Vì tôi đi một mình,
Dưới trời sao yên ắng, và lúc đó
Cảm giác mọi thứ đều mang quyền năng trong âm thanh...
Và tôi đứng lại,
Trong bóng đêm tối sẫm cùng một cơn bão đang tới,
Bên dưới hòn đá nào đó, lắng nghe giọng điệu Ngôn ngữ tinh thần của cõi xa xưa,
Hay lờ mờ ở trong các cơn gió nơi xa.
Từ đó tôi thực sự uống thứ quyền lực hư ảo.
- Khúc dạo đầu – William Wordsworth
Talleyrand đi khập khiễng qua khu rừng đầy lá, nơi đó những tia sáng mặt trời, nổi lên các hạt bụi vàng, chiếu xuyên qua thánh đường hoa lá mùa xuân. Chim ruồi xanh nhạt bay khắp nơi, lượn lờ hút mật trong các khóm hoa rực rỡ của một nhánh dây leo hình dáng giống cây kèn treo lơ lửng như tấm lưới từ gốc sồi già. Mặt đất vẫn ẩm ướt dưới chân anh, cây cối vẫn đọng nước sau trận mưa rào mới đây, bắt lấy ánh sáng chiếu vào như kim cương lốm đốm trên hoa lá tạo thành những đường vằn.
Anh đã ở Mỹ hơn hai năm. Điều đó đúng với mong chờ nhưng không phải nguồn hy vọng của anh. Đại sứ Pháp ở Mỹ, một viên chức tầm thường, hiểu được những khao khát tham vọng chính trị của Talleyrand và cũng biết rõ các lời cáo buộc phản quốc chống lại anh. Ông ta đề ra việc phản đối quyền gia nhập của anh với tổng thống Washington và cánh cửa xã hội Philadelphia đóng sập nhanh chóng như ở Luân Đôn. Chỉ còn Alexander Hamilton là bạn và đồng minh của anh, mặc dù ông ta không thể tìm cho anh công việc nào. Cuối cùng, khoản tiền của anh cạn kiệt, Talleyrand buộc phải bán mảnh đất ở Vermont cho một người Pháp nhập cư mới đến. Ít ra việc này giúp anh còn sống được.
Giờ đây, khi lê bước với cây gậy qua địa hình gồ ghề, đo đạc mảnh đất sẽ bán ngày mai, anh thở dài và nghĩ về cuộc đời tệ hại của mình. Thực ra anh đang cứu vớt cái gì ? Ở tuổi bốn mươi hai anh không có gì để thể hiện những năm tháng được dạy dỗ, nền giáo dục tốt anh đã có. Với vài lời phản đối người Mỹ không phải kẻ độc ác và tội phạm, anh bị các nước châu Âu văn minh đuổi ra. Kể cả các tầng lớp trên ở Philadelphia cũng ít được ăn học so với những kẻ man rợ như Marat, cái gã có bằng y khoa, hay Danton, người nghiên cứu luật.
Nhưng đa số những người đó đã chết, trước tiên họ dẫn đầu, về sau lại hủy hoại cuộc cách mạng. Marat bị ám sát; Camille Desmoulins và Georges Danton bị đem ra máy chém trên cùng chiếc xe bò; Hébert, Chaumette, Couthon, Saint-Just; Lebas, thà tự bắn vào đầu còn hơn là qui phục chịu bị bắt; và anh em Robespierre, Maximilien cùng Augustin, cái chết của họ dưới lưỡi dao đánh dấu sự chấm dứt của cuộc khủng bố. Nếu còn ở lại Pháp, có thể anh cũng chịu cùng số mệnh. Nhưng giờ là lúc lấy lại các quân cờ. Anh vỗ nhẹ bức thư trong túi và mỉm cười. Anh thuộc về nước Pháp, nơi đó anh ở giữa phòng tranh tráng lệ của Germaine de Stael, thêu dệt các mưu đồ chính trị tài ba, chứ không phải lang thang khắp nơi giữa chốn hoang vắng độc ác này.
Thình lình anh nhận ra có tiếng gì đó khác tiếng vo vo của đàn ong. Anh cúi người cắm cây gậy xuống đất rồi săm soi đám cây cối gọi to: "Courtiade, ngươi đó phải không ?"
Không ai trả lời, anh gọi lại lần nữa, lớn tiếng hơn. Từ sâu trong bụi cây vang lên giọng buồn rầu của người đầy tớ,
"Vâng, thưa giám mục, không may chính là con".
Courtiade chui ra khỏi bụi cây thấp và bước vào khoảng rừng thưa hẹp. Một cái túi da lớn lủng lẳng trên sợi dây đeo trước ngực anh chàng này.
Talleyrand choàng tay qua vai người đầy tớ trong khi cả hai len lỏi qua những bụi cây thấp trở về con đường mòn đá sỏi có ngựa xe đứng chờ.
"Hai mươi khoảnh đất", anh trầm ngâm. "Đi nào, Courtiade, nếu ngày mai bán được thì chúng ta sẽ trở về Philadelphia với khoản tiền đủ để chi trả cho hành trình về Pháp".
"Vậy trong lá thư giám mục nhận được từ phu nhân de Stael hứa hẹn cha có thể trở về à ?" Courtiade hỏi, khuôn mặt nghiêm nghị, bình thản của anh chàng đầy tớ giãn ra trông như mỉm cười.
Talleyrand đút tay vào túi và rút ra lá thư anh nhận vài tuần trước. Courtiade nhìn kiểu chữ viết tay và những dấu hiệu hoa mỹ trang trí trên tên của Cộng hòa Pháp.
"Như thường lệ", Talleyrand nói, lấy ruột thư bên trong ra, "Germaine đã lao vào một cuộc xung đột. Ngay khi đích thân trở lại Pháp, cô ấy đã kiếm ra người tình mới, một gã Thụy Sĩ tên Benjamin Constant, tại tòa đại sứ Thụy Điển ngay trước mũi ông chồng. Cô ấy gây rất nhiều tranh cãi về những hoạt động chính trị của mình, cô bị lên án ngay tại phòng họp của Quốc hội là cố xúi giục người tình đi theo chế độ quân chủ trong khi cắm sừng chồng. Hiện họ ra lệnh cho cô giữ nguyên vị trí cách xa Paris hai mươi dặm, nhưng ngay cả ở đó cô ấy cũng có sức lôi cuốn. Một phụ nữ đầy quyền lực và rất quyến rũ, người mà ta sẽ luôn luôn tự hào là bạn mình..." Anh gật đầu ra hiệu cho Courtiade mở lá thư. Người đầy tớ đọc trong khi họ tiếp tục bước về phía chiếc xe ngựa.
“Ngày của anh đã đến rồi, bạn yêu quí của em. Trở về sớm và tận hưởng phần thưởng của sự kiên nhẫn nhé. Em vẫn có những người bạn biết anh, sẽ nhớ tên anh và bộ cờ anh trao cho nước Pháp trước đây. Thân mến, Germaine".
Courtiade ngước mắt khỏi bức thư với niềm hân hoan hiện rõ. Họ đến chỗ chiếc xe có con ngựa già mệt mỏi đứng nhai trệu trạo cỏ tươi. Talleyrand vỗ về cổ con vật và quay sang Courtiade. "Ngươi có đem các quân cờ chứ ?" anh hỏi khẽ.
"Chúng đây", người đầy tớ đáp, vỗ vỗ vào túi da đung đưa trên vai. "Và bản Nước đi của Quân Mã của ngài Benjamin Franklin, được bộ trưởng Hamilton sao chép cho giám mục".
"Cái đó chúng ta có thể giữ, vì nó không đặc biệt đối với ai khác ngoại trừ chúng ta. Nhưng đem các quân cờ về Pháp thì quá nguy hiểm. Đó là lý do ta muốn mang chúng đến đây, đến nơi hoang vắng mà không ai hình dung được sự có mặt của chúng. Vermont là một cái tên bằng tiếng Pháp, đúng không nào ? Nó có nghĩa là Dãy núi Xanh tươi". Anh chỉ cây gậy về hướng những rặng núi đồi xanh mướt sừng sững trải dài lơ lửng bên trên họ. "Trên đó, đỉnh những ngọn núi xanh bạt ngàn kia rất gần với Thượng đế. Vậy thì Người có thể để mắt đến chúng ở chỗ của ta".
Đôi mắt anh lấp lánh khi quan sát Courtiade, thế nhưng nét mặt người đầy tớ lại trở nên nghiêm nghị.
"Sao vậy ?" Talleyrand hỏi. "Ngươi không thích ý tưởng đó à ?" "Cha vô cùng liều lĩnh đối với những quân cờ này", người đầy tớ lễ phép giải thích. "Chúng đã lấy đi rất nhiều sinh mạng. Để chúng lại sau lưng dường như..." Anh chẳng lựa chọn từ ngữ để thể hiện ý nghĩ của mình.
"Dường như tất cả chuyện này là vô nghĩa", Talleyrand cay đắng nói.
"Mong cha bỏ qua cho lời nói quá táo bạo của con... Nếu cô Mireille còn sống, cha sẽ đi đến cùng trời cuối đất để canh giữ những quân cờ này thật cẩn thận, vì cô ấy tin tưởng cha không bỏ mặc chúng bị tàn phá ở nơi hoang lạnh". Anh nhìn Talleyrand với nét mặt lo âu về những điều Talleyrand sắp làm.
"Gần bốn năm đã qua không một tin tức, không một dấu hiệu", Talleyrand cất giọng đứt quãng. "Thậm chí không một chút nhỏ nhoi gì để bám víu lấy nhưng ta không bao giờ từ bỏ hy vọng, không hề cho đến lúc này. Nhưng Germaine trở về Pháp rồi và với nguồn tin của cô ấy, nếu có dấu vết gì chắc chắn ta sẽ biết được. Sự im lặng của cô ấy về việc này báo trước điềm gở tồi tệ nhất, có lẽ bằng cách chôn vùi những quân cờ này vào lòng đất, hy vọng của ta sẽ lại bén rễ".
Ba giờ đồng hồ sau, khi hai người đặt hòn đá cuối cùng lên mô đất sâu tận chính giữa Dãy núi Xanh tươi, Talleyrand ngẩng đầu nhìn Courtiade.
"Có lẽ bây giờ", anh nói, cúi nhìn mô đất, "chúng ta có thể yên tâm quả quyết rằng chúng sẽ không lộ diện trở lại trong cả ngàn năm nữa".
Courtiade đang kéo mớ dây leo và quét sạch dấu vết chỗ chôn giấu. Anh đáp bằng giọng trang nghiêm, "Nhưng ít ra chúng sẽ còn tiếp tục tồn tại".
St Petersburg, Nga. Tháng mười một năm 1796
Sáu tháng sau, trong phòng đợi của Cung điện Hoàng gia tại StPetersburg, Valerian Zubov và người em đẹp trai Plato, tình nhân của nữ hoàng Catherine Đệ nhất, đứng thì thầm với nhau trong lúc các quần thần vội vã khoác đồ tang đen, đứng sắp hàng cạnh cánh cửa để mở trên đường vào phòng nữ hoàng."Chúng ta sẽ không sống sót", Valerian thì thào, anh chàng này, cũng như người em mình, mặc trang phục nhung đen trang trí ruy băng quốc gia. "Chúng ta phải hành động ngay bây giờ, bằng không tất cả sẽ tiêu"
"Em không thể bỏ đi trước khi bà ta chết", Plato thì thầm khó chịu khi nhóm người cuối cùng đã đi qua. "Chuyện đó sẽ thế nào ? Bà ấy có thể đột ngột bình phục và thế là tất cả sẽ mất hết !"
"Bà ta sẽ không bình phục !" Valerian đáp, vất vả che giấu sự bối rối trong giọng nói. "Đó là căn bệnh xuất huyết não. Thầy thuốc nói với anh rằng không ai bình phục được khi bị bệnh đó. Và khi bà ta chết, Paul sẽ thành Nga hoàng".
"Anh ta đến thỏa ước với em", Plato nói với vẻ ngập ngừng. "Mới sáng nay, anh ta phong cho em danh hiệu và ban tặng đất đai. Tất nhiên không tráng lệ như Cung điện Taurida, một nơi nào đó ở miền quê".
"Và em tin anh ta ư ?"
"Không", Plato thừa nhận. "Nhưng em có thể làm gì đây ? Thậm chí nếu em chọn cách bỏ trốn, em cũng sẽ không bao giờ đến được biên giới..."
***
Vị nữ tu ngồi cạnh giường Catherine vĩ đại của toàn thể dân Nga. Khuôn mặt nữ hoàng trắng bệch, bà đã bất tỉnh. Nữ tu trưởng cầm bàn tay Catherine, nhìn làn da trắng đôi lúc ngả sang tím tái khi nữ hoàng thở hắt trong cơn vật vã cuối cùng với tử thần.
Thật dễ sợ khi nhìn nữ hoàng nằm đó, người bạn này lúc trước tràn đầy nghị lực và sức sống. Tất cả quyền lực trên thế giới không thể cứu được bà ấy khỏi cái chết khủng khiếp, thân thể bà là một khối tái nhợt, nhăn nhúm như trái cây thối rữa rụng quá muộn khỏi cành. Đó là kết thúc mà Chúa đã chỉ định cho tất cả mọi người, sang hèn tốt xấu gì cũng thế. Xá tội, nữ tu trưởng thầm nghĩ, nếu lời xá tội của tớ giúp được cậu. Nhưng trước hết cậu phải tỉnh dậy, bạn của tớ. Vì tớ cần sự giúp đỡ của cậu thêm một lần nữa. Nếu có một việc cậu buộc phải làm trước khi chết, đó chính là nói tớ nghe cậu đã giấu quân cờ tớ đưa cậu ở đâu. Nói tớ nghe chỗ cậu để quân Hậu đen !
***
Nhưng Catherine không hồi phục. Nữ tu trưởng ngồi trong căn phòng lạnh giá nhìn lò sưởi trống trơn, bà quá suy sụp bởi nỗi đau đến nỗi không đốt lò sưởi lên. Nữ tu nặn óc nghĩ xem tiếp theo bà nên làm gì.
Toàn thể triều đình chìm trong tang thương phía sau các cánh cửa khép chặt, nhưng họ than khóc cho chính mình cũng không kém gì than khóc cho nữ hoàng vừa mới băng hà. Các quần thần khiếp đảm rụng rời nghĩ tới điều giờ đây ập xuống đầu họ, đó là Thái tử Paul điên dại sắp lên ngôi Nga hoàng.
Họ nói giây phút Catherine trút hơi thở cuối cùng, thái tử đã xộc vào phòng bà để vét sạch mọi thứ trong ngăn kéo, những thứ chưa được mở ra và chưa được đọc, quăng vào ngọn lửa lò sưởi nóng rực. Anh e sợ trong số những bản thảo cuối cùng đó có văn kiện tuyên bố điều bà luôn luôn quả quyết sẽ làm, đó là tước quyền thừa kế của anh ta, trao cho Alexander, con trai anh ta.
Cung điện bị biến thành trại lính. Binh sĩ trong quân đội riêng của Paul, mặc đồng phục như quân Phổ với những khuy áo sáng chói, đêm ngày diễu hành lên xuống các hành lang, giọng hô vang mệnh lệnh át cả tiếng giày rền rĩ. Những hội viên hội Tam điểm và các đảng viên đảng Tự do bị Catherine chống đối đang được phóng thích khỏi nhà ngục. Mọi thứ Catherine đã làm khi còn sống, Paul kiên quyết đảo lộn tất cả. Chỉ là vấn đề thời gian, nữ tu trưởng nghĩ thầm, trước khi sự chú ý của anh ta chuyển sang những người từng là bạn của nữ hoàng...
Bà nghe tiếng cửa phòng mình cọt kẹt mở ra. Dõi mắt vô vọng ra cửa, bà trông thấy Paul, đôi mắt lồi của anh ta nhìn bà chằm chằm từ bên kia căn phòng. Anh ta lặng lẽ mỉm cười một cách ngớ ngẩn, xoa hai tay với nhau, bà không chắc anh ta làm vậy do cảm thấy toại nguyện hay do cái lạnh buốt giá của căn phòng.
"Payel Petrovich, tôi đang trông đợi cậu", nữ tu nói và mỉm cười.
"Bà phải nói là tâu Bệ hạ, và bà phải đứng dậy khi ta vào phòng !" anh ta gần như hét toáng. Sau đó, trong khi nữ tu chậm rãi đứng lên, anh ta trấn tĩnh lại, băng qua căn phòng đến chỗ bà và cúi nhìn với thái độ căm ghét hằn trên khuôn mặt. "Địa vị chúng ta hoàn toàn khác biệt so với lần cuối ta vào căn phòng này, bà nói có phải không, phu nhân de Roque ?" anh ta nói bằng giọng thách thức.
"Sao cơ, đúng thế”, nữ tu bình thản đáp. "Nếu tôi không nhầm, lúc đó mẹ cậu đang giải thích lý do tại sao cậu sẽ không được thừa hưởng ngai vàng của bà ấy, và chưa hết, những sự kiện dường như khác đi".
"Ngai vàng của bà ấy sao ? !" Paul thét lên, điên tiết nắm chặt tay. "Đó là ngai vàng của ta, ngai vàng bà ấy cướp khỏi tay ta từ khi ta chỉ mới tám tuổi ! Bà ấy là bạo chúa !" anh gào to, khuôn mặt đỏ gay giận dữ. "Ta biết điều bà đang âm mưu trong đầu ! Ta biết thứ bà chiếm hữu ! Ta yêu cầu bà nói ta biết phần còn lại giấu ở đâu ?" Vừa nói anh ta đưa tay vào túi áo rút ra quân Hậu đen. Nữ tu thụt lùi khiếp sợ nhưng lập tức trấn tĩnh lại.
"Cái đó thuộc về tôi", bà ôn tồn cất lời, chìa tay ra.
"Không, không ! "Paul vui sướng reo lên. "Ta muốn tất cả chúng vì như bà thấy đấy, ta biết chúng là gì. Tất cả chúng sẽ là của ta ! Tất cả là của ta !"
"Tôi e rằng không phải thế", nữ tu nói, vẫn giơ tay ra.
"Có lẽ nằm trong ngục sẽ khơi lại lương tâm của bà", Paul đáp, vừa quay đi vừa để quân cờ nặng trịch trở vào túi.
"Chắc chắn ý cậu không phải như lời nói", nữ tu nói.
"Cho đến sau đám tang", Paul cười khúc khích, dừng chân tại cửa. "Ta không muốn bà bỏ lỡ màn trình diễn. Ta đã ra lệnh khai quật xương cốt người cha bị giết, vua Peter đệ tam, lên khỏi tu viện Alexander Nevski và mang đến Cung điện Mùa đông để trưng bày cạnh thi thể người đàn bà đã dàn xếp cái chết cho ông. Quan tài của cha mẹ ta được đặt một cách trang trọng, bên trên sẽ là biểu ngữ 'Chia lìa khi sống, đoàn tụ khi chết’. Đoàn tùy tùng hộ tang hai bên bao gồm những nhân tình trước đây của mẹ ta sẽ khiêng cỗ quan tài hạng tốt kia qua các phố phường phủ tuyết trong thành phố. Ta thậm chí còn sắp đặt cho những kẻ đã giết cha mình khiêng quan tài của ông ấy !" Anh ta bật cười cuồng loạn trong khi nữ tu nhìn anh chằm chằm kinh hãi.
"Nhưng Potemkin chết rồi", bà nói khẽ.
"Đúng vậy, quá muộn đối với Serenissima" ((Cộng hòa Venice): một thành quốc Italia tồn tại từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 18).
Anh ta bật cười. "Xương cốt của hắn sẽ bị đào lên khỏi lăng mộ tại Kherson và rải cho chó ăn !" Vừa nói, Paul vừa đẩy bật cửa thô bạo và quay lại liếc nhìn nữ tu lần cuối. "Còn Plato Zubov, kẻ được mẹ ta sủng ái gần đây nhất, sẽ nhận được một điền trang mới. Ta sẽ chào đón hắn ở đó với rượu sâm banh và bữa tối trên những cái đĩa bằng vàng. Nhưng hắn sẽ chỉ tận hưởng nó một ngày thôi !"
"Chắc anh ta sẽ là bạn tù của tôi phải không ?" nữ tu ướm lời, lo âu khi biết nhiều về những kế hoạch của kẻ điên rồ này.
"Sao phải băn khoăn về tên ngốc đó ? Ngay khi hắn đến nơi, ta sẽ dành cho hắn lời mời đi du lịch. Ta sẽ thích thú ngắm nhìn vẻ mặt của hắn khi hắn biết chỉ trong một ngày phải từ bỏ mọi thứ đã rất vất vả có được sau nhiều năm trời lên giường với mẹ ta !"
Cánh cửa vừa bật khép sau lưng Paul thì nữ tu vội vàng đến bàn viết. Bà biết Mireille còn sống, bởi lẽ lá thư tín dụng bà gửi cho cô thông qua Charlotte Corday đã được rút không chỉ một lần mà rất nhiều lần tại ngân hàng ở Luân Đôn. Nếu Plato Zubov sắp bị lưu đày, anh ta có thể là người liên lạc được với Mireille qua ngân hàng đó. Giá như Paul đừng thay đổi ý định thì bà có cơ hội. Dù anh ta có một quân của Bộ cờ Montglane nhưng anh ta không có tất cả. Bà vẫn có mảnh vải, và bà biết bàn cờ được giấu ở đâu.
Trong lúc vừa chuẩn bị lá thư, thận trọng chọn từ ngữ phòng trường hợp nó rơi vào tay kẻ xấu, bà vừa cầu nguyện cho Mireille có thể nhận được thư trước khi quá trễ. Khi viết xong bà đút nó vào áo choàng để có thể chuyền tay cho Zubov tại tang lễ. Sau đó nữ tu ngồi xuống khâu mảnh vải của Bộ cờ Montglane vào chiếc áo choàng viện trưởng của mình. Đó có thể là cơ hội cuối cùng bà có để cất giấu nó trước khi bị tống vào ngục.
Paris. Tháng mười hai năm 1797
Xe ngựa của Germaine de Stael đi qua những hàng cột kiểu Hy Lạp nguy nga đánh dấu lối vào khách sạn Galliffet trên đường Rue de Bac. Sáu con ngựa trắng toát mồ hôi và gõ chân xuống nền sỏi, ghìm cương dừng lại ở lối vào phía trước. Người hầu nhảy xuống kéo bậc thang xe ngựa để giúp cô chủ giận dữ bước xuống. Trong một năm cô đã mang Talleyrand từ nơi tối tăm bị lưu đày ra sống tại tòa nhà tráng lệ này, và những việc đó là lời cảm ơn cô nhận được !
Khoảng sân nhỏ đầy cây cảnh và cây bụi đặt trong chậu. Courtiade bước qua lớp tuyết, chỉ bảo nên đặt cây cối trên bãi cỏ bên ngoài tương phản khung cảnh rộng lớn của khu vườn đầy tuyết. Có cả trăm cây đang ra hoa, đủ để biến bãi cỏ thành chốn thần tiên mùa xuân ngay giữa trời đông. Người đầy tớ lo lắng khi ngước thấy phu nhân de Stael đến, rồi vội vã chào cô.
"Đừng cố xoa dịu ta, Courtiade" Germaine hét lên thậm chí trước cả khi người đầy tớ đến chỗ cô. "Ta đến để vặn cổ con người vô ơn là ông chủ ngươi đó !" Và trước khi Courtiade có thể ngăn cô lại, Germaine đã xăm xăm bước lên bậc thềm và vào nhà qua cánh cửa kiểu Pháp để mở bên hông.
Cô tìm thấy Talleyrand ở trên gác, đang xem xét các hóa đơn trong căn phòng làm việc sáng sủa nhìn ra khu vườn. Anh xoay lại mỉm cười khi cô xông vào phòng.
"Germaine, thật là một điều thú vị bất ngờ !" anh lên tiếng, đứng dậy chào đón cô.
"Sao anh dám tổ chức buổi dạ hội cho kẻ hách dịch người Corsica đó mà không mời tôi ?" cô hét. "Anh quên ai đưa anh từ Mỹ trở về à ? Ai khiến những cáo buộc chống lại anh được bỏ qua ?
Ai thuyết phục Barass rằng anh làm bộ trưởng về mặt ngoại giao tốt hơn Delacroix ? Đây là lời cảm ơn tôi nhận được khi để cho anh tùy ý sử dụng thế lực to lớn của tôi sao ? Mong là sau này tôi sẽ nhớ rằng người Pháp mau quên bạn bè thật !"
'Germane thân mến”, Talleyrand nói, rên rỉ dịu dàng trong kh vuốt ve cánh tay cô, "chính ngài Delacroix thuyết phục Barras rằng anh là người giỏi hơn dành cho công việc".
“Một người giỏi hơn trong vài việc nhỉ", Germaine gào lên giận dữ, đầy khinh bỉ "Tất cả Paris đều biết đứa trẻ vợ ông ta mang trong bụng là của anh ! Chắc là anh mời tất cả họ, người tiền nhiệm của anh và cô nhân tình anh có được nhờ cắm sừng ông ta !"
"Anh mời tất cả nhân tình của mình". Talleyrand bật cười. "Kể cũng đúng. Nhưng về chuyện cắm sừng thì nếu là em, anh sẽ không ăn nói lung tung vậy đâu, em thân yêu".
"Tôi chẳng nhận được lời mời nào hết", Germaine nói, bưng bít ẩn ý khác của Talleyrand.
"Tất nhiên là không rồi", anh nói, đôi mắt xanh sáng rực nhìn cô chăm chú với vẻ ngoan ngoãn. 'Tại sao lại phí thư mời cho người bạn thân nhất của anh ? Làm sao em nghĩ rằng anh lên kế hoạch tổ chức bữa tiệc trọng đại này, tới năm trăm khách mời, mà không có sự giúp đỡ của em ? Anh trông chờ em mấy ngày trước rồi !"
Germaine bối rối mất một lúc. "Nhưng quá trình chuẩn bị đang được tiến hành", cô nói.
"Vài ngàn thân cây và cây bụi", Talleyrand khịt mũi. "Chẳng là gì so với điều anh nghĩ trong đầu". Nắm lấy cánh tay cô, anh dẫn cô đi dọc dãy cửa sổ kiểu Pháp, chỉ xuống dưới sân.
"Em nghĩ sao về việc dựng thật nhiều căn lều bằng vải lụa với cờ xí phấp phới tung bay dọc theo bãi cỏ và tạo thành cụm từ đầu đến cuối sân. Giữa những căn lều, binh lính mặc đồng phục kiểu Pháp đứng với tư thế trong quân đội...". Anh dẫn cô trở lại phòng làm việc, nơi có hành lang cẩm thạch bao quanh đại sảnh rộng lớn dẫn đến cầu thang lát đá hoa cương đắt tiền của Ý. Những người thợ đang quỳ trải thảm đỏ dày ra.
"Và ở đây, khi khách khứa bước vào, các nhạc sĩ đang tấu những giai điệu quân hành sẽ đi khắp hành lang, lên xuống cầu thang trong lúc bản quốc ca nước Pháp cất lên !"
"Thật tuyệt vời !" Germaine vỗ tay reo lên. "Phải chọn hoa màu đỏ, trắng, và xanh dương, giăng cờ xí biểu ngữ cùng màu khắp lan can..."
"Em thấy không ?" Talleyrand mỉm cười, ôm lấy cô. "Anh sẽ làm được gì nếu không có em ?"
***
Như một bất ngờ đặc biệt, Talleyrand bố trí phòng ăn lớn sao cho ghế tại bàn tiệc chỉ dành cho phụ nữ. Mỗi quý ông đứng sau ghế một quý bà, gắp cho họ những miếng ngon vật lạ từ những đĩa thức ăn chuẩn bị công phu được các người hầu mặc chế phục luân chuyển liên tục. Sự sắp đặt này khiến phụ nữ vui lòng và cho các ông cơ hội trò chuyện.
Napoleon hài lòng với mô hình tái hiện doanh trại quân đội kiểu Ý chào đón anh ta tại cổng vào. Khoác bộ trang phục đơn giản không trang trí màu mè, như lời khuyên của Talleyrand, anh sáng chói hơn hẳn so với các quan đốc chính của chính phủ, những người đến trong bộ quần áo diêm dúa trang hoàng dày đặc do họa sĩ David thiết kế.
Bản thân David, đứng ở cuối phòng, được chỉ định phục vụ một bóng hồng tuyệt đẹp có mái tóc vàng, người Napoleon rất nóng lòng gặp mặt.
"Trước kia tôi đã gặp cô ấy ở đâu chưa nhỉ ?" anh thì thầm với Talleyrand và mỉm cười, nhìn xuống dãy bàn.
"Có lẽ", Talleyrand đáp thờ ơ. "Cô ấy có mặt tại Luân Đôn trong thời gian xảy ra cuộc khủng bố, nhưng vừa mới trở về Pháp. Tên cô ấy là Catherine Grand".
Khi khách khứa rời bàn, tản ra phòng khiêu vũ và phòng nghe nhạc, Talleyrand đưa người phụ nữ đáng yêu đi khắp phòng. Phu nhân de Stael dẫn viên tướng vào một góc, hỏi tới tấp nhiều câu.
'Xin nói tôi biết, tướng Bonaparte", cô nói đầy sức thuyết phục “anh say mê nhất mẫu phụ nữ nào ?”
“Người sinh nhiều con”, anh đáp sẵng giọng. Trông thấy Catherine Grand tiến đến trong tay Talleyrand, anh mỉm cười.
“Và cô lớn lên ở đâu, người đẹp của tôi ?" anh hỏi khi họ chào nhau "Cô mang dáng dấp người Pháp nhưng lại có tên tiếng Anh. Cô thuộc dòng dõi Anh quốc à ?"
"Tôi là người Ấn Độ", Catherine Grand đáp với nụ cười dịu dàng. Germaine há hốc miệng kinh ngạc, còn Napoleon nhướn mày nhìn Talleyrand. Bởi lẽ lời khẳng định đó mang hai nghĩa, như cách cô ta nói còn có ý "Tôi là một kẻ hoàn toàn ngu đần".
"Tiểu thư Grand không thật sự ngốc nghếch như lời cô ấy muốn chúng ta tin đâu", Talleyrand châm chọc, liếc nhìn Germaine. "Thật ra, tôi thấy cô ấy là một trong những phụ nữ khôn ngoan nhất châu Âu"
"Một phụ nữ xinh đẹp không hẳn lúc nào cũng thông minh", Napoleon đồng tình, "nhưng một phụ nữ thông minh luôn luôn xinh đẹp"
"Anh khiến tôi ngượng trước mặt phu nhân de Stael", Catherine Grand lên tiếng. "Ai cũng biết phu nhân là người phụ nữ tài giỏi nhất châu Âu. Thậm chí cô ấy còn viết cả sách !"
"Cô ấy viết sách", Napoleon nói, nắm cánh tay Catherine, "nhưng các quyển sách sẽ viết về cô !"
David đến chỗ họ, nồng nhiệt chào hỏi từng người, nhưng ông khựng lại trước tiểu thư Grand..
"Quả là, giống nhau đến đáng kinh ngạc, phải không nào ?" Talleyrand nói, đoán biết được ý nghĩ người họa sĩ. "Đó là lý do tôi sắp chỗ cho anh cạnh tiểu thư Grand vào bữa tối. Và nói tôi nghe, anh đang làm gì với bức vẽ những phụ nữ Sabine ? Tôi muốn mua nó, để kỷ niệm, nếu nó đã từng được công bố".
'Tôi hoàn thành nó trong ngục", David nói với giọng cười khan. "Bức tranh được trưng bày tại viện Hàn Lâm sau đó không lâu. Cậu biết tôi bị giam hàng tháng trời ngay sau sự sụp đổ của Robespierre mà".
'Tôi cũng bị nhốt vào nhà tù tại Marseilles". Napoleon bật cười. "Với cùng nguyên cớ. Người anh em Augustin của Robespierre đã chống đỡ ủng hộ cho tôi rất nhiều... nhưng bức tranh của ngài vẽ gì ? Nếu là chân dung của tiểu thư Grand thì tôi muốn tận mắt thấy nó".
"Không phải tranh cô ấy", David đáp giọng run run, "mà là người rất giống cô ấy. Một đứa con nuôi của tôi, con bé đã chết trong giai đoạn diễn ra cuộc khủng bố. Hai đứa nó..
"Valentine và Mireille", phu nhân de Stael ngắt lời. "Những cô nàng đáng yêu... họ đã từng đi khắp nơi với chúng ta. Một người đã chết, nhưng chuyện gì xảy đến với người kia, cô gái có mái tóc đỏ ấy ?"
"Tôi nghĩ cô ấy cũng đã chết", Talleyrand lên tiếng "Hay như lời tiểu thư Grand đã khẳng định. Em là bạn thân của cô ấy, phải không, em thân yêu ?"
Catherine Grand tái mặt nhưng mỉm cười dịu dàng trong lúc cố trấn tĩnh lại. David thình lình ném ánh mắt về phía cô và định nói thì Napoleon xen vào.
"Mireille ư ? Đó có phải là cô gái tóc đỏ không ?"
"Hoàn toàn đúng vậy", Talleyrand đáp. "Cả hai người họ đều là nữ tu tại Montglane".
"Montglane !" Napoleon thì thầm, nhìn chằm chằm Talleyrand. Sau đó anh nhìn lại David. "Họ là con nuôi ngài, ngài nói vậy phải không ?"
"Trước khi họ chết", Talleyrand lặp lại, chăm chú quan sát cô nàng Grand trong khi cô này lúng túng chịu đựng ánh mắt anh. Sau đó anh cũng quay nhìn David. "Dường như có điều gì đang khiến anh lo lắng", anh nói, nắm cánh tay người họa sĩ.
"Có điều đang khiến tôi bối rối", Napoleon lên tiếng, thận trọng trong lời nói. "Thưa các quý ngài, tôi đề nghị chúng ta hộ tống những quý bà đây đến phòng khiêu vũ rồi lui về phòng làm việc giây lát. Tôi muốn làm rõ chuyện này".
“Sao cơ, tướng Bonaparte ?" Talleyrand nói. "Anh biết điều gì về hai cô gái chúng tôi nói đến à ?"
"Quả thật là vậy, ít ra là biết một trong hai người", anh đáp thành thật, "Nếu cô ấy đúng là người đó thì cô ấy gần như đã sinh em bé tại nhà tôi ở Corsica !"
***
"Cô ấy còn sống, và cô ấy có con", Talleyrand cất lời sau khi chắp nối câu chuyện của Napoleon và David lại với nhau. Con của ta, anh nghĩ thầm, đi tới lui trong phòng làm việc khi hai người kia ngồi nhấm nháp rượu vang hảo hạng trong chiếc ghế bành bọc lụa màu vàng êm ái cạnh lò sưởi bập bùng. "Nhưng hiện giờ cô ấy có thể ở đâu ? Cô ấy đã ở Corsica và Maghreb, rồi trở lại Pháp và gây nên tội theo như anh kể". Anh nhìn David ngồi run rẩy sau khi kể xong câu chuyện dài dòng lần đầu tiên được tiết lộ.
"Nhưng Robespierre giờ cũng đã chết. Không còn ai ở Pháp biết chuyện này ngoại trừ anh", anh nói với David. "Cô ấy có thể ở đâu chứ ? Tại sao cô ấy không quay về ?"
"Có lẽ chúng ta nên hỏi ý mẹ tôi", Napoleon đề nghị. "Như tôi đã nói, chính bà quen biết nữ tu, người bố trí toàn bộ ván cờ này chuyển động. Tôi biết chắc tên bà ấy là phu nhân de Roque".
"Nhưng bà ấy ở Nga mà !" Talleyrand kêu lên, thình lình xoay lại đối mặt với hai người kia khi nhận biết ý nghĩa việc đó. "Nữ hoàng Catherine Đệ nhất đã chết trong mùa đông vừa rồi, gần cả năm đã qua ! Và chuyện gì xảy ra cho nữ tu khi giờ đây Paul đang ngồi trên ngai vàng ?"
"Và những quân cờ, nơi cất giấu của chúng hẳn chỉ một mình bà ta biết ?" Napoleon nói thêm.
"Tôi biết một vài quân đã đi đâu", David nói, mở miệng lần đầu kể từ sau khi kết thúc câu chuyện kinh khủng của mình. Ông đang nhìn Talleyrand chăm chú khiến anh cảm thấy không yên. Liệu David có đoán ra Mireille ở đâu vào cái đêm cuối cùng cô nán lại Paris không ? Liệu Napoleon có đoán ra con chiến mã cừ khôi Mireille cưỡi khi anh và em gái anh chạm mặt cô tại phòng tuyến là của ai không ? Nếu biết ra, có lẽ họ cũng đoán được cô đã sắp đặt các quân cờ bằng vàng bạc của Bộ cờ Montglane thế nào trước khi rời khỏi Pháp.
Anh nhìn David chăm chú, khuôn mặt giả bộ thờ ơ trong lúc David tiếp lời.
"Robespierre trước khi chết vì ván cờ đã nói tôi biết cách lấy các quân cờ. Có một người phụ nữ đứng sau nó, Nữ Hoàng Trắng, người bảo hộ cho anh ta và Marat. Chính cô ả đã giết các nữ tu đến tìm Mireille, và tước đoạt các quân cờ của họ. Chúa mới biết giờ cô ta có trong tay bao nhiêu quân và liệu Mireille có biết mối nguy hiểm về người đó không. Nhưng các cậu biết. Dù cô ta cư trú ở Luân Đôn trong suốt giai đoạn khủng bố nhưng anh ta gọi cô là 'Người phụ nữ đến từ Ấn Độ"