫm tìm đường đi dọc vách đá trong nửa giờ. Có vài khe hở nhưng không khe nào đủ rộng để hai đứa len qua. Tôi đang bắt đầu nghĩ ý tưởng của mình sai lầm thì trông thấy một chỗ bề mặt đá nhẵn hơi trũng xuống. May thay, tôi đặt tay vào chỗ trũng. Thay vì chạm vào khối đá thì mặt trước của tảng đá cứ ăn sâu vào trong. Tôi đi theo và khối đá cứ di chuyển theo đường cong như thể uốn mình để nối kết với tảng đá khác, nhưng không phải vậy. 

"Tớ nghĩ tớ tìm ra rồi", tôi gọi Lily khi đã chìm vào bóng tối của khe nứt. Cô cầm đèn pin tiến tới nơi phát ra giọng tôi. Khi cô ấy đến, tôi lấy đèn soi lên bề mặt đá. Khe nứt không ngừng ăn vào vách đá theo đường xoắn ốc, càng lúc càng sâu hơn.

Hai phần khối đá dường như cuộn quanh với nhau giống đường xoắn của con ốc anh vũ rỗng ruột, và chúng tôi tiếp tục đi theo. Bên trong tối đến nỗi tia sáng đèn pin khó lòng soi rọi xa hơn khoảng cách vài bước về phía trước.

Bất chợt vang lên một âm thanh inh tai và tôi suýt giật bắn người. Sau đó, tôi mới nhận ra đó là con Carioca nằm trong giỏ cất tiếng sủa. Giọng nó âm vang nghe như tiếng sư tử gầm.

'Trong hang này nghe lớn hơn", tôi nói với Lily, lần mò lôi Carioca ra. "Tiếng vang vọng theo một đường dài".

"Đừng để nó xuống đất, ở đây có thể có nhện, hoặc rắn rết".

"Nếu cậu nghĩ tớ để nó làm bậy trong giỏ thì cậu lầm rồi đấy", tôi lên tiếng. "Hơn nữa nó gặp rắn đỡ hơn là tớ". Lily nhìn trừng trừng tôi trong ánh sáng nhạt nhòa. Tôi đặt Carioca xuống đất, nó lập tức làm công việc của mình. Tôi nhướn mày nhìn Lily rồi đi tiếp.

Cả hai từ từ đi vòng quanh hang động, chỉ khoảng mười thước, nhưng không tìm thấy manh mối nào. Sau một hồi, Lily trải mấy cái mền mang theo xuống đất và ngồi lên.

"Chúng phải ở đâu đó trong đây", cô nói. "Quá tuyệt khi chúng ta tìm ra nơi này, mặc dù nó không giống như mê cung tớ tưởng tượng trong đầu". Bất chợt cô ngồi thẳng dậy và hỏi "Carioca đâu ?"

Tôi nhìn quanh, nhưng nó đã biến mất. "Chúa ơi", tôi cố bình tĩnh. "Chỉ có một lối ra, chính là lối chúng ta đã vào. Sao cậu không gọi nó thử xem ?". Và Lily cất tiếng gọi. Sau hồi lâu bối rối, chúng tôi nghe tiếng ăng ẳng nho nhỏ của nó phát ra ở lối vào khe xoắn ốc, và hai đứa thở phào nhẹ nhõm.

"Tớ sẽ bắt nó lại", tôi nói.

Nhưng Lily lập tức bật dậy. "Tất nhiên là không !" cô ấy nói, giọng vang khắp trong bóng tối u ám. "Cậu không được để tớ ở lại trong bóng tối". Cô ấy bám sát phía sau tôi, điều đó có thể giải thích tại sao cô ấy ngã vào cái hố và đè lên tôi. Phải mất một lúc lâu chúng tôi mới rơi chạm tới đáy.

Ngay gần cuối lối vào xoắn ốc của hang động có một dốc đá thẳng đứng ba mươi foot đi vào cao nguyên, chỗ này bị khúc quanh của bức tường che khuất nên khi vào, chúng tôi không nhìn thấy. Khi rút được thân hình bầm dập của mình khỏi thân hình đồ sộ cua Lily, tôi quay đèn hướng lên. Ánh sáng soi rọi mọi nơi làm nổi bật những bức tường kết tinh và mái trần của hang động lớn nhất tôi từng thấy. Chúng tôi ngồi nhìn các sắc màu sặc sỡ, trong khi Carioca nhảy nhót vui đùa xung quanh, cú té không khiến nó hề hấn gì.

"Giỏi lắm !", tôi reo lên, vỗ về đầu con vật. "Lâu lâu mới thấy mày là kẻ đần độn lóng ngóng nhưng cũng có lợi đấy, anh bạn lông lá ạ !" Tôi đứng dậy và phủi bụi trên người, trong khi Lily gom góp mền và đồ đạc nằm rải rác bị rơi vãi khỏi giỏ tôi. Chúng tôi há hốc miệng nhìn cái hang khổng lồ, dù có rọi đèn đi đâu thì dường như nó vẫn cứ dài vô tận.

"Tớ nghĩ tụi mình gặp rắc rối", giọng Lily vang lên từ khoảng tối phía sau tôi. "Tớ chợt nghĩ là cái dốc khi nãy rơi xuống nghiêng quá, làm sao leo lên bây giờ. Tớ còn thấy chúng ta có thể lạc đường trong chỗ này, trừ khi rải mẩu bánh mì lại làm dấu".

Cả hai vấn đề cô ấy đưa ra đều đúng nhưng đầu óc tôi giờ đang rối bời.

"Ngồi xuống rồi suy nghĩ", tôi chán nản nói với Lily. "Cậu cố nhớ một dấu hiệu, còn tớ sẽ cố tìm ra cách thoát khỏi đây". Sau đó, tôi nghe một âm thanh, một tiếng xào xạc mơ hồ như lá khô rơi trên đường vắng.

Tôi bắt đầu rọi đèn xung quanh nhưng thình lình, Carioca nhảy tưng tưng, sủa điên cuồng lên hướng mái trần hang động và một tiếng thét đinh tai nhức óc như tiếng kêu thất thanh của hàng ngàn con yêu quái đột kích vào tai tôi.

"Cái mền !", tôi hét toáng át tiếng ồn để Lily nghe thấy. "Lấy cái mền !", tôi túm lấy Carioca vẫn còn đang nhảy nhót trên mặt đất, kẹp nó vào dưới cánh tay và làm chỗ ẩn nấp cho Lily, chộp lấy mấy cái mền khỏi tay Lily đúng lúc cô ấy bắt đầu la toáng. Tôi tung mền lên đầu Lily và cố che đầu mình lại, nằm bẹp dí dưới đất ngay khi lũ dơi ùa tới.

Theo âm thanh chắc có đến có ngàn con dơi. Lily và tôi ngồi thụp quỳ xuống đất trong lúc chúng tấn công mấy cái mền như những phi công cảm tử tí hon, "Bịch", "bịch", "bịch". Tôi có thể nghe thấy tiếng thét của Lily át cả tiếng vỗ cánh của lũ dơi. Cô đang trở nên kích động cực độ và Carioca đang quằn quại như điên trong cánh tay tôi. Có vẻ con vật muốn một mình chống chọi với toàn bộ lũ dơi của sa mạc Sahara và tiếng sủa cất cao của nó, cộng với tiếng thét chói tai của Lily, vang dội khắp các bức tường cao.

"Tớ ghét dơi !", Lily hét lạc cả giọng, ôm chặt tay tôi trong lúc tôi lôi cô ấy chạy qua cái hang, liếc nhìn bên dưới cái mền để thấy đường. "Tớ ghét chúng ! Tớ ghét chúng !"

"Chúng cũng không có vẻ gì thích cậu đâu", tôi hét trở lại trong cảnh huyên náo. Nhưng tôi biết dơi không làm bạn đau, trừ khi chúng vướng vào tóc bạn hoặc bị mắc bệnh dại.

Hai đứa đang gập người chạy về hướng một trong những đường chính của cái hang rộng lớn thì Carioca luồn lách thoát khỏi tay tôi, tọt xuống đất bỏ chạy. Bầy dơi vẫn đang bay liệng khắp nơi.

"Chúa ơi", tôi hét. "Carioca, quay lại đây !" Nắm cái mền trên đầu, tôi bỏ Lily đứng đó và nhanh chóng đuổi theo con chó, lia đèn pin khắp nơi, hy vọng khiến lũ dơi nhầm lẫn.

"Đừng bỏ tớ !", tôi nghe tiếng Lily gào. Tiếng chân cô ấy chạy ầm ầm sau tôi, băng qua lớp sỏi đá vỡ vụn dưới đất. Tôi chạy nhanh thật nhanh nhưng Carioca rẽ vào một xó xỉnh rồi biến mất.

Lũ dơi đã bay đi. Hang động dài trải ra trước chúng tôi như một hành lang và không còn nghe động tĩnh của lũ dơi. Tôi quay sang nhìn Lily đang co rúc run lẩy bẩy phía sau, cái mền trùm kín đầu.

"Nó chết rồi", cô vừa nói vừa khóc thút thít, xem xét mọi ngóc ngách để tìm Carioca. "Cậu để nó rơi ra và chúng giết nó rồi”. 

“Chúng ta làm gì bây giờ ?" Giọng cô ấy yếu ớt đầy sợ sệt. "Cậu luôn biết phải làm gì. Bố tớ nói..”

"Tớ cóc thèm biết bố cậu nói gì", tôi quát vào mặt cô ấy. Cơn hoảng loạn bốc lên kẹp chặt lấy tôi nhưng tôi hít sâu kìm nó xuống vì nổi điên thật sự chẳng ích gì. huckleberry Finn đã từng thoát khỏi một cái hang như vậy, đúng không nào ? Hay đó là Tom Sawyer ? Tôi bắt đầu bật cười.

"Sao cậu cười ?", Lily điên lên. "Chúng ta làm gì đây ?"

"Trước hết tắt đèn pin đã", tôi nói, tắt cây đèn. "Vậy chúng ta không cạn kiệt pin trong cái nơi khỉ ho cò gáy này..." Và rồi, tôi trông thấy nó.

Ở tận phía cuối hành lang chúng tôi đứng có một ánh sáng lờ mờ. Rất mờ nhưng trong chỗ tối đen như mực, nó giống như ánh đèn hiệu của ngọn hải đăng sáng ngời trên mặt biển tăm tối.

"Gì vậy ?", Lily nín thở. Hy vọng được cứu của chúng ta, tôi nghĩ thầm, chụp lấy cánh tay cô ấy và đi về phía đó. Liệu nó có phải một lối vào khác không ?

Tôi không chắc hai đứa đã đi được bao xa. Trong bóng tối, bạn mất mọi cảm nhận về không gian và thời gian. Nhưng chúng tôi theo dấu ánh sáng lờ mờ mà không dùng đèn pin, nên dường như mất rất nhiều thời gian di chuyển qua hang động im lìm. Ánh sáng càng lúc càng trở nên rực rỡ hơn khi cả hai tiến đến gần. Cuối cùng, chúng tôi đến một căn phòng có kích thước vĩ đại, mái trần cao khoảng năm mươi foot và bề mặt các bức tường có hình thù lấp lánh kỳ lạ. Dòng suối ánh trăng tuyệt đẹp tuôn trào qua một lỗ hổng lộ thiên trên trần. Lily thốt lên.

"Chưa bao giờ tớ nghĩ chỉ nhìn thấy bầu trời mà đã hạnh phúc đến thế", cô nức nở.

Tôi hoàn toàn nhất trí. Cảm giác nhẹ nhõm tràn ngập trong tôi như liều thuốc kích thích. Nhưng khi đang tự hỏi làm thế nào hai đứa tự nâng mình lên năm mươi foot để trèo qua lỗ hổng trên trần thì ngay lúc đó, tôi nghe thấy âm thanh khụt khịt khó nhầm lẫn. Tôi bật đèn pin lên. Ngay góc tường, Carioca đang đào bới đất như muốn tìm xương.

Lily định xông tới nhưng tôi chụp cánh tay cô ấy lại. Con chó đang làm gì vậy ? Cả hai nhìn nó chằm chằm trong làn ánh sáng kỳ quái.

Nó đang đào như điên một mô đá sỏi vụn vỡ trên nền đất. Nhưng mô đất đá này có gì đó kỳ lạ. Tôi tắt đèn pin để căn phòng chỉ được soi sáng dưới ánh trăng mờ. Rồi tôi nhận ra điều khiến mình băn khoăn. Chính mô đất đang phát sáng, có cái gì đó bên dưới lớp đá sỏi kia. Và ngay bên trên, y hiệu hình hai con rắn quấn vào nhau tạo thành số tám được khắc trên tường dường như đang lơ lửng trong ánh trăng mờ.

Lily và tôi quỳ xuống đất cạnh Carioca, xới tung lớp đá sỏi. Chỉ mất vài phút, chúng tôi phát hiện ra quân cờ đầu tiên. Tôi lôi nó ra, cầm trong tay, một hình thù chiến mã hoàn hảo, đang lồng lên đứng bằng hai chân sau. Nó cao khoảng năm insơ và nặng hơn vẻ bề ngoài. Tôi bật đèn pin, đưa nó cho Lily rồi hai đứa xem xét quân cờ kỹ hơn. Từng chi tiết tinh xảo của món đồ thật đáng kinh ngạc. Mọi đường nét được chạm trổ vô cùng công phu trên thứ kim loại dường như là bạc nguyên chất. Từ phần mũi nhô lên đến phần bụng trang trí sắc sảo, cho thấy đây rõ ràng là tác phẩm của một thợ thủ công bậc thầy. Những đường viền tua rua trên yên ngựa nổi bật từng sợi một. Yên cương, đế quân cờ, kể cả mắt chiến mã đều là đá quý được mài nhẵn, sáng bóng lấp lánh sắc màu dạ quang trong ánh đèn pin nhỏ bé.

"Thật phi thường !", Lily thì thầm trong không gian tĩnh mịch chỉ vang lên tiếng đào bới không ngừng của Carioca. "Lấy những quân khác ra đi !"

Thế là chúng tôi tiếp tục cào xới mô đất cho đến khi lấy tất cả ra hết. Tám quân của Bộ cờ Montglane nằm trên nền đá sỏi xung quanh hai đứa phát sáng lờ mờ trong ánh trăng. Có một quân Mã bằng bạc và bốn quân Tốt nhỏ, mỗi quân cao khoảng ba insơ. Chúng mặc chiếc áo choàng rộng kỳ lạ với ô vải phủ phía trước và cầm giáo mũi xoắn. Có một con lạc đà bằng vàng chở tháp trên lưng.

Nhưng hai quân cuối cùng đặc sắc hơn cả. Một quân mô tả người đàn ông ngồi trên lưng voi, cái vòi của con vật giơ cao. Tất cả đều bằng vàng, hình thù giống bức tượng màu ngà trong tấm hình cậu Llewellyn đã cho tôi xem nhiều tháng trước, có điều quân cờ không có những bộ binh quanh đế. Nhân vật có vẻ được chạm khắc theo thực tế, từ một người có thật, hơn là kiểu mặt cách điệu thường thấy ở các quân cờ. Đó là một khuôn mặt to lớn, đáng kính với chiếc mũi cao nhưng phần lỗ mũi nhìn như người da đen sống ở vùng Ife tại Nigeria. Mái tóc dài xõa ra sau lưng, vài lọn tóc tết lại, điểm xuyết đá quý nhỏ. Đó là quân Vua.

Quân cờ cuối cùng cao khoảng sáu insơ, gần bằng quân Vua. Đó là chiếc kiệu có lớp màn trướng bao phủ được kéo sang một bên. Bên trong là một nhân vật ngồi bắt chéo chân, mặt hướng ra ngoài. Vị đó có vẻ mặt kiêu căng, gần như là hung tợn, với đôi mắt bằng ngọc lục bảo hình quả hạnh. Tôi nói là "vị đó", vì dù có bộ râu, nhưng bức tượng cũng có cả bộ ngực của người phụ nữ.

"Quân Hậu", Lily nói khẽ. "Ở Hy Lạp và Ba Tư, phụ nữ để râu, biểu hiện quyền lực thống trị của người đó. Thuở xưa, quân cờ này có ít quyền hạn hơn ngày nay, nhưng sức mạnh của bà ấy đã tăng lên".

Chúng tôi nhìn nhau trong ánh trăng mò nhạt, bên kia là những quân cờ rực rỡ của Bộ cờ Montglane, và hai đứa mỉm cười.

"Chúng ta làm được rồi", Lily nói. "Giờ tất cả những gì tụi mình phải làm là tìm cách ra khỏi đây".

Tôi lia đèn pin lên các bức tường, có vẻ khó khăn, nhưng không phải không thể được.

"Tớ nghĩ có thể níu vào tảng đá này", tôi nói. "Nếu chúng ta cắt mấy cái mền ra thành nhiều mảnh thì có thể làm thành một sợi dây. Leo được lên trên, tớ sẽ hạ dây xuống. Cậu có thể cột nó vào giỏ xách của tớ, và chúng ta đưa Carioca với những quân cờ lên".

"Tuyệt", Lily nói. "Nhưng còn tớ thì sao ?"

"Tớ không thể kéo cậu lên, cậu phải tự trèo thôi".

Tôi cởi giày trong khi Lily cắt mền ra bằng kéo cắt móng tay. Bầu trời bên trên sáng dần khi chúng tôi cắt xong mấy cái mền len dày.

Bức tường thô nhám nên có thể bám chắc chân vào được, cộng thêm mấy khe nứt ánh sáng có khắp nơi, trên mọi vách hang. Tôi mất gần nửa giờ leo lên, cầm theo sợi dây. Thở hổn hển thò đầu ra ánh sáng ban ngày, tôi ở đỉnh vách đá mà đêm trước cả hai đã đi vào chân vách. Lily cột cái giỏ bên dưới và tôi kéo Carioca lên trước, sau đó đến những quân cờ. Giờ đến lượt Lily. Tôi bóp đôi chân trầy trụa đau đớn của mình vì vài chỗ da phồng lên lại toét ra.

'Tớ sợ", cô nói vọng lên. "Lỡ tớ ngã gãy chân thì sao ?"

'Tớ ra lệnh cho cậu leo đi, và đừng nhìn xuống".

Lily bắt đầu leo lên vách thẳng đứng, bám chân trần vào những phần cứng của đá. Lên đến giữa chừng bỗng cô dừng lại sợ hãi.

'Tiếp đi", tôi giục. "Giờ cậu không thể ở yên vậy được". Cô ấy đứng trơ ở đó, cứ bám chắc vách đá như con nhện bị hoảng sợ. Cô không nói gì, cũng chẳng thèm nhúc nhích, tôi bắt đầu hốt hoảng.

"Này", tôi nói, "sao cậu không tưởng tượng đây là ván cờ ? Cậu bị dính chặt ở một chỗ và không tìm thấy lối thoát. Nhưng phải tìm đường thoát, bằng không cậu sẽ thua ! Tớ không biết cậu gọi tình huống tất cả các quân cờ bị kẹt cứng không nhúc nhích được là gì... nhưng cậu đang bị như vậy, trừ khi cậu tìm một chỗ khác đặt chân vào".

Tôi thấy cô ấy hơi cử động bàn tay. Cô buông tay và trượt một chút, sau đó bắt đầu từ từ trèo lên trở lại. Tôi thở phào nhẹ nhõm nhưng không nói gì tránh gây xao lãng trong khi cô ấy tiếp tục leo lên. Sau một quãng thời gian dài như vô tận, bàn tay cô ấy bám lên đỉnh gờ đá. Tôi nắm sợi dây cột quanh thắt lưng Lily và lôi mạnh, kéo cô ấy lên.

Lily nằm thở hổn hển, mắt nhắm nghiền. Cô không nói gì một hồi lâu. Cuối cùng, cô mở mắt nhìn bình minh rồi quay sang nhìn tôi.

"Người ta gọi nó là Zugzwang ", cô vừa nói vừa thở. "Chúa ơi, chúng ta làm được rồi".

Lại có thêm chuyện xảy đến.

Chúng tôi mang giày vào và lặn lội băng qua gờ đá, trèo xuống dưới. Sau đó, hai đứa băng trở lại Rừng Đá. Chỉ mất có hai giờ cuốc bộ xuống dốc đế trở lại ngọn đồi và nhìn thấy chiếc xe của chúng tôi.

Cả hai động viên lẫn nhau cho đỡ mệt và tôi đang kể với Lily là tôi rất thích món trứng chiên vào bữa sáng, một món cao lương mỹ vị không thể tìm thấy ở đất nước như thế này, thì bỗng cô ấy túm chặt cánh tay tôi.

'Tớ không tin nổi chuyện này", cô nói, chỉ xuống con đường nơi chúng tôi đã để xe lại sau bụi rậm. Có hai chiếc xe cảnh sát đậu hai bên, và một chiếc xe thứ ba tôi nghĩ mình đã nhận ra. Khi trông thấy hai gã côn đồ của Sharrif đang dò xét kỹ lưỡng chiếc Comiche, thì tôi biết mình đã đoán đúng.

"Làm thế nào bọn chúng đến đây được ?", Lily hỏi. "Ý tớ là tụi mình đã tống khứ chúng cách đây cả trăm dặm rồi mà".

"Cậu nghĩ ở Algeria có bao nhiêu chiếc Comiche màu xanh ?", tôi trả lời. "Và chúng ta có thể đi qua Tassili bằng mấy đường ?".

Cả hai đứng đó một lúc, nhìn xuống con đường qua bụi rậm.

"Cậu tiêu bay hết khoản tiền tiêu vặt mà bố cậu cho chưa ?", tôi hỏi. Cô ấy trông thật yếu đuối khi lắc đầu.

"Vậy tớ đề nghị chúng ta cuốc bộ đến Tamrit, làng của những căn lều mà chúng ta đã đi qua. Chắc tụi mình có thể mua vài con lừa để cưỡi trở về Djanet".

"Và để xe tớ lại trong tay bọn bất lương đó à ?", cô rít lên.

"Lẽ ra tớ nên để cậu treo lơ lửng trên vách đá", tôi nói. "Trong tình thế Zugzwang".

NGƯỜI DỊCH: NGUYỄN LÂM XUÂN CÁC
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.