Ngày bốn tháng tư năm 782, một lễ hội tưng bừng đã được tổ chức tại Đông cung ở Aachen kỷ niệm lần thứ bốn mươi ngày sinh của nhà vua Charlemagne vĩ đại. Ngài triệu tập toàn thể tầng lớp quý tộc đến chính điện, nơi có mái vòm chạm trổ và những bậc thang uốn quanh thành hàng, ngoài ban công xếp đầy những cây cọ nhập khẩu và được trang hoàng các vòng hoa lộng lẫy. Đàn hạc và đàn luýt réo rắt trong các đại sảnh giữa những chiếc đèn lồng bằng vàng và bạc. Các vị quần thần, xúng xính trong những bộ ngự bào màu tía, màu vàng và đỏ thẫm, đi đi lại lại giữa chốn thần tiên của các nghệ sĩ tung hứng, các anh hề, và những màn trình diễn múa rối). Gấu, sư tử, hươu cao cổ hoang dã và vài lồng bồ câu được đưa vào sân rồng. Cuộc vui tưng bừng nhộn nhịp kéo dài hàng tuần chờ đón sinh nhật nhà vua.
Đỉnh cao của lễ hội vào đúng ngày sinh nhật nhà vua. Sáng hôm ấy, Ngài ngự giá đến sân rồng chính điện với mười tám người con, hoàng hậu, và các cận thần được sủng ái ríu rít vây quanh. Charlemagne là một người cao lớn quá khổ với vẻ phong sương của một hiệp sĩ và một tay bơi lội. Làn da rám nắng, mái tóc và bộ râu hoe vàng dưới ánh mặt trời, trông Ngài hệt như chiến binh và là người cai trị vương quốc rộng lớn nhất thế giới. Khoác một tấm áo len dài giản dị có dây thắt ngang lưng cùng chiếc áo khoác bằng da lông chồn mactet vừa sát người và đeo thanh gươm muôn thuở, nhà vua băng qua sân rồng, hân hoan chào mừng thần dân và mời họ tự nhiên thưởng thức các món ăn thịnh soạn được dọn lên đầy ắp những chiếc bàn lớn quanh đại sảnh.
Nhà vua đã chuẩn bị một điều thú vị đặc biệt cho ngày trọng đại này. Là bậc thầy về chiến lược quân sự, ngài cực kỳ say mê một trò chơi. Trò chơi của chiến tranh, trò chơi của vua chúa, đó chính là môn cờ vua. Nhân dịp sinh nhật thứ bốn mươi của mình, Charlemagne đề nghị so tài với tay cờ xuất sắc nhất vương quốc, anh lính mang tên Garin Người Cương Trực.
Garin tiến vào sân rồng trong tiếng kèn trompet vang vang. Những nghệ sĩ nhào lộn nhảy nhót trước mặt anh còn các cô gái rải những lá cọ và cánh hoa hồng trên lối đi. Garin là một thanh niên mảnh khảnh, nước da xanh tái với sắc thái nghiêm trang và đôi mắt xám, anh là binh lính trong quân đội miền Tây. Anh quỳ xuống khi nhà vua đứng dậy chào đón anh.
Bộ quân cờ được đưa vào đại sảnh trên vai tám tên đầy tớ da đen mặc những bộ chế phục kiểu Ma-rốc. Những người hầu này và cả bàn cờ vua họ đang khiêng trên đầu là món quà do Ibn-al-Arabi, thủ lĩnh Hồi giáo của Barcelona gửi tặng để tỏ lòng cảm ơn sự trợ giúp của nhà vua trong cuộc chiến chống lại người Basque (miền Tây Pyrenees, thuộc Đông Bắc Tây Ban Nha) ở vùng núi Pyrenees bốn năm về trước. Chính trong quá trình lui binh của trận đánh vang danh ấy, người lính Hruoland được nhà vua quý mến đã tử trận tại đèo Roncesvalles (thị trấn Tây Ban Nha) ở Navarre (vùng lịch sử của Tây ban Nha, nằm kẹp giữa những dãy núi của Pyrenees và các ngọn núi Iberiques) và hóa thân thành nhân vật chính trong tác phẩm "Bài ca Roland". Do liên tưởng đến sự việc đau lòng đó nên nhà vua đã không bao giờ chơi trên bộ bàn cờ ấy nữa, và cũng không bao giờ mang nó ra trước mặt thần dân của mình nữa.
Cả triều đình lấy làm kinh ngạc trước vẻ tráng lệ của bộ cờ khi nó được đặt lên một chiếc bàn trong sân rồng. Mặc dù được chế tác dưới tay những bậc thầy thợ thủ công Ả Rập nhưng các quân cờ vẫn mang dấu tích tổ tiên Ấn Độ và Ba Tư. Vài người tin rằng môn cờ vua đã có mặt tại Ấn Độ hơn bốn trăm năm trước khi Chúa giáng thế và du nhập vào Ả Rập thông qua nước Ba Tư trong cuộc chinh phạt vào năm 640 sau Công nguyên.
Chiếc bàn cờ khảm toàn bạc và vàng, mỗi cạnh đo đúng một thước. Các quân cờ nạm đá quý sặc sỡ, nào là hồng ngọc, ngọc bích, kim cương và ngọc lục bảo chưa cắt gọt thành hình nhưng đã được đánh bóng trơn nhẵn, một vài viên ngọc to bằng trứng chim cút. Rực rỡ và lấp lánh trong ánh đèn cung điện, bên trong vật ấy dường như ngời lên một thứ ánh sáng có sức thôi miên người ngắm.
Quân Shah, hoặc còn gọi là quân Vua, cao mười lăm phân, mô tả hình ảnh một người đàn ông đội mũ miện cưỡi trên lưng voi. Quân Hậu, còn gọi là Ferz, ngồi trong một chiếc ghế kiệu có mái che đính châu báu. Quân Tượng là những con voi mang bộ yên cương nạm ngọc còn quân Mã là những con ngựa chiến Ả Rập. Quân Xe, hay quân cờ thấp, trong tiếng Ả Rập gọi là Rukhkh, có nghĩa là chiến xa; đó là những con lạc đà to lớn mang trên lưng những chiếc ghế hình tháp. Những quân Tốt, tức người đưa tin, như ngày nay chúng ta thường gọi, là những bộ binh khiêm nhường cao bảy phân có cặp mắt đính đá quý và những viên ngọc điểm xuyết trên chuôi gươm.
Charlemagne và Garin tiến đến bàn cờ từ hai phía. Rồi nhà vua giơ cao tay, nói những lời làm kinh ngạc những ai trong triều đình hiểu rõ Ngài.
"Trẫm đề nghị một cuộc đánh cờ”, giọng Người nghe rất lạ. Charles không phải người thích cá cược. Các cận thần lo ngại đưa mắt nhìn nhau.
''Nếu lính Garin của trẫm thắng cuộc, trẫm sẽ ban cho anh ta phần vương quốc từ Aachen đến dãy núi Pyrenees vùng Basque và gả đứa con gái đầu lòng của trẫm cho. Nếu thua cuộc, anh ta sẽ bị chém đầu ngay trên sân rồng này lúc rạng đông".
Triều đình một phen nhốn nháo hẳn lên. Ai cũng biết nhà vua rất yêu quý những đứa con gái của mình, yêu đến nỗi Ngài đã van xin họ đừng xuất giá chừng nào ông còn sống.
Người bạn thân thiết nhất của nhà vua, công tước Burgundy, nắm lấy cánh tay và kéo nhà vua sang một bên. "Kiểu cá cược gì vậy ?" công tước thì thầm. "Ngài cá cược chẳng khác gì một gã mọi rợ ngớ ngẩn !"
Charles ngồi xuống cạnh bàn, trông nhà vua cứ như bị thôi miên. Công tước hoang mang, chính Gardin cũng bối rối. Anh ta nhìn vào mắt công tước, rồi chẳng một lời, ngồi vào chỗ của mình bên bàn cờ, chấp nhận lời cá cược. Các quân cờ được phân chia và như gặp vận may, Garin chọn quân trắng, và anh ta được ưu tiên đi trước. Ván cờ bắt đầu.
Có lẽ do tình hình căng thẳng, nhưng trong lúc ván đấu diễn tiến, sự quả quyết và độ chính xác mà hai đấu thủ dồn vào các nước cờ vượt hơn tầm một cuộc đua tài thông thường, cứ như một bàn tay khác, vô hình, đang lượn lờ trên bàn cờ. Thậm chí đôi lúc như thể chính những quân cờ thực hiện nước đi. Bản thân các đấu thủ im lặng và mang sắc mặt tái nhợt, còn các vị cận thần lởn vởn quanh họ như những bóng ma.
Sau gần một giờ đồng hồ thi đấu, công tước Burgundy quan sát thấy cung cách của nhà vua khá kỳ lạ. Cặp lông mày nhíu lại, nhà vua có vẻ không tập trung tư tưởng và lơ đễnh. Cả Garin cũng bị ám ảnh bởi một tâm trạng bồn chồn đứng ngồi không yên, cử chỉ của anh ta nhanh và co giật, vầng trán lấm tấm mồ hôi. Cặp mắt hai người dán chặt vào bàn cờ như thể họ không thể rời mắt đi chỗ khác.
Bất thần Charles bật dậy, hét to, lật đổ bàn cờ và làm tất cả các quân cờ rơi vãi xuống sàn nhà. Vòng vây các vị cận thần lùi lại mở lối. Nhà vua nổi trận tam bành, một cơn thịnh nộ hãi hùng và kinh khiếp, Người vò đầu bứt tóc và đấm ngực thình thịch như một con thú hoang. Garin và công tước Burgundy lao đến bên cạnh nhà vua nhưng Ngài xua họ đi. Phải cần đến sáu cận thần mới kìm nổi nhà vua. Cuối cùng khi nhà vua đã dịu đi đôi chút, ông bối rối đưa mắt nhìn quanh như vừa bừng tỉnh sau giấc ngủ li bì.
"Bẩm bệ hạ", Garin nhỏ nhẹ nói và nhặt một trong số những quân cờ nằm dưới sàn nhà lên, trao cho nhà vua. "Có lẽ chúng ta nên hủy bỏ trận đấu này. Những quân cờ đã rối tung tất cả, và thần không thể nhớ nước đi nào cả. Thưa bệ hạ, thần ghê sợ bộ cờ cùa người Ma-rốc này. Thần tin nó đã bị ma quỷ ám, thế lực đen tối ấy đã buộc bệ hạ lấy sinh mệnh của thần ra cá cược".
Charlemagne ngả người ra sau ghế uể oải đặt một bàn tay lên trán nhưng không nói gì.
"Garin", Công tước Burgundy dè dặt nói, "ngươi biết nhà vua không mê tín kiểu ấy, và Người cho những điều dị đoan đó là dị giáo và mọi rợ. Người đã cấm thuật gọi hồn và tệ bói toán ở triều đình".
Charlemagne ngắt lời, nhưng giọng nói của nhà vua rất yếu như đã phải cố gắng đến kiệt sức. "Làm sao ta có thể đưa ánh sáng Thiên Chúa đến châu Âu khi binh lính trong chính quân đội của ta lại tin vào yêu thuật ?"
"Bùa phép này đã được sử dụng ở Ả Rập và khắp vùng phía Đông từ xa xưa", Garin đáp lại. "Thần không tin và cũng không hiểu nó, nhưng..." Garin cúi xuống sát nhà vua và nhìn vào đáy mắt ông "... người cũng cảm thấy nó mà”.
"Ta bị ngọn lửa cuồng nộ thiêu cháy", Charlemagne thú nhận. "Ta đã không thể tự kiềm chế bản thân. Trong người mang cảm giác như lúc mở màn trận đánh, ngay khi các binh sĩ xuất trận. Ta không thể giải thích được".
"Nhưng mọi vật trong khắp đất trời đều có nguyên do", một giọng nói cất lên sau lưng Garin. Anh quay lại, và đứng ở kia là người Ma-rốc da đen, một trong tám người đã khiêng bộ cờ vào triều. Nhà vua gật đầu ra hiệu cho người Ma-rốc nói tiếp.
“Từ nơi sinh ra, vùng Watar của chúng tôi, có một bộ tộc cổ mang tên Badawi, tức "cư dân của sa mạc". Theo truyền thống của những người này, những cuộc thách thức đẫm máu được xem là vinh dự nhất. Tục truyền rằng chỉ có sự cá cược đổ máu mới xua được Habb, giọt máu đen trong trái tim con người, giọt máu mà Tổng Thiên sứ Gabriel đã rút từ lồng ngực Muhammed. Ngài đã giao kèo một vụ đặt cược đổ máu trên chiếc bàn cờ này, đặt cược bằng sinh mệnh con người, dạng thức cao nhất của công lý. Muhammed nói, "Vương quốc chịu đựng được Kufr, sự bất trung với đạo Hồi, nhưng Vương quốc không thể chịu đựng được Zulm, sự bất công". '
"Một cuộc cá cược đẫm máu bao giờ cũng là một cuộc cá cược của cái ác", Charlemagne đáp lại. Garin và công tước Burgundy ngạc nhiên nhìn nhà vua, vì chẳng phải mói chỉ một giờ trước, chính nhà vua đã đề nghị một cuộc cá cược kiểu vậy đó sao ?
"Không !" người Ma-rốc ngang ngạnh nói. "Qua vụ đánh cá đẫm máu, người ta có thể đến được Ghutah, ốc đảo Thiên Đường trên trái đất. Nếu người ta đánh cá kiểu vậy trên bàn cờ của Shatranj, thì chính bản thân Shatranj sẽ đóng vai Sar !"
"Shatranj là tên mà người Ma-rốc đã đặt cho trò chơi cờ vua, thưa bệ hạ", Garin nói.
"Thế còn "Sar" là gì ?" Chalemagne hỏi và từ từ đứng dậy. Nhà vua rất cao lớn, cao hơn hẳn tất cả những người xung quanh ông.
"Đó là sự báo thù", người Ma-rốc trả lời tỉnh bơ. Anh ta cúi chào và lui đi.
"Chúng ta sẽ chơi lại", nhà vua tuyên bố. "Lần này sẽ không cá cược gì hết. Chúng ta chơi vì yêu thích trò chơi đơn giản. Những điều mê tín dị đoan ngớ ngẩn do bọn mọi rợ và con nít bịa ra kia thật chẳng có nghĩa lý gì". Các vị cận thần bắt đầu sắp lại bàn cờ. Những tiếng râm ran nhẹ nhõm lướt qua căn phòng. Charles quay về phía công tước Burgundy và nắm lấy cánh tay ông này.
"Có thật là Trẫm đã cá cược vậy sao ?" ông dịu dàng hỏi.
Công tước ngạc nhiên nhìn nhà vua. "Sao cơ, đúng vậy, bẩm bệ hạ", ông ta nói. "Bệ hạ không nhớ sao ?"
"Không", nhà vua buồn bã trả lời.
Charlemagne và Garin lại ngồi xuống chơi. Sau một ván đầu xuất sắc, Garin nổi lên chiến thắng. Nhà vua ban thưởng cho anh ta cơ ngơi Montglane ở Bas-Pyrenees và tước danh Garin de Montglane. Nhà vua mê tài chơi cờ bậc thầy của Garin đến mức ông ngỏ ý xây cho Garin một lâu đài để bảo vệ lãnh thổ mà anh ta đã giành được. Sau nhiều năm, nhà vua đã gửi cho Garin một món quà quý đặc biệt: bộ cờ kỳ diệu mà cả hai đã cùng chơi ván cờ trứ danh. Từ đó về sau, người ta gọi nó là "Bộ cờ Montglane".
★ ★ ★
"Đó là câu chuyện về tu viện Montglane", nữ tu viện trưởng kết thúc câu chuyện. Bà lướt mắt qua biển người im ắng ngồi dưới kia. "Sau nhiều năm, khi Garin de Montglane ngã bệnh hấp hối, anh ta hiến lâu đài của mình cho Nhà Thờ vùng lãnh thổ Montglane, về sau nó trở thành tu viện của chúng ta, và còn hiến cả bộ cờ vua nổi tiếng mang tên Bộ cờ Montglane".
Nữ tu viện trưởng ngừng giây lát, như thể không chắc có nên kể tiếp không. Cuối cùng bà nói tiếp.
"Nhưng Garin đã luôn tin rằng có một lời nguyền khủng khiếp liên quan đến Bộ cờ Montglane. Khá lâu trước khi sở hữu nó, anh ta đã nghe thấy nhiều lời đồn đại về những chuyện xấu xa có liên quan tới Bộ cờ Montglane. Người ta nói rằng, Charlot, cô cháu gái của chính hoàng đế Charlemagne, đã bị giết hại trong một trận đấu trên chính bàn cờ này. Đã có những câu chuyện lạ lùng về việc bộ cờ này góp phần gây ra những cuộc chém giết và bạo lực, thậm chí cả chiến tranh.
Tám người Ma-rốc da đen lúc trước chuyển bộ cờ từ Barcelona giao cho Charlemagne đã khẩn khoản xin được đến Montglane cùng bộ cờ. Và thế là nhà vua cho phép. Chẳng bao lâu sau, Garin cảm thấy chắc chắn nhóm người Ma-rốc có dính líu đến các nghi thức của những buổi dạ lễ bí hiểm đang được tổ chức trong lâu đài. Garin ngày càng sợ hãi phần thưởng mình có được, cứ như đó là công cụ của quỷ sứ. Anh ta cho chôn bộ cờ trong lâu đài và thỉnh cầu Charlemagne đặt một lời nguyền lên các bức tường để nó mãi mãi trụ vững. Nhà vua xem khẩn nài đó như một lời đùa giỡn và ông đáp ứng nguyện vọng của Garin theo cách riêng của mình. Thế nên ngày nay chúng ta mới thấy dòng chữ khắc trên cửa".
Nữ tu viện trưởng ngừng lại và trông có vẻ yếu ớt, xanh xao, bà đưa tay với lấy chiếc ghế sau lưng. Alexandrine đứng dậy và đỡ bà ngồi xuống.
"Còn bộ cờ vua ra sao, thưa Mẹ Bề Trên ?" một trong những nữ tu đứng tuổi ngồi ở hàng ghế đầu lên tiếng hỏi.
Nữ viện trưởng mỉm cười. "Ta đã nói với các con rằng cuộc sống của chúng ta sẽ lâm nguy nếu lưu lại tu viện này. Ta cũng đã nói với các con rằng binh lính của nước Pháp tìm cách tịch thu các kho báu của nhà thờ và quả thực bọn người đó hiện đang ở khắp nơi để thừa hành công vụ. Ta cũng đã nói thêm với các con rằng kho báu có giá trị cực kỳ to lớn và có thể chứa vô số điều xấu xa đã từng được chôn bên trong những bức tường của tu viện. Như vậy, các con sẽ chẳng lấy gì làm ngạc nhiên nếu ta tiết lộ điều bí mật mà ta đã thề giữ kín trong lòng khi mới đảm nhận chức vụ chính là bí mật của Bộ cờ Montglane. Nó vẫn còn được chôn giấu bên trong những bức tường và dưới sàn căn phòng này, và chỉ mình ta mới biết vị trí chính xác của mỗi một quân cờ. Các con của ta, sứ mệnh của chúng ta là phải di dời công cụ của cái ác này đi, phân tán chúng càng xa càng tốt, sao cho bộ cờ sẽ chẳng bao giờ được tập hợp lại trong tay bất cứ kẻ khao khát quyền lực nào. Bởi lẽ nó chứa đựng quyền năng vượt trội hơn cả quy luật của tự nhiên và sự hiểu biết của con người".
"Nhưng ngay cả nếu có đủ thì giờ để phá hủy những quân cờ này hay làm biến dạng chúng đến mức không thể nhận ra nữa, ta cũng sẽ không chọn cách đó. Một vật mang sức mạnh lớn lao như vậy cũng có thể dùng làm công cụ cho cái thiện. Vì lẽ đó, ta thề chẳng những giấu kín Bộ cờ Montglane mà còn bảo vệ nó nữa. Có thể một ngày nào đó, khi lịch sử cho phép, chúng ta sẽ lắp ráp những quân cờ này lại và khám phá bí mật ẩn chứa của chúng".
Mặc dù nữ tu viện trưởng biết vị trí chính xác của từng quân cờ nhưng tất cả các nữ tu trong tu viện đã phải nỗ lực gần hai tuần lễ mới hoàn thành việc khai quật Bộ cờ Montglane lên và lau sạch, đánh bóng hết các quân cờ. Cần đến bốn nữ tu mới nhấc nổi bàn cờ lên khỏi sàn nhà. Khi nó đã được lau chùi, người ta thấy những biểu tượng kỳ lạ được cắt hoặc khắc nổi trên từng ô vuông. Những biểu tượng tương tự cũng được chạm trổ sau lưng mỗi quân cờ. Và còn một tấm khăn được cất trong chiếc hộp kim loại lớn, bốn góc hộp được hàn bằng sáp cứng, rõ ràng để chống mốc. Tấm khăn bằng vải nhung xanh đậm, chằng chịt những đường chỉ vàng thêu tay và đính đầy châu báu giống biểu tượng cung hoàng đạo. Ngay giữa tấm khăn có hai hình xoắn vào nhau như hai con rắn, ghép đôi tạo thành số tám. Nữ viện trưởng tin rằng tấm khăn này đã được dùng bao phủ Bộ cờ Montglane để tránh cho nó khỏi bị hư hại khi vận chuyển.
Gần cuối tuần thứ hai, nữ tu viện trưởng bảo các xơ chuẩn bị sẵn sàng để lên đường. Bà sẽ hướng dẫn riêng cho từng người về địa điểm họ được phải đến để không xơ nào biết được vị trí của những người khác. Như vậy có thể giảm bớt rủi ro cho từng người. Vì Bộ cờ Montglane có ít quân hơn số lượng các xơ trong tu viện nên không người nào, trừ nữ tu viện trưởng, biết ai có giữ một phần bộ cờ còn ai thì không.
Khi Valentine và Mireille được gọi vào văn phòng của nữ tu viện trưởng thì bà đang ngồi sau chiếc bàn giấy đồ sộ. Bà bảo họ ngồi vào chỗ đối diện bà. Trên bàn đặt Bộ cờ Montglane bóng loáng, một phần được phủ tấm khăn thêu xanh đậm.
Nữ tu viện trưởng đặt cây bút sang một bên rồi ngước mắt nhìn lên. Mireille và Valentine ngồi, tay trong tay, khắc khoải chờ đợi.
"Kính thưa Mẹ Bề Trên", Valentine buột miệng, "giờ đây con muốn Mẹ biết rằng con sẽ nhớ Mẹ rất nhiều khi phải ra đi, và con nhận ra rằng con đã là một gánh nặng to lớn đối với Mẹ. Con ước chi lúc trước mình đã ngoan hơn và gây cho mẹ ít phiền muộn hơn..
"Valentine", nữ tu viện trưởng mỉm cười và nói trong khi Mireille cấu vào sườn Valentine để cô này ngồi im. "Con muốn nói gì ? Con sợ con sẽ bị tách khỏi chị Mireille của con đúng không ? Phải chăng đó là nguyên nhân của những lời xin lỗi muộn màng kia ?" Valentine kinh ngạc trố mắt nhìn, tự hỏi làm thế nào nữ tu viện trưởng đọc được ý nghĩ của cô.
"Lẽ ra ta không nên hỏi", nữ tu viện trưởng nói tiếp. Bà đưa một tờ giấy qua bên kia chiếc bàn gỗ anh đào cho Mireille. "Đây là tên và địa chỉ của người giám hộ sẽ chịu trách nhiệm chăm sóc các con, và bên dưới ta có ghi rõ những lời chỉ dẫn đã dàn xếp cho cả hai con".
"Cả hai", Valentine reo lên, khó có thể ngồi yên tại chỗ. "Ôi, Mẹ Bề Trên kính mến, Mẹ đã thỏa mãn điều mong ước thiết tha nhất của con !"
Nữ viện trưởng bật cười. "Nếu ta không gửi các con đi cùng nhau, Valentine à, ta cảm thấy chắc chắn rằng một tay con sẽ tìm cách phá hủy mọi kế hoạch mà ta đã dày công thu xếp, chỉ để vẫn được ở bên cạnh chị con. Ngoài ra, ta có lý do chính đáng để gửi các con đi cùng nhau. Chú ý lắng nghe đây. Mỗi một nữ tu ở tu viện này đều được lo liệu. Những ai có gia đình nhận trở lại sẽ được đưa về nhà. Trong một vài trường hợp, ta tìm bạn bè hoặc bà con xa cho các con nương tựa. Nếu lúc trước các con đến đây có đem theo của hồi môn, ta sẽ hoàn trả lại để lấy cái sinh sống và tự vệ. Nếu không có vốn liếng gì, ta sẽ gửi sang một tu viện đáng tin cậy ở nước khác. Trong mọi trường hợp, chi phí sinh hoạt và đi lại sẽ được chu cấp đầy đủ để bảo đảm cuộc sống cho các con của ta". Nữ tu trưởng chắp tay lại và tiếp tục. "Nhưng con quả là may mắn về nhiều phương diện, Valentine à", bà nói, "Ông ngoại con đã để lại một khoản tiền thừa kế rất lớn. Ta đã dành riêng cho cả hai, con và chị họ Mireille của con. Ngoài ra, dù không có gia đình nhưng các con có một người cha đỡ đầu nhận gánh vác trách nhiệm lo lắng cho hai con. Ta đã nhận được giấy cam kết rằng ông ta sẵn lòng thay mặt các con làm mọi chuyện. Điều đó đưa đến vấn đề thứ hai, một vấn đề cực kỳ quan trọng".
Mireille đưa mắt nhìn Valentine khi nữ tu viện trưởng nói về một người cha đỡ đầu, và lúc này cô nhìn xuống tờ giấy cầm trong tay nữ tu viện trưởng viết hoa dòng chữ, "M. Jacques-Louis David họa sĩ", và ghi địa chỉ tại Paris bên dưới. Trước giờ cô không biết Valentine có một người cha đỡ đầu.
"Ta nhận ra", nữ tu viện trưởng tiếp lời, "khi biết ta đã đóng cửa tu viện, những kẻ ở Pháp sẽ rất phật lòng. Nhiều người trong chúng ta sẽ gặp nguy hiểm, nhất là mối đe dọa từ những người như Giám mục xứ Autun, kẻ mong muốn được biết chúng ta đã đào và lấy mang đi vật gì khỏi những bức tường thành. Các con thấy đó, dấu vết hành động của chúng ta không thể xóa bỏ hoàn toàn được. Có thể có người bị săn lùng và bắt được. Có thể họ cần phải lẩn trốn. Vì chuyện này, ta đã lựa chọn tám người trong chúng ta, mỗi người trong số đó sẽ giữ một quân của bộ cờ này, đồng thời đóng vai trò điểm tập hợp, là nơi những người khác có thể để lại quân cờ nếu họ phải lẩn trốn. Hoặc để hướng dẫn chỉ cách tìm ra quân cờ ấy. Valentine, con là một trong số tám người đó".
"Con !" Valentine thốt lên. Cô khó nhọc nuốt nước miếng vì cổ họng bỗng trở nên khô rát. "Nhung thưa Mẹ Bề Trên tôn kính, con không là... Con không..."
"Con định nói con không thể là một người trụ cột chịu trách nhiệm chính", nữ tu viện trưởng nói và bất giác nở nụ cười. "Ta biết điều đó, và ta trông cậy người chị họ chắc chắn của con sẽ giúp ta giải quyết vấn đề này". Bà đưa mắt nhìn Mireille, và cô này gật đầu đồng ý.
"Ta lựa chọn tám người, không chỉ căn cứ vào khả năng", nữ tu viện trưởng nói tiếp, "mà còn dựa vào vị trí chiến lược của họ. Cha đỡ đầu của các con, ông David, sống ở Paris, trung tâm của bàn cờ là nước Pháp. Với tư cách một danh họa nổi tiếng, ông ta có được sự tôn kính và thân thiện của tầng lớp quý tộc, nhưng ông cũng là thành viên Quốc hội và được một số người xem như phần tử cách mạng nhiệt thành. Ta tin ông ấy ở vào vị thế có thể bảo vệ hai con trong mọi trường hợp cần thiết. Và ta đã góp cho ông ấy một khoản dư dả chăm sóc các con để tạo động lực cho ông ta làm việc này",
Nữ tu trưởng nheo mắt nhìn kỹ hai nữ tu trẻ tuổi đối diện, "Đây không phải một lời thỉnh cầu, Valentine", bà nói một cách dứt khoát. "Các chị em đạo hữu của con có thể gặp rắc rối, và con ở vị trí có thể giúp đỡ họ. Ta đã ghi tên và địa chỉ của con cho một số người đã lên đường về quê quán của họ. Các con sẽ đi Paris và làm như ta nói. Các con có mười lăm năm, đủ thời gian để biết trên đời còn những thứ quan trọng hơn cả sự thỏa mãn những ước vọng tức thời của con người", Nữ tu viện trưởng nói giọng nghiêm nghị nhưng nét mặt của bà nhìn Valentine vẫn dịu dàng như mọi khi. "Vả lại, Paris không phải là một địa điểm tồi", bà nói thêm.
Valentine mỉm cười lại với nữ tu viện trưởng. "Đúng vậy, thưa Mẹ Bề Trên tôn kính", cô đồng ý. "Một điều chắc rằng nơi đó có trình diễn nhạc kịch, và có lẽ sẽ có những bữa tiệc, các quý bà mặc y phục đẹp đẽ như người ta đồn", Miereille lại cấu sườn Valentine. "Ý con là, con xin cảm ơn Mẹ tôn kính đã đặt lòng tin quý báu vào đứa con trung thành của mẹ". Nghe vậy, nữ tu viện trưởng bật ra một tràng cười vui vẻ, khác với tính bà trước giờ.
"Tốt lắm, Valentine. Cả hai con có thể đi thu xếp đồ đạc. Các con sẽ lên đường rạng sáng mai, đừng chậm trễ". Nữ tu trưởng dứng dậy, nhấc hai quân cờ nặng trịch từ chiếc bàn cờ và đưa cho hai nữ tu tập sự.
Valentine và Mireille lần lượt hôn chiếc nhẫn của nữ tu viện trưởng và hết sức thận trọng mang vật báu ra cửa phòng làm việc. Khi họ sắp đi, Mireille, im lặng từ khi bước vào phòng đến giờ, mới quay lại nói.
"Con xin được phép hỏi, thưa Mẹ Bề Trên tôn kính", cô nói, "Mẹ sẽ đi đâu ? Chúng con muốn được nghĩ về Mẹ và gửi đến Mẹ những lời chúc tốt đẹp bất kể Mẹ ở đâu",
"Ta sẽ lên đường làm một cuộc hành trình mà ta đã mong ngóng từ hơn bốn mươi năm nay", nữ tu viện trưởng đáp. "Ta có một người bạn chưa gặp lại từ thuở thiếu thời. Trong nhiều năm tháng, các con biết đấy, đôi khi Valentine gợi ta nhớ rất nhiều về cô bạn niên thiếu ấy. Ta nhớ cô ấy là người rất sôi nổi, đầy sức sống...". Nữ tu viện trưởng tạm ngừng và Mireille nghĩ nếu một người trang nghiêm như Mẹ có thể nói những lời đó, hẳn bà tiếc nuối buồn bã lắm.
"Bạn của Mẹ sống ở Pháp sao, thưa Mẹ Bề Trên tôn kính ?" cô hỏi.
"Không", nữ tu viện trưởng đáp. "Bà ấy hiện sống ở Nga".
❀ ❀ ❀
Sáng sớm hôm sau, trong ánh sáng lờ mờ u ám, hai người phụ nữ khoác trang phục đi đường rời khỏi Tu viện Montglane và trèo lên chiếc xe ngựa chất đầy cỏ khô. Chiếc xe đi qua cánh cổng cao vòi vọi và bắt đầu băng qua những hẻm núi. Một làn hơi sương mờ dâng lên, che khuất tầm nhìn khi họ đi xuống thung lũng xa dưới kia.
Họ hoảng sợ và kéo áo choàng quanh người, cảm thấy thật biết ơn vì đang được thừa hành một sứ mệnh của Chúa khi trở về cõi trần tục xa cách từ lâu.
Nhưng chẳng phải Đức Chúa đang lặng lẽ quan sát họ từ ngọn núi khi chiếc xe ngựa từ từ lăn bánh đi xuống lòng thung lũng tối tăm dưới kia sao ? Ở đỉnh núi tuyết nằm tít phía trên tu viện có một kỵ sĩ cưỡi trên lưng con ngựa gầy còm. Người kỵ sĩ dõi theo đến khi cỗ xe biến mất trong đám sương mù dày đặc. Rồi anh ta lặng thinh quay ngựa bỏ đi.