CHÍN GIỜ SÁNG

Bí Ẩn Bộ Cờ Montglane

Lượt đọc: 108 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hy Sinh
Paris. Ngày Hai Tháng Chín Năm 1792

❊ ❊ ❊

Không ai biết trước ngày hôm nay sẽ thế nào.

Germaine de Stael không biết khi chào tạm biệt nhân viên tòa đại sứ. Hôm nay, ngày hai tháng chín, cô sẽ cố gắng trốn khỏi Pháp bằng giấy thông hành ngoại giao.

Jacques-Louis David không biết khi ông hấp tấp thay trang phục đến dự phiên họp khẩn của Quốc hội. Hôm nay, ngày hai tháng chín, quân địch đã tiến đến trong vòng 150 dặm của Paris. Quân Phổ đe dọa thiêu đốt thành phố thành tro tàn.

Maurice Talleyrand không biết khi anh ta và người hầu Courtiade lôi chồng sách bọc da quý giá xuống khỏi kệ trong phòng làm việc. Hôm nay, ngày hai tháng chín, anh ta dự định lén chuyển thư viện vô giá này ra khỏi biên giới Pháp để chuẩn bị cho chuyến đi sắp tới của riêng anh.

Valentine và Mireille không biết khi đi dạo trong tiết trời mùa thu ngoài khu vườn phía sau xưởng vẽ của David. Bức thư họ vừa nhận được cho biết những quân cờ đầu tiên của Bộ cờ Montglane gặp nguy hiểm. Họ không thể đoán ra chẳng mấy chốc bức thư sẽ khiến họ rơi vào tâm cơn bão biến loạn chính trị sắp quét qua nước Pháp.

Không ai biết được năm giờ nữa, vào lúc hai giờ chiều ngày hai tháng chín, sự kinh hoàng sẽ bắt đầu.

Valentine đu đưa ngón tay trong chiếc hồ nhỏ phía sau xưởng vẽ của David. Một chú cá vàng lớn rỉa tay cô. Cách chỗ cô ngồi không xa, cô và Mireille đã chôn giấu hai quân cờ của bộ cờ họ đã đem theo từ tu viện Montglane. Và giờ có lẽ nhiều quân khác cũng đã được chôn.

Mireille đứng cạnh cô, đọc lá thư. Quanh họ hoa cúc lấp lánh sắc tím vàng mờ ảo trong tán lá. Những chiếc lá vàng đầu tiên rung rinh trên mặt nước, tạo ra hương vị mùa thu, bất chấp hơi ấm hè muộn còn vương lại.

"Chỉ có một lời giải thích cho bức thư này", Mireille nói và đọc lớn:

Các chị em đạo hữu thân mến,

Như các chị biết, tu viện Caen đã bị đóng cửa. Trong suốt cuộc náo động khủng khiếp xảy ra ở Pháp, viện trưởng của chúng tôi, bà Alexandrine de Forbin, thấy cần gia nhập vào khu Flanders. Thế nhưng xơ Marie-Charlotte Corday, chắc các chị còn nhớ, vẫn nán lại ở Caen để đề phòng bất trắc có thể xảy ra.

Dù chúng ta chưa từng gặp gỡ nhưng tôi xin tự giới thiệu. Tôi là xơ Claude, nữ tu của tu viện tại Caen trước đây. Tôi là thư ký riêng của xơ Alexandrine, xơ Alexandrine vài tháng trước đã ghé qua, nán lại một thời gian tại viện của tôi ở Épemay trước khi khởi hành đi Flanders. Lúc đó, người giục tôi đích thân chuyển tin đến xơ Valentine, cho biết tôi sẽ sớm đến Paris vào bất cứ lúc nào.

Tôi hiện ở khu vực Cordeliers của thành phố. Xin hãy đến gặp tôi tại cổng tu viện l'Abbaye vào đúng hai giờ chiều nay, vì tôi không biết mình sẽ lưu lại đây bao lâu. Tôi nghĩ các chị hiểu được tầm quan trọng của lời đề nghị trên.

- Người đồng đạo 

Xơ Claude của tu viện aux Dames, tại Caen”

"Chị ấy đến từ Épernay", Mireille nói khi đọc xong bức thư. "Đó là thành phố nằm phía đông của nơi này, trên sông Marne. Chị ta khẳng định xơ Alexandrine de Forbin dừng ở đó trên đường đến Flanders. Em có biết cái gì nằm giữa Epernay và biên giới Flemish không ?"

Valentine lắc đầu, nhìn Mireille với đôi mắt mở to.

"Pháo đài Longwy và Verdun ở đó, cùng một nửa quân đội Phổ. Có lẽ xơ Claude mang cho chúng ta thứ đáng giá hơn cả tin tốt lành của xơ Alexandrine de Forbin. Có lẽ chị ấy mang cho chúng ta thứ mà xơ Alexandrine thấy quá nguy hiểm khi mang theo bên mình lúc băng qua biên giới Flemish có các quân đội đang gây chiến".

"Các quân cờ !" Valentine thốt lên, bật dậy và làm chú cá vàng hoảng sợ. "Bức thư nói xơ Charlotte Corday vẫn nán lại Caen ! Caen có thể là điểm tập hợp ở biên giới phía Bắc". Cô ngừng lại suy nghĩ thông suốt. "Nhưng nếu vậy", cô lưỡng lự nói thêm, "tại sao xơ Alexandrine cố đi đến hướng Đông nước Pháp ?"

"Chị không biết", Mireille thừa nhận, kéo mái tóc đỏ ra khỏi sợi ruy băng và cúi xuống hồ té nước lên khuôn mặt nóng bừng. "Chúng ta sẽ không bao giờ biết bức thư có nghĩa gì, trừ khi đến gặp xơ Claude theo giờ đã hẹn. Nhưng tại sao chị ấy lại chọn Cordeliers, một khu vực nguy hiểm nhất của thành phố ? Và em có biết l’Abbaye không còn là tu viện nữa không. Nó đã bị biến thành nhà tù".

"Em không sợ đến đó một mình", Valentine nói. "Em đã hứa với nữ tu viện trưởng sẽ đảm đương trách nhiệm này, và giờ là lúc chứng minh điều đó. Nhưng chị phải ở lại đây, chị của em. Bác Jacques-Louis đã cấm chúng ta rời khỏi nhà khi bác đi vắng".

"Vậy thì chúng ta sẽ phải rất khôn khéo để trốn thoát", Mireille đáp. "Chị không bao giờ để em đến Cordeliers mà không có chị theo. Em có thể tin chắc điều đó".

MƯỜI GIỜ SÁNG

Chiếc xe ngựa của Germaine de Stael lướt qua cánh cổng tòa đại sứ Thụy Điển. Phía trên nóc xe chất nhiều rương hòm và hộp tóc giả, có người đánh xe và hai đầy tớ mặc chế phục bảo vệ. Trong xe Germaine ngồi thu Iu với người thị nữ và nhiều trang sức. Cô ta mặc trang phục trịnh trọng của một vị phu nhân đại sứ, đầy ruy băng và huy hiệu sặc sỡ. Sáu con bạch mã băng qua đường phố đã bốc hơi nước của Paris, đi về hướng cổng thành phố. Phù hiệu rực rỡ của chúng mang màu sắc quốc kỳ Thụy Điển. Những cánh cửa xe trang trí huy hiệu vương miện Thụy Điển. Rèm cửa sổ được buông xuống.

Chìm đắm vào suy tư trong hơi nóng ngột ngạt và bóng tối của chiếc xe, Germaine không nhìn ra cửa sổ đến khi không hiểu vì sao, chiếc xe đột ngột ngừng lại chao đảo trước khi đến cổng thành phố. Người thị nữ cúi người mở khung kính trượt của cửa sổ.

Bên ngoài, một đám phụ nữ ăn mặc rách rưới tụ tập xung quanh, xách cào cuốc như để làm vũ khí. Nhiều cái liếc mắt đểu cáng lướt nhìn Germaine qua cửa sổ, những đôi môi kinh khiếp như những hố đen lởm chởm hàm răng xỉn màu và thưa thớt. Sao đám tiện dân luôn có cái nhìn ti tiện đến vậy ? Germaine nghĩ thầm. Cô bỏ hàng giờ dốc sức vào mưu đồ chính trị, chi khoản của cải kếch xù để đút lót cho những người quyền cao chức trọng, và tất cả vì lợi ích của đám người khốn khổ bất hạnh này. Germaine ngả người ra cửa sổ, một cánh tay đồ sộ đặt trên mép cửa.

"Chuyện gì xảy ra vậy ?" cô nói to giọng kẻ cả. "Để xe của ta qua ngay lập tức"

"Không ai được phép rời thành phố" người phụ nữ trong đám đông hét lên. "Chúng tôi canh giữ cổng thành ! Bọn quý tộc phải chết !" Lời nói đó kêu gọi đám đông tụ tập càng ngày càng đông. Những con mụ xấu xí la thất thanh làm Germaine muốn điếc tai trong cảnh huyên náo.

"Ta là nữ đại sứ Thụy Điển !" cô la lớn. "Ta đang sang Thụy Sĩ thi hành nhiệm vụ chính thức ! Ta ra lệnh các ngươi để xe của ta qua"

"Ha ! Mụ ra lệnh đấy !" người phụ nữ gần cửa sổ xe ngựa hét lớn. Bà ta quay lên trên Germaine và phun nước miếng vào mặt cô trong lúc đám đông reo hò phấn khởi.

Germaine rút chiếc khăn tay viền ren ra khỏi vạt áo và lau nước miếng. Ném chiếc khăn ra ngoài cửa sổ, cô hét, "Đó là chiếc khăn của cô con gái ngài Jacques Necker, bộ trưởng tài chính mà các người yêu quý và tôn kính. Nó dính đầy nước miếng của bọn dân đen... Đồ súc vật !" cô nói, quay sang người thị nữ đang run bắn trong góc xe. "Chúng ta sẽ thấy ai mới làm chủ tình hình".

Nhưng đám phụ nữ đã tháo ngựa ra khỏi ách. Thay vào đó, họ vào chỗ đóng yên cương ngựa, bắt đầu kéo xe qua các con phố, đi xa khỏi cổng thành. Đám lúc nhúc đã lớn thành một bầy người đông kinh khủng. Giờ họ đẩy xe, lôi nó đi từ từ như đàn kiến tha mẩu bánh.

Germaine bấu chặt cứng vào cánh cửa, lớn tiếng la hét nguyền rủa và đe dọa những người ngoài cửa sổ một cách cực kỳ tàn bạo, nhưng tiếng gào của đám người đã át đi tiếng cô. Sau một hồi như thể vẫn đứng yên, chiếc xe ngựa dừng trước mặt tiền uy nghi của tòa nhà to lớn bao quanh có lính canh. Khi Germaine trông thấy nơi họ đưa cô đến, bao tử cô lạnh cóng. Họ đưa cô đến tòa Ville, trụ sở chính của Công xã Paris.

Theo như Germaine biết, công xã Paris còn nguy hiểm hơn nhiều so với đám dân đen vây lấy xe ngựa cô. Chúng là những kẻ điên. Ngay cả các thành viên Quốc hội cũng sợ chúng. Đại biểu là những kẻ đến từ đường phố Paris, chúng bỏ tù, xét xử và hành hình những thành viên giới quý tộc một cách vội vã trái với tư tưởng tự do. Đổi với chúng, Germaine de Stael chỉ là đại diện cho kẻ quý tộc nữa sắp bị máy chém chặt thành hai khúc. Và cô biết điều đó.

Cánh cửa của chiếc xe ngựa bị cạy ra, và Germaine bị lôi kéo xuống đường bởi những bàn tay bẩn thỉu. Đứng thẳng lên, cô trừng mắt nhìn đám đông. Phía sau lưng, người hầu của cô mấp máy môi sợ hãi khi đám đông lôi họ xuống khỏi xe ngựa và xô đẩy thô bạo bằng chổi và cán xẻng. Bản thân Germaine gần như lê lết lên những bậc thang đầy rác của tòa Ville. Cô thở dốc khi một gã bất chợt nhảy lên trước và chĩa đầu ngọn giáo sắt nhọn dưới ngực cô, rạch một nhát lên chiếc áo đại sứ của cô. Một mảnh rách ra và áo sắp tuột. Cô nín thở khi một viên cảnh sát tiến lên dùng kiếm đẩy ngọn giáo sang một bên. Dùng tay đỡ cô lên, anh ta xô mạnh cô vào lối vào tối tăm của tòa Ville.

MƯỜI MỘT GIỜ SÁNG

Vất vả lắm David mới đến được phòng họp Quốc hội. Căn phòng to lớn ngập tràn đến tận nóc những kẻ la hét inh ỏi. Người thư ký đang đứng ở bục trung tâm, hét lớn để mọi người nghe được ông ta. Khi David kiếm đường băng qua để đến chỗ ngồi, ông ta mới có thể nghe thấy người phát biểu đang nói gì.

"Ngày hai mươi ba tháng tám, pháo đài ở Longwy đã thất thủ, rơi vào tay kẻ địch ! Công tước xứ Brunswick, chi huy đội quân nước Phổ, đưa ra một bản tuyên ngôn yêu cầu chúng ta phóng thích vua và khôi phục lại tất cả quyền lực hoàng gia, bằng không quân đội ông ta sẽ san bằng cả thành phố Paris này !"

Tiếng ồn dâng trào như cơn sóng cuốn đi viên thư ký và dìm những lời ông ta nói. Mỗi lần đợt sóng đó hơi lắng xuống, ông ta mới cố nói tiếp.

Quốc hội đưa quyền lực nhỏ bé lên khắp nước Pháp chỉ trong thời gian cầm tù nhà vua. Nhưng bản tuyên ngôn Brunswick đã yêu cầu thả đức vua Louis XVI để viện cớ đó cho quân đội Phổ xâm lược Pháp. Bị bao vây bởi những món nợ thúc ép và sự đào ngũ của đông đảo binh sĩ trong quân đội Pháp, chính phủ mới lên nắm quyền chưa bao lâu đã rơi vào mối nguy chẳng mấy chốc sẽ bị lật đổ. Tình hình càng trở nên tồi tệ khi từng đại biểu ngờ vực người khác mưu phản, câu kết thông đồng với đám giặc đang đánh nhau ngoài biên cương. David nảy ra suy nghĩ khi trông thấy người thư ký cố chống chọi để giữ trật tự rằng chính nội bộ bất ổn là nguyên nhân gây ra tình trạng vô chính phủ này.

"Các vị !" viên thư ký hét lên. "Tôi cho các vị biết tin khủng khiếp đấy ! Pháo đài ở Verdun, sáng nay, đã rơi vào tay quân Phổ rồi ! Chúng ta phải cầm vũ khí lên chiến đấu chống trả..”

Quốc hội tràn ngập cơn hãi hùng quá khích. Hỗn loạn vỡ tan khắp nơi, và người ta nhốn nháo như chuột bị dồn vào chân tường. Pháo đài ở Verdun là thành lũy cuối cùng ngăn cách quân thù với Paris ! Quân Phổ có thể tiến đến cổng thành phố đêm nay.

David ngồi lặng thinh tại chỗ, dỏng tai lắng nghe. Những lời của người thư ký hoàn toàn bị mất hút trong cơn chấn động. David có thể trông thấy môi anh ta cử động nhưng tiếng nói đã bị lấn át, không nghe được gì trong mớ hỗn thanh loạn xạ đủ giọng nói xung quanh.

Quốc hội trở thành một đám điên cuồng sôi sùng sục xáo động. Từ trên cùng, đám đông lộn xộn ném giấy và trái cây xuống những người ôn hòa ngồi phía cuối. Nhóm người Girondin khoác những chiếc áo có cổ tay viền ren, những người từng được xem là theo Đảng tự do, ngước lên, khuôn mặt cắt không còn giọt máu, tái xanh sợ hãi. Họ mang tiếng là những người theo chế độ quân chủ cộng hòa, ủng hộ ba thứ sau: giới quý tộc, giới tăng lữ và giai cấp tư sản. Giờ đây bản tuyên ngôn Brunswick được ban hành, cuộc sống của những người này rơi vào nguy hiểm trầm trọng nhất ngay cả ở đây, trong Quốc hội. Và họ biết điều đó.

Những ai ủng hộ việc phục hồi ngai vàng của đức vua có thể chính là những kẻ bị giết trước cả khi quân Phổ tràn đến cổng thành phố Paris.

Hiện Danton bước lên bục thay vào chỗ người thư ký giờ đã bước qua một bên. Danton, người có tiếng trong Quốc hội, với cái đầu to và thân người lực lưỡng, mũi gãy và môi bị biến dạng sau khi sống sót trước cú đá của một con bò thời thơ ấu. Ông giơ bàn tay to lớn lên yêu cầu mọi người trật tự.

"Các vị ! Với tư cách là người đứng đầu của một nhà nước tự do, tôi xin công bố với các vị rằng đất nước chúng ta cần được bảo vệ ! Tất cả nhiệt tình, hừng hực khí thế tham gia đấu tranh..

Gian phòng và lối đi giữa các hàng ghế của hội trường Quốc hội to lớn, mọi người đứng thành nhóm và từng người cảm giác như nín lặng khi họ nghe những lời kêu gọi thức tỉnh của người đứng đầu chính quyền. Danton kêu gọi họ tiến lên, hô hào họ phải mạnh mẽ không được hèn nhát, khích họ nổi loạn chống lại cơn triều cường quét qua Paris. Ông ta đánh thức và kích thích họ cao độ, yêu cầu họ phòng thủ bảo vệ nước Pháp, trang bị sự cố thủ, bảo vệ cổng thành phố với thương giáo. Nhiệt tình hăng hái của bài diễn văn nhóm lên ngọn lửa nhiệt huyết trong lòng người nghe. Chẳng mấy chốc hội trường Quốc hội vang lên những tràng pháo tay và tiếng la hét, ngắt quãng từng lời thốt ra từ miệng ông ta.

"Tiếng hét chúng ta nghe không phải báo động nguy hiểm mà nó ra mệnh lệnh, chỉ thị chống lại kẻ thù của nước Pháp... Chúng ta phải dám đương đầu, đương đầu một lần nữa, luôn luôn đương đầu - và nước Pháp phải được bảo vệ !"

Quốc hội ầm ĩ. Sự náo loạn xảy ra tiếp sau đó khi người ta ném giấy lên không trung và hét lớn: "Hãy can đảm ! Hãy can đảm ! Dám đương đầu, dám đương đầu !"

Khi sự huyên náo lắng xuống, đôi mắt David lướt qua khắp gian phòng và dừng lại ở một người. Một người mảnh mai, xanh xao khoác trên mình khăn choàng lụa mỏng đúng nghi thức, chiếc áo đuôi tôm phẳng phiu và bộ tóc giả được trang trí chăm chút. Một người trẻ tuổi, khuôn mặt lạnh lùng và đôi mắt xanh ngọc lóe sáng như mắt rắn.

David quan sát người đàn ông xanh xao ấy ngồi lặng lẽ, không phản ứng với những lời kêu gọi của Danton. Và khi nhìn gã đó, David biết chỉ duy một điều mới có thể cứu được quốc gia, xâu xé bởi hàng trăm bè phái xung khắc, vỡ nợ, và bị đe dọa bởi hàng tá chính quyền thù địch ngoại bang. Điều nước Pháp cần không phải trò đạo đức giả của một Danton hay Marat. Nước Pháp cần một vị lãnh tụ. Một người tìm thấy sức mạnh trong im lặng đến khi khả năng anh ta cần thiết bộc lộ. Một người trên đôi môi mỏng nhợt nhạt phát ra cụm từ "đức hạnh" nghe ngọt ngào hơn lòng tham hay danh tiếng. Một người sẽ khôi phục lại mô hình lý tưởng tự nhiên, chân chất của Jean-Jacques Rousseau vĩ đại (1712-1778, nhà triết học thuộc trào lưu khai sáng, có ảnh hưởng lớn đến CM Pháp), những điều mà Cách mạng đã dựa theo. Một người ngồi trong gian phòng này là vị lãnh đạo đó. Tên ông ta là Maximilien Robespierre.

MỘT GIỜ CHIỀU

Germaine de Stael ngồi trên ghế dài làm bằng gỗ cứng đặt trong văn phòng Công xã Paris. Cô đã ngồi đó hơn hai giờ đồng hồ. Khắp nơi những người lo lắng không yên đứng thành nhóm, không nói lời nào. Vài người ngồi trên ghế dài kế bên cô, và những người khác ngồi xuống sàn. Qua cánh cửa để mở bên kia căn phòng được biến thành phòng chờ này, Germaine có thể thấy những bóng người di chuyển, đóng dấu lên giấy tờ. Thỉnh thoảng có người bước ra xướng lên một cái tên. Người được gọi tên trông tái mét, những người khác sẽ vỗ lên lưng người đó với những lời khẩn nài thì thầm "can đảm lên", rồi người được gọi sẽ biến mất sau cánh cửa.

Tất nhiên cô biết chuyện gì đang xảy ra phía sau cánh cửa. Những thành viên Công xã Paris đang tiến hành kiểm tra lý lịch. "Bị cáo", người có thể bị buộc tội về không gì khác ngoài dòng dõi tổ tiên, sẽ bị tra hỏi vài câu về thân thế và lòng trung thành đối với đức vua. Nếu có chút phản động, người đó sẽ máu đổ đầu rơi ngay trên đường phố Paris vào lúc rạng đông. Germaine không tự gạt bản thân về số phận của mình. Cô chỉ có duy một hy vọng, và cô nuôi suy nghĩ đó khi đang chờ đợi định mệnh sắp đến: họ sẽ không chém đầu một phụ nữ có thai.

Trong lúc Germaine chờ đợi sờ tay lên dải ruy băng rộng của chiếc áo đại sứ thì người đàn ông ngồi cạnh cô bỗng khuỵu xuống, tay ôm đầu và bắt đầu nức nở. Những người khác lo lắng liếc nhìn về phía anh ta nhưng không ai bước đến an ủi. Họ khó chịu quay đi, giống như ngoảnh mặt làm ngơ một người tàn tật hay gã ăn mày. Germaine thở dài và đứng lên. Cô không muốn nghĩ tới người đàn ông khóc lóc ngồi trên ghế dài. Cô muốn tìm cách cứu thoát bản thân.

Rồi ngay lúc đó cô thoáng thấy một thanh niên hối hả bước qua phòng chờ đông đúc tay cầm một xấp giấy. Mái tóc nâu xoăn của anh ta được cột phía sau bằng dây ruy băng, viền áo ren rũ xuống. Anh ta có vẻ mệt mỏi nhưng hăng say. Germaine chợt nhận ra cô quen anh ta.

"Camille !" cô kêu lên. "Camille Desmoulins !" người thanh niên quay lại, đôi mắt ánh lên vẻ ngạc nhiên.

Camille Desmoulins là người lập dị ở Paris. Ba năm trước, trong khi vẫn còn là sinh viên dòng tu, anh ta nhảy lên bàn trong quán cà phê Foy vào một đêm nóng bức tháng bảy và thách thức những người khác đột chiếm ngục Bastille. Giờ anh ta là người hùng của cuộc cách mạng.

Phu nhân de Staël ! Camille reo lên, rẽ lối đi qua đám đông để đến nắm lấy tay cô. "Điều gì đưa phu nhân đến đây ? Chắc hẳn phu nhân không liên can đến những việc tổn hại cho quốc gia đúng không nào ?" Anh ta ngoác miệng cười, khuôn mặt quyến rũ nên thơ của anh ta quá lạc lõng giữa căn phòng trở nên u ám bởi nỗi sợ hãi và sặc mùi chết chóc này. Germaine cố gắng nhoẻn miệng đáp lại nụ cười kia.

"Ta bị bắt giữ bởi hội Những nữ công dân Paris", cô đáp, cố sử dụng vài biệt tài ngoại giao đã giúp cô rất nhiều trước đây. "Dường như một vị phu nhân của đại sứ muốn đi qua cổng thành phố giờ bị xem là kẻ thù của mọi người. Cậu có thấy việc đó buồn cười không, khi chúng ta đã đấu tranh rất vất vả cho quyền tự do ?"

Nụ cười trên môi Camille vụt tắt. Anh ta lo lắng liếc xuống gã ngồi trên ghế dài phía sau Germaine, giờ vẫn còn đang khóc lóc. Và rồi anh ta nắm lấy Germaine dẫn sang một bên.

“Ý phu nhân là người đang muốn rời khỏi Paris mà không có giấy thông hành và đoàn hộ tống sao ? Ôi trời, phu nhân ơi. Người thật may là chưa bị bắn tức thì !"

"Đừng ngớ ngẩn thế" cô hét lên. "Ta có công văn miễn xá. Nếu ta bị tống giam, điều đó cũng ngang với lời tuyên bố chiến tranh với Thụy Điển ! Họ sẽ điên lên khi nghĩ các người đang giam giữ ta ở đây". Nhưng sự hiên ngang nhất thời của cô mất dần khi nghe những lời tiếp sau của Camille.

"Phu nhân không biết chuyện gì mới vừa diễn ra sao ? Đất nước chúng ta lâm vào cảnh chiến tranh rồi, và sắp phải chiến đấu đến nơi..." Anh ta hạ giọng khi nhận thấy tin tức chưa lan rộng và chắc chắn sẽ gây ra sự huyên náo. "Pháo đài Verdun đã thất thủ", anh ta nói.

Germaine trân trối nhìn anh ta giây lát. Bất chợt tính nghiêm trọng của tình hình trở nên rõ ràng đối với cô. "Không thể nào", cô thì thầm. Rồi khi anh ta lắc đầu, cô hỏi, "Cách Paris... Hiện chúng ở đâu ?"

"Cách chưa đầy mười tiếng nữa, theo tiên đoán của tôi, ngay cả với pháo binh. Mệnh lệnh đã ban ra sẽ bắn bất cứ ai đến cổng thành. Toan rời khỏi đây lúc này sẽ mắc phải trọng tội phản quốc". Anh ta nghiêm nghị nhìn cô.

"Camille", cô nói nhanh, "cậu có biết tại sao ta rất khao khát trở về gia đình ở Thụy Sĩ không ? Nếu ta chậm trễ việc khởi hành thêm nữa thì ta sẽ không thể đi được. Ta có thai".

Anh ta nhìn vào mắt cô với vẻ không tin được, nhưng cô đáp lại ánh mắt ấy với sự kiên quyết. Cầm tay anh ta, cô đặt nó lên bụng. Qua những nếp gấp dày của chiếc áo choàng, anh ta biết cô nói thật. Anh ta lại nở nụ cười tươi tắn trẻ trung và gương mặt hơi ủng hồng.

"Phu nhân, nếu may mắn tôi có thể đưa người trở lại tòa đại sứ đêm nay. Ngay cả chính đức Chúa cũng không thể đưa cô qua cổng thành phố trước khi chúng ta đuổi cổ quân Phổ. Để tôi trình việc này với ngài Danton".

Germaine mỉm cười nhẹ nhõm. Rồi khi Camille siết tay cô, cô nói, "Khi đứa con của ta chào đời an toàn ở Geneva, ta sẽ lấy tên cậu đặt cho nó".

HAI GIỜ CHIỀU

Valentine và Mireille đến cổng ngục l'Abbaye trong chiếc xe ngựa họ đã thuê sau khi thoát khỏi xưởng vẽ của David. Một đám đông đang tụ tập trên phố phường đông nghịt và vài chiếc xe ngựa khác đã dừng trước lối vào nhà tù.

Đám đông là nhóm những người theo phái cách mạng quá khích ở Pháp, họ ăn mặc rách rưới, trang bị cuốc cày và di chuyển thành hàng tiến về nhiều chiếc xe ngựa ở gần cổng nhà ngục, lấy nắm đấm và đồ dùng đập mạnh vào cửa, cửa sổ. Những tiếng la hét giận dữ vang dội xuống con đường hẹp có tường đá khi những tên cai ngục ngồi trên mui xe cố đẩy lùi đám đông.

Người đánh xe của Valentine và Mireille ngồi trên mui xe cúi xuống và nhìn họ qua cửa sổ.

'Tôi không thể đến gần hơn", ông ta nói. "Bằng không chúng ta sẽ bị kẹt giữa lối đi và không thể nhúc nhích gì được. Hơn nữa, tôi không thích cái nhìn của đám người này".

Ngay sau đó Valentine phát hiện thấy một nữ tu trơng đám đông đang mặc y phục theo lối Benoit của tu viện aux Dames ở Caen. Cô ta vẫy tay ra ngoài cửa sổ chiếc xe và vị nữ tu lớn tuổi ra hiệu đáp lại nhưng cô bị kẹt trong đám đông hiện đang chật cứng trong lối đi hẹp với những bức tường đá cao ngất.

"Valentine, không !" Mireille hét lên khi đứa em họ tóc vàng bé nhỏ yêu quý của mình mở tung cánh cửa và nhảy xuống đường.

"Thưa ông, xin làm ơn", Mireille van lơn người đánh xe, bước xuống xe và ngước nhìn ông ta với ánh mắt cầu xin, “ông có thể chờ được không ? Em tôi chỉ ở đó một chút thôi". Cô cầu nguyện điều đó thành sự thật, quan sát thật kỹ bóng dáng bỏ chạy của Valentine đang chìm khuất vào đám đông không ngừng nhiều lên khi cô em rẽ lối chạy về hướng xơ Claude.

"Thưa cô", người đánh xe nói, "tôi phải quay xe ngay. Chúng ta ở đây nguy hiểm lắm. Những chiếc xe họ dừng phía trên chở đầy tù nhân".

"Chúng tôi phải đi gặp một người bạn", Mireille giải thích. "Chúng tôi sẽ đưa cô ấy trở về ngay lập tức. Thưa ông, tôi khẩn thiết xin ông chờ giùm".

"Những tù nhân này", người đánh xe nói, nhìn ra đám đông từ chỗ ngồi phía trên cao, "họ toàn là những linh mục từ chối tuyên thệ trung thành với đất nước. Tôi sợ cho họ và cho cả chúng ta. Đưa em cô về đây trong lúc tôi quay xe. Và đừng phí thời gian".

Nói xong, ông già đánh xe nhảy xuống khỏi ghế phía trên cao và nắm lấy dây cương ngựa, bắt đầu kéo ngựa đi vòng để quay hướng xe trong lối đi chật hẹp. Mireille hấp tấp len vào đám đông, tim cô đập mạnh.

Đám đông bao bọc quanh cô như bãi biển mờ mịt. Cô không còn trông thấy Valentine trong sự thúc ép của những thân người đi thành hàng vào lối đi. Xô đẩy điên cuồng giữa đám người, cô cảm thấy những bàn tay kéo và giằng cô từ mọi hướng. Sự hoảng loạn bắt đầu dâng lên trong cổ họng khi một thứ mùi ghê tởm của những thân thể không tắm rửa xộc đến ngày càng gần hơn.

Bất chợt, qua rừng những cánh tay và vũ khí đập lên người, cô thoáng thấy bóng Valentine, chỉ cách xơ Claude vài bước, bàn tay Valentine duỗi thẳng vươn ra để chạm tới người nữ tu lớn tuổi. Rồi đám đông lại bao quanh che khuất.

"Valentine !" Mireille thét lên. Nhưng giọng nói của cô bị át đi bởi những tiếng hét vang rền và cô bị đẩy đi tới trước bởi làn sóng người hướng về nửa tá xe ngựa kín mít kẹt chặt ở cổng thành phố - những chiếc xe ngựa chở các vị linh mục.

Mireille vùng vẫy điên cuồng để di chuyển về hướng Valentine và xơ Claude, nhưng việc đó giống như chống lại cơn thủy triều. Mỗi lần cô cố tiến vài bước về phía trước thì cô lại bị đẩy gần hơn đến những chiếc xe ngựa dựa vào tường nhà ngục, cho đến cuối cùng cô bị ném mạnh vào nan hoa của bánh xe ngựa và liều mạng bám vào nó, cố trụ lại. Cô đang đứng dựa vào hông xe thì cửa bật mở, như bị nổ tung. Khi những cánh tay và đôi chân đau đớn xuất hiện quanh cô, Mireille bám chặt cứng vào bánh xe ngựa để khỏi bị xô ngã trở vào đám đông.

Những linh mục bị kéo lê thân người từ xe ngựa vào con đường. Một linh mục trẻ tuổi, đôi môi nhợt nhạt hoảng sợ, nhìn vào mắt Mireille trong phút chốc khi anh ta bị lôi mạnh khỏi xe, rồi mất hút vào đám người. Một linh mục già hơn theo sau, vượt qua cánh cửa để mở và dùng gậy quất vào đám người. Ông ta hét lên điên dại cầu cứu vệ binh nhưng chính quân lính giờ đã biến thành những kẻ hung bạo đầy thú tính, về phe đám đông, chúng nhảy từ nóc xe ngựa xuống và giật phăng những chiếc áo thầy tu của các vị linh mục đáng thương, xé toạc thành nhiều mảnh như đang giày xéo dưới chân kẻ ngược đãi mình và chà đạp lên sỏi đá.

Trong lúc Mireille bám chặt lấy bánh xe ngựa, những linh mục kinh hãi đang bị kéo lê ra khỏi xe từng người một. Họ nối đuôi nhau như những con chuột khiếp sợ, bị hành hạ và bị đâm bằng những mũi giáo hay cái cào sắt nhọn vào khắp người. Gần như nghẹn lời vì sợ hãi, Mireille chỉ biết không ngớt hét gọi tên Valentine khi trông thấy những cảnh tượng kinh khủng tàn nhẫn quanh mình. Và rồi tay Mireille ứa máu vì cô đã bấu quá chặt vào nan xe, cô bị lôi kéo trở vào đám đông và bị hất ngã vào gần bức tường nhà ngục.

Cô đập vào bức tường đá rồi ngã văng xuống vỉa hè trải sỏi. Duỗi tay ra để nâng người dậy, Mireille cảm thấy gì đó âm ấm và ẩm ướt. Đang nằm sóng soài trên nền đá cứng, cô ngẩng đầu lên và hất mái tóc đỏ lòa xòa trước mặt ra phía sau. Đập vào mắt cô là đôi mắt mở to trân trối của xơ Claude, tấm thân bà bị ép sát vào tường nhà ngục l’Abbaye. Máu tuôn xuống khuôn mặt người phụ nữ lớn tuổi từ chỗ chiếc khăn trùm đầu bị giật ra, để lộ một vết chém sâu hoắm trước trán. Cặp mắt bà xơ già vô hồn nhìn trân trối vào khoảng không. Mireille giật lùi và dùng hết sức bình sinh để hét lên nhưng không âm thanh nào phát ra khỏi cổ họng tắc nghẹn của cô. Cái chỗ âm ấm và ẩm ướt khi nãy tay cô chạm phải là một vết chém rách toạc.

Mireille bật lùi khỏi thân thể xơ Claude, run rẩy khiếp đảm. Cô điên cuồng chùi bàn tay vào áo để sạch máu. Valentine. Valentine đâu rồi ? Mireille co gối gượng dậy và cố bấu víu vào bức tường khi đám đông man rợ tràn qua người cô như những con quái thú giận dữ mất lý trí. Ngay lúc đó cô nghe một tiếng rên và nhận thấy môi xơ Claude mấp máy. Vị nữ tu chưa chết !

Mireille quỳ xuống ôm ghì vai xơ Claude khi máu cứ vọt ra từ miệng vết thương.

"Valentine !" cô hét lên. "Valentine đâu rồi ? Lạy Chúa, chị có hiểu tôi nói gì không ? Nói tôi biết chuyện gì xảy đến với Valentine !"

Người nữ tu già mấp máy đôi môi khô héo không thành tiếng và ngước ánh mắt vô hồn về phía Mireille. Mireille cúi thấp xuống đến khi tóc cô chạm vào môi người nữ tu.

"Bên trong", xơ Claude thều thào. "Họ đưa cô ấy vào trong tu viện". Rồi bà ngã ra bất tỉnh.

"Chúa ơi, chị chắc chứ ?" Mireille hỏi, nhưng không có lời nào đáp trả.

Mireille cố gượng đứng lên. Đám đông quay cuồng quanh cô, hò hét kích động. Khắp nơi giáo mác cuốc xẻng vung lên trời, tiếng kêu thất thanh của những tên sát nhân và những người bị giết hòa lẫn vào nhau ngập tràn tâm trí cô.

Dựa vào cánh cửa nặng nề của nhà ngục l’Abbaye, Mireille dùng hết sức đập cửa, nện nắm đấm vào mặt gỗ đến khi đốt ngón tay bật máu. Bên trong không có tiếng đáp lại. Kiệt sức và tê buốt bởi cả nỗi đau thể xác lẫn sự tuyệt vọng trong tâm hồn, cô cố tìm đường vượt qua đám đông về chỗ chiếc xe ngựa mà cô hy vọng vẫn còn đó. Cô phải tìm David. Bây giờ chỉ có David mới có thể giúp được.

Bất chợt cô chôn chân giữa vòng xoáy dữ dội của những con người điên dại và nhìn qua khe hở nhỏ tách ra giữa đám đông. Mọi người đang lùi về như có gì đang di chuyển về phía họ, về hướng Mireille. Một lần nữa, cô ép sát người vào bức tường và chậm rãi đi dọc theo để có thể biết được chuyện gì xảy ra. Chiếc xe ngựa đưa cô đến đây đang bị đám đông lôi qua con phố ngột ngạt. Và bị treo lên ngọn giáo cắm vào chiếc ghế gỗ là cái đầu đứt lìa ghê rợn của người đánh xe, mái tóc bạc của ông ta ướt sũng máu, khuôn mặt già nua hằn sâu sự hãi hùng.

Mireille cắn chặt cánh tay để ngăn mình không hét lên. Khi đứng đó, mắt dại đi nhìn chằm chằm vào thủ cấp kinh tởm treo trên cao di chuyển trong đám đông, cô biết mình không thể trở về tìm David. Cô phải vào trong những bức tường của nhà ngục l’Abbaye ngay bây giờ. Cô biết một điều chắc như đinh đóng cột rằng nếu không tìm ra Valentine lập tức thì mọi chuyện sẽ quá muộn màng. 

BA GIỜ CHIỀU

Băng qua đám hơi bốc lên từ chỗ những người phụ nữ đang tạt mấy xô nước làm mát lề đường nóng bức, Jacques-Louis David bước vào quán cà phê Régence.

Bên trong quán, hàng tá đàn ông đang bập bập tẩu thuốc và phì phèo xì gà khiến khói bốc lên cuộn lấy ông ta còn dày hơn đám hơi nước ngoài đường khi nãy. Mắt ông ta cay xè, và cái áo sơ mi vải lanh để hở đến thắt lưng dính chặt vào da khi ông tìm đường đi qua căn phòng ngột ngạt, nhanh nhẹn thụp xuống né những người phục vụ giơ cao những khay thức uống bưng trên tay hấp tấp len lỏi giữa mấy cái bàn chật cứng người. Tại từng bàn, người ta đang đánh bài, chơi đôminô hoặc cờ vua. Quán cà phê de la Régence là một câu lạc bộ đánh bạc lâu đời nhất và nổi tiếng nhất ở Pháp.

Khi David rẽ lối đến được cuối phòng, ông trông thấy Maximilien Robespierre, nét mặt nhìn nghiêng khi ông ta bình thản nghiên cứu vị trí quân cờ trông như một tác phẩm chạm trổ bằng ngà voi. Một ngón tay đặt dưới cằm, chiếc khăn quàng lụa hai nút thắt và áo gi-lê bằng vải thêu kim tuyến vẫn phẳng phiu, ông ta dường như không chú ý tiếng động vang khắp nơi quanh mình hay cái nóng bức khó chịu. Như mọi khi, thái độ thờ ơ lạnh lùng của ông ta cho thấy ông không tham gia vào những chuyện xảy ra xung quanh mà chỉ đơn thuần là người quan sát, hay một người phán xét.

David không nhận ra người đàn ông lớn tuổi ngồi bên kia Robespierre. Khoác một chiếc áo lỗi mốt màu xanh nhạt với quần ngắn ống rộng được trang trí ruy băng, vớ trắng và giày kiểu Louis XV, người đàn ông cao tuổi đó di chuyển quân cờ trên bàn mà không cần nhìn. Ông ta ngước đôi mắt ướt rượt lên khi David đến.

"Xin thứ lỗi đã quấy rầy ván cờ của ngài", David lên tiếng. "Tôi xin mạn phép thỉnh cầu ngài Robespierre giúp đỡ một việc không thể chậm trễ". 

"Được thôi", người đàn ông lớn tuổi đáp. Robespierre tiếp tục nghiên cứu bàn cờ trong im lặng. "Dù sao đi nữa thì bạn tôi cũng đã thua ván này. Đó là chiếu bí ô năm. Anh cũng có thế bỏ cuộc, Maximilien thân mến. Sự cắt ngang của bạn anh thật đúng lúc".

"Tôi không thấy điều đó", Maximilien nói. "Mắt anh tinh tường hơn mắt tôi trong việc đánh cờ". Ngả người ra sau cùng một tiếng thở dài, ông ngước lên nhìn David. "Ngài Philidor đây là tay cờ xuất sắc nhất châu Âu. Tôi xem việc bại trận dưới tay ông ấy là một đặc ân, chỉ cần có cơ hội chơi cùng ông ta là quý rồi".

"Vậy đây là ngài Philidor nổi danh !" David thốt lên, siết chặt bàn tay người đàn ông lớn tuổi một cách nồng nhiệt. "Ngài là nhà soạn nhạc đại tài, thưa ngài. Tôi đã xem bản phục chế Le Soldat Magicien lúc còn là một cậu bé. Tôi không tài nào quên được nó. Cho phép tôi tự giới thiệu, tôi là Jacques-Louis David".

"Danh họa !" Philidor kêu lên, đứng dậy. "Tôi cũng ngưỡng mộ các tác phẩm của ngài, như mọi công dân trên đất Pháp. Nhưng tôi e ngài là người duy nhất tại đất nước này còn nhớ đến tôi. Mặc dù trước đây các bản nhạc của tôi vang khắp các nhà hát Comédie Francaise và opéra Comique, nhưng giờ tôi buộc phải tham gia thi đấu trong các buổi biểu diễn cờ vua như một con khỉ được huấn luyện để nuôi sống bản thân và gia đình. Thật ra, ngài Robespierre đã rất tử tế tìm cho tôi giấy thông hành đến Anh, nơi tôi có thể kiếm ra bộn tiền nhờ kiểu trình diễn ấy".

"Đó cũng chính là ân huệ tôi đến thỉnh cầu ngài ấy", David nói trong khi Robespierre từ bỏ việc nghiên cứu bàn cờ và cũng đứng dậy. "Tình hình chính trị ở Paris hiện thời quá nguy hiểm. Và sự hăng hái sôi sục cực độ này không có tác dụng giúp những người dân Paris bình tĩnh. Chính không khí căng thẳng này khiến tôi quyết định thỉnh cầu... mặc dù đặc ân này, tất nhiên, không phải dành cho bản thân tôi".

"Dân chúng luôn thỉnh cầu đặc ân cho người khác hơn là cho chính họ", Robespierre thản nhiên xen vào.

"Tôi thỉnh cầu đặc ân thay mặt cho những đứa trẻ tôi bảo hộ"

David khó nhọc nói nên lời. "Vì tôi chắc ngài có thể nhận thấy rõ rằng, thưa ngài Maximilien, nước Pháp không phải nơi yên bình cho những cô gái trẻ độ tuổi đôi mươi".

"Nếu ngài quan tâm quá nhiều đến tình trạng của chúng", Robespierre khịt mũi, nhìn David với đôi mắt xanh lấp lánh, "ngài sẽ không cho phép chúng quanh quẩn trong vùng dưới sự hộ tống của Giám mục xứ Au tun".

'Tôi hoàn toàn phản đối", Philidor xen ngang. "Tôi là người cực kỳ ngưỡng mộ Maurice Talleyrand. Tôi tiên đoán đến một ngày ông ấy sẽ được xem là chính khách vĩ đại nhất trong lịch sử nước Pháp".

"Ngày ấy chắc xa lắm", Robespierre nói. "Thật may là ông không phải kiếm sống bằng nghề bói toán. Maurice Talleyrand đã dành hàng tuần liền cố mua chuộc mọi viên chức ở Pháp để ông ta có thể trở về Anh quốc, giả vờ là một nhà ngoại giao. Hắn chỉ ao ước giữ được cái đầu của mình còn trên cổ. Ngài David thân mến, mọi quý tộc ở Pháp đang tranh nhau ra đi trước khi quân Phổ tràn đến. Tôi sẽ xem mình có thể làm gì cho những đứa con nuôi của ông tại cuộc họp ủy ban đêm nay, nhưng tôi không hứa hẹn gì cả đâu. Lời thỉnh cầu của ông khá muộn đấy".

David chân thành cảm ơn ông ấy, còn Philidor đề nghị tiễn David ra về vì nhân tiện ông ta cũng rời khỏi câu lạc bộ. Khi cao thủ cờ vua nổi tiếng sánh bước cùng nhà danh họa đi qua căn phòng đông đúc, Philidor nhận xét, "Ngài hẳn hiểu rằng ông Maximilien Robespierre khác biệt ngài và tôi. Là một người độc thân, ông ta không gánh vác trách nhiệm chăm lo nuôi dạy con cái. Các con nuôi của ông bao nhiêu tuổi rồi, ngài David ? Ông chăm sóc chúng lâu chưa ?"

"Chỉ mới hơn hai năm thôi", David đáp lại. "Trước đó, chúng là nữ tu tập sự tại tu viện Montglane..."

"Ngài bảo Montglane sao ?" Philidor hỏi, hạ thấp giọng khi họ đến cửa câu lạc bộ. "Ngài David thân mến, là một tay cờ, tôi có thể đoan chắc với ngài rằng tôi biết rất nhiều về lịch sử Tu viện Montglane. Ngài có biết chuyện đó không ?" 

"Vâng, có", David nói, cố bình tĩnh. "Tôi biết tất cả câu chuyện vớ vẩn quá ư thần bí đó. Bộ cờ Montglane không có thực, và tôi ngạc nhiên khi ngài lại tin vào cái chuyện như vậy".

"Tin ư ?" Philidor nắm lấy cánh tay David khi họ đặt chân lên vỉa hè nóng như thiêu đốt. "Bạn tôi ơi, tôi biết vật đó có tồn tại. Và còn nhiều hơn thế nữa. Hơn bốn mươi năm trước, có lẽ thậm chí trước cả khi ngài chào đời, tôi được viếng thăm cung điện của vua Frederick Đại đế tại nước Phổ. Trong lúc nán lại đó, tôi đã kết giao với hai vị có vốn hiểu biết sâu rộng mà tôi không bao giờ quên họ. Một người, ngài hẳn đã nghe nói đến, nhà toán học vĩ đại Leonhard Euler. Người kia, vĩ đại theo cách riêng của ông ta, là người cha già của nhạc sĩ trẻ tuổi cận thần của Frederick. Nhưng tôi e định mệnh của vị thiên tài già nua này giống như một di sản bị chôn vùi. Mặc dù không ai ở châu Âu nghe đến tên ông nhưng âm nhạc mà ông biểu diễn cho chúng tôi xem vào một đêm theo yêu cầu của nhà vua là bản nhạc hay nhất tôi từng được nghe trong cả cuộc đời. Tên ông âý là Johann Sebastian Bach".

"Tôi chưa nghe đến tên ông ấy", David thừa nhận, "nhưng điều gì khiến Euler và người nhạc sĩ này liên quan đến bộ cờ huyền thoại ?"

"Tôi sẽ kể ngài nghe", Philidor mỉm cười nói, "chỉ khi nào ngài đồng ý giới thiệu tôi với các con nuôi của ngài. Có lẽ chúng ta sẽ biết được tường tận bí ẩn mà tôi đã dành cả đời để làm sáng tỏ !"

David đồng ý, và bậc thầy cờ vua vĩ đại kia nối gót David qua những con phố tưởng chừng yên ắng dọc theo sông Seine và băng qua Pont Royal hướng về phòng tranh.

Không gian tĩnh mịch, những hàng cây đã trút hết lá. Từng làn hơi nóng cuộn lên từ mặt đường đất, và cả dòng nước đục ngầu của sông Serne cũng lặng lờ trôi bên cạnh hai người. Họ không biết cách đó hai mươi đãy nhà, tại trung tâm tu viện Cordeliers, một đám đông khát máu đang nện liên hồi lên các cánh cửa của nhà ngục l’Abbaye, và Valentine đang ở trong đó. 

Trong cái trầm lắng của buổi chiều tà đó, khi hai người đàn ông sánh bước cùng nhau, Philidor bắt đầu câu chuyện.

CÂU CHUYỆN CỦA BẬC THẦY CỜ VUA

Mười chín tuổi, tôi rời nước Pháp và lên đường sang Hà Lan để đệm đàn hautebois (một loại đàn giống đàn bầu), còn gọi là kèn ô-boa, cho một nghệ sĩ dương cầm trẻ tuổi, cô gái đã biểu diễn ở đó như một thần đồng nhỏ tuổi. Không may khi tôi đến nơi thì nhận được tin cô gái ấy vừa qua đời vài ngày trước bởi căn bệnh đậu mùa. Tôi bơ vơ nơi xứ lạ, không một xu dính túi và mất hết hy vọng kiếm tiền để nuôi sống bản thân, tôi đến các quán cà phê và chơi cờ.

Từ năm mười bốn tuổi, tôi đã học chơi cờ vua dưới sự dìu dắt của ngài Legal nổi tiếng, tay cờ xuất sắc nhất nước Pháp và có lẽ là người giỏi nhất ở châu Âu. Đến năm mười tám tuổi, tôi đã có thể đánh bại ông ấy với nước đi cản trở của quân Mã. Cuối cùng, tôi sớm nhận ra mình giỏi hơn hết thảy những đối thủ từng đối đầu. Tại The Hague, trong cuộc chiến Fontenoy, trận tôi đấu với Hoàng tử xứ Waldeck là hấp dẫn gay cấn nhất.

Tôi đi khắp Anh quốc, chơi cờ tại các quán cà phê của Slaughter ở Luân Đôn, đấu với các đối thủ mạnh nhất họ có, gồm ngài Abraham Janssen cùng Philip Stamma, và đánh bại tất cả họ. Stamma, dân Xyri có tổ tiên là người Ma-rốc, đã xuất bản vài quyển sách về cờ vua. Ông ta cho tôi xem, cũng như các tác phẩm của La Bourdonnais và Maréchal Saxe. Stamma nghĩ rằng tôi, với tài năng chơi cờ vô song, cũng có thể viết một quyển sách.

Tác phẩm của tôi, ra đời vài năm sau, mang tựa đề Phân tích môn Cờ vua. Trong đó tôi đề ra lý thuyết "Quân Tốt là linh hồn của cờ vua". Thực vậy, tôi chỉ ra rằng quân Tốt không chỉ là vật hy sinh mà có thể dùng chúng có chiến lược và vị trí chống lại đối thủ. Tác phẩm này tạo ra một cuộc cách mạng trong làng cờ vua. 

Sách của tôi gây được sự chú ý đối với nhà toán học người Đức Euler. Ông ta đã đọc về ván đấu cờ bịt mắt của tôi trong từ điển tiếng Pháp do Diderot xuất bản và ông ấy thuyết phục vua Frederick Đại đế mời tôi đến buổi thiết triều.

Buổi thiết triều của vua Frederick Đại đế được tổ chức tại Potsdam (thủ phủ của tiểu bang Brandenburg - Đức) trong một đại sảnh lớn, bình dị, lấp lánh ánh đèn nhưng thiếu đi những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc như thường thấy tại các cung điện châu Âu khác. Quả thật, Frederick là một chiến binh, yêu quý các binh lính hơn triều thần, nghệ sĩ và thê thiếp. Người ta đồn rằng ngài ngủ trên một cái giường gỗ hẹp và cứng, luôn giữ chó canh gác cạnh bên ở mọi lúc.

Tối hôm tôi đến ra mắt, nhạc trưởng Bach của thành phố Leipzig (thành phố trực thuộc tiểu bang Sachsen) đến cùng con trai Wilhelm, lên đường đến thăm một đứa con khác, Carl Philipp Emanuel Bach, người chơi đàn clavico cho đức vua Frederick. Đích thân nhà vua đã viết tám nhịp của một luân khúc và yêu cầu ông Bach lớn tuổi sáng tác lời cho bài nhạc. Nhà soạn nhạc già ấy, như tôi đã nói, có sở trường về việc đó. Ông ta đã viết ra các luân khúc với tên mình và tên Chúa Giê-su ẩn trong những hòa âm dưới dạng ký hiệu. Ông ta sáng tạo những đổi âm nghịch đảo vô cùng phức tạp, nơi đó hòa âm là hình ảnh phản chiếu của giai điệu.

Euler thêm vào đề nghị ông nhạc trưởng già sáng tác một khúc biến tấu thể hiện "Thượng đế" trong kết cấu, nghĩa là, Chúa hiện diện trong tất cả các lời nhạc. Nhà vua tỏ vẻ hài lòng với yêu cầu đó, nhưng tôi cảm thấy chắc rằng Bach sẽ từ chối. Bản thân cũng là một nhà soạn nhạc nên tôi có thể nói rằng việc sáng tác dựa trên nhạc của người khác không phải chuyện dễ dàng. Tôi từng phải sáng tác một vở nhạc kịch theo chủ đề của Jean-Jacques Rousseau, nhà triết gia với 

một tai bịt bạc. Nhưng để ẩn giấu trong âm nhạc một câu đố bí mật kiểu này thì... ôi, việc này dường như bất khả thi.

Tôi hết sức ngạc nhiên khi người nhạc trưởng do dự khập khiễng lê thân người thấp đậm đến bên bàn phím. Cái đầu to của ông bao phủ bởi bộ tóc giả dính bẩn và không vừa vặn chút nào. Đầu chân mày của ông ngả bạc trông như cánh đại bàng. Ông có sống mũi thẳng, hàm rộng và cái chau mày thường trực hằn trên nét mặt nghiêm khắc cho thấy đấy là một người không dễ tính. Euler thì thầm với tôi rằng ông Bach không quan tâm mấy đến "tiết mục yêu cầu" và chắc chắn sẽ làm trò hề cho nhà vua.

Cúi đầu tóc bờm xờm trên các phím đàn, ông bắt đầu chơi một giai điệu tuyệt vời và mê hồn dường như cất lên vô tận từ một cô gái kiều diễm. Đó là loại nhạc fuga và khi tôi lắng nghe những âm điệu đan xen phức tạp đầy bí ẩn, tôi lập tức nhận ra điều ông ta làm. Mặc dù tôi không hiểu rõ lắm về ý nghĩa nhưng mỗi đoạn lời của giai điệu đều bắt đầu bằng một phím hòa âm nhưng kết thúc ở phím cao hơn, cho đến hết sáu ngón đàn liên tục của chủ đề ban đầu của nhà vua, ông kết thúc ở phím đã bắt đầu. Tôi còn không nhận thấy ông ta đã chuyển tông ở khúc nào và ra sao nữa. Đó là một tác phẩm kỳ diệu, như sự biến đổi kim loại thường thành vàng khối. Qua kết cấu thần tình, tôi có thể thấy giá trị bản nhạc không ngừng nâng lên vô tận đến từng nốt, như âm nhạc của vũ trụ, chỉ có những thiên thần mới được thưởng thức.

"Thật tuyệt diệu !" nhà vua thì thầm khi Bach chầm chậm kết thúc bản nhạc. Ông cúi chào vài vị cận thần và binh lính ngồi trên những chiếc ghế gỗ trong gian phòng bài trí sơ sài.

"Kết cấu ấy gọi là gì ?" tôi hỏi Bach.

"Tôi gọi nó là Ricercar", người đàn ông già đáp, vẻ đẹp của bản nhạc ông ấy sáng tác không thay đổi nét nghiêm khắc vẫn còn nguyên trên gương mặt ông. "Theo tiếng Ý, từ đó có nghĩa là 'tìm kiếm'. Một dạng nhạc rất cổ xưa, không còn thịnh hành". Vừa nói câu đó ông vừa quắc mắt nhìn đứa con trai Carl Philipp, anh này có tiếng chuyên viết nhạc 'thời thượng'. 

Cầm bản viết tay của nhà vua lên, Bach viết vội lên trên cùng dòng chữ Riccerca, những mẫu tự cách rộng ra. Ông chuyển từng chữ một sang tiếng La tinh, và nó là “Regis Iussu Cantio Et Reliqua Canonica Arte Resoluta” đại khái nó có nghĩa là một bản nhạc chuyến thể sang luân khúc dựa trên ý tưởng của nhà vua. Luân khúc là một kết cấu âm nhạc mà mỗi phần theo một nhịp điệu, sau phần cuối cùng thì lặp lại toàn bộ giai điệu theo kiểu chồng lên nhau. Nó khiến bản nhạc như thể bất tận không bao giờ dứt.

Sau đó Bach nguệch ngoạc hai đoản khúc tiếng La tinh trên lề bản nhạc, dịch ra như sau:

Khi các nốt nhạc nhiều lên, vận may của đức vua tăng thêm,

Khi tông nhạc cất cao, thanh danh của đức vua ngân vang.

Euler và tôi ca ngợi tác phẩm tài tình của nhà soạn nhạc lớn tuổi. Sau đó tôi đề nghị sẽ bịt mắt và chơi cùng lúc ba ván cờ với nhà vua, tiến sĩ Euler và Wilhelm, con trai người nhạc trưởng. Mặc dù người nhạc trưởng không chơi nhưng ông lại thích ngồi xem trận đấu. Đến cuối buổi, lúc tôi đã thắng cả ba ván cờ, Euler kéo tôi sang một bên.

"Tôi chuẩn bị một món quà cho ông", ông ấy nói với tôi. "Tôi đã sáng chế ra một nước đi mới cho quân Mã, một thuật toán. Tôi thề nó sẽ là công thức hay nhất chưa từng được phát hiện ra về nước đi của quân Mã trên bàn cờ. Nhưng đêm nay tôi muốn đưa bản sao của công thức này cho nhà soạn nhạc già, nếu ông không phiền. Vì ông ta thích những trò liên quan đến thuật toán nên cái này sẽ khiến ông ấy thích thú.

Bach nhận món quà với nụ cười kỳ lạ và cảm ơn chúng tôi rối rít. "Tôi mời hai vị sáng mai đến nhà con trai tôi, trước khi Ngài Philidor lên đường", ông ta nói. "Lúc đó tôi có thời gian chuẩn bị một bất ngờ nho nhỏ cho cả hai vị". Lời nói khêu gợi sự tò mò của chúng tôi và chúng tôi đồng ý có mặt đúng giờ tại nơi đã hẹn.

Sáng hôm sau, chúng tôi đến nhà Carl Philipp. Bach mở cửa đưa chúng tôi vào một căn phòng khách nhỏ và rót trà tiếp đãi. Sau đó ông ta ngồi vào một chiếc đàn nhỏ và bắt đầu chơi một giai điệu vô cùng đặc biệt. Khi bản nhạc kết thúc, cả Euler và tôi đều hoàn toàn bối rối.

"Đó là điều bất ngờ !" Bach nói với tiếng cười khúc khích hân hoan, vẻ u sầu cố hữu trên gương mặt ông ta tan biến đi. Ông nhìn Euler và tôi khi cả hai chúng tôi đều rất hoang mang.

"Đến xem bản nhạc này", Bach nói. Cả hai chúng tôi đứng dậy và đến bên chiếc đàn. Trên giá để bản nhạc không có gì khác ngoài bản sao nước đi của quân Mã mà Euler đã chuẩn bị và đưa ông ta tối hôm trước. Nó là một bản đồ mô tả một bàn cờ lớn, trong từng ô vuông có ghi các con số. Bach đã khéo léo kết nối các con số thành một chuỗi những đường thẳng thanh mảnh mang một ý nghĩa nào đó với ông ta, nhưng tôi chưa hiểu ra. Thế nhưng Euler là một nhà toán học nên đầu óc ông ta nhanh nhạy hơn tôi.

"Ông đã chuyển các con số này thành những quãng tám và hợp âm ư !" Euler thốt lên. "Ông phải chỉ tôi biết đã làm thế nào đấy. Chuyển toán học thành âm nhạc - quả thật là một phép màu !"

"Nhưng toán học là âm nhạc", Bach đáp. "Và âm nhạc cũng là toán học. Ông tin chữ "âm nhạc" xuất phát từ chữ "Musa", có nghĩa là thần thi ca, hay từ chữ "muta", có nghĩa là "lời nhà tiên tri" thì cũng không khác biệt gì. Nếu ông nghĩ "toán học" lấy từ chữ "mathanein", nghĩa là học vấn, hay từ chữ "Matrix", có nghĩa nguồn gốc của mọi vật thì nó không ảnh hưởng.."

"Ông nghiên cứu từ ngữ à ?" Euler hỏi.

"Từ ngữ mang quyền năng sáng tạo và tiêu diệt", Bach ôn tồn nói. "Đấng Tạo Hóa vĩ đại, Người khai sinh tất cả chúng ta, cũng khai sinh cả từ ngữ. Trên thực tế, nếu chúng ta tin theo thánh John trong kinh Tân ước thì Người tạo ra chúng ta trước tiên".

"Ông nói gì vậy ? Đấng Tạo Hóa vĩ đại à ?" Euler nói, hơi tái mặt.

"Tôi gọi Đức Chúa là Đấng Tạo Hóa vĩ đại vì điều đầu tiên Người tạo ra là âm thanh", Bach đáp. " 'Khởi đầu là Ngôi lời', ông nhớ không ? Ai biết được ? Có lẽ nó không chỉ là một từ. Có lẽ nó là âm nhạc. Có thể Đức Chúa đã ca một luân khúc bất tận về những phát minh của riêng Người, và vạn vật được sinh ra qua bài hát ấy". 

Euỉer lúc này càng tái xanh hơn nữa. Dù nhà toán học đã hỏng một bên mắt do nghiên cứu mặt trời qua tấm kính nhưng mắt còn lại của ông săm soi lên tờ nước đi của quân Mã đặt trên giá để bản nhạc. Lần các ngón tay trên biểu đồ vô tận các con số bé tí được viết khắp bàn cờ, ông như chìm đắm trong suy tư một lúc lâu. Sau đó ông mới nói.

"Ông biết được những chuyện này từ đâu ?" ông hỏi nhà soạn nhạc uyên bác. "Việc ông miêu tả là một bí mật đen tối và nguy hiếm, chỉ có người đã thụ giáo mới biết".

"Tôi tự tìm hiểu", Bach thản nhiên đáp. "Ồ, tôi biết có những hội bí mật của những người dành cả đời cố làm sáng tỏ bí ẩn của vũ trụ, nhưng tôi không gia nhập những tổ chức đó. Tôi tìm kiếm sự thật theo cách của riêng mình".

Trong lúc nói, ông ta chìa tay chộp lấy bản đồ công thức cờ vua của Euler ở cây đàn. Cầm lấy bút lông ngỗng gần đó, ông viết hai từ lên trên cùng: Quaerendo invenietis. Tìm kiếm, và bạn sẽ tìm thấy. Sau đó ông đưa bản nước đi của quân Mã cho tôi.

"Tôi không hiểu", tôi hơi ngượng ngùng nói với ông ta.

"Ngài Philidor", Bach nói, "ông vừa là một bậc thầy cờ vua như tiến sĩ Euler, vừa là một nhà soạn nhạc như tôi. Trong con người ông kết hợp cả hai tài năng đáng giá".

"Đáng giá theo hướng nào ?" tôi lịch sự hỏi lại. "Tôi phải thú nhận rằng tôi chẳng thấy tài năng nào đáng giá về mặt tài chính cả !" tôi mỉm cười với ông ta.

"Tuy vậy không thể bác bỏ việc đôi khi", Bach nói, cười khúc khích, "trên đời có những quyền lực mang sức ảnh hưởng to lớn hơn đồng tiền. Chẳng hạn như, ông có bao giờ nghe nói đến Bộ cờ Montglane chưa ?"

Thình lình tôi quay sang Euler, người vừa lớn tiếng thở dốc.

"Ông thấy đó", Bach nói, "cái tên đó không xa lạ với người bạn ngài Doktor của chúng ta. Có lẽ tôi cũng sẽ giúp ông tỏ tường mọi chuyện".

Tôi say mê lắng nghe Bach kể về bộ cờ kỳ lạ xưa kia thuộc sở hữu của vua Charlemagne và được cho là chứa đựng những thuộc tính đầy uy lực. Khi nhà soạn nhạc tóm tắt xong câu chuyện, ông ta nói với tôi:

"Lý do tôi mời các ông đến đây hôm nay là để tiến hành một thử nghiệm. Cả đời tôi đã nghiên cứu khả năng kỳ lạ của âm nhạc. Nó mang một sức mạnh riêng biệt mà vài người không chấp nhận. Nó có thể trấn áp kẻ thù dã man hoặc kích động người nhu mì xông vào cuộc chiến. Trong một thời gian dài, tôi đã tìm hiểu bí mật của sức mạnh đó thông qua những thử nghiệm của riêng mình. Âm nhạc, như ông thấy, có logic của riêng nó. Điều đó tương tự logic của toán học, nhưng hơi khác biệt đôi chỗ. Âm nhạc không đơn thuần chỉ giao hòa với tâm tư chúng ta mà thật ra nó thay đổi suy nghĩ của chúng ta theo cách vô hình nào đó, không thể nhận thấy".

"Ông nói vậy có ý gì ?" tôi hỏi. Nhưng tôi biết Bach đã nói trúng một phần bên trong con người tôi, cái mà tôi khó lòng giãi bày một cách cụ thể. Đã từ lâu tôi nhận thấy có điều gì đó, một điều ẩn giấu sâu bên trong tâm hồn mà tôi chỉ cảm nhận được nó khi nghe một giai điệu ngọt ngào ngây ngất, hoặc khi chơi cờ vua.

"Ý tôi là", Bach nói, "vũ trụ giống một bài toán vĩ đại ẩn hiện trên quy mô rộng lớn. Âm nhạc là một trong những dạng thức thuần túy nhất của toán học. Mỗi công thức toán học có thể được chuyển đổi thành âm nhạc, như việc tôi đã làm với công thức của tiến sĩ Euler". Ông đưa mắt nhìn Euler, và Euler gật đầu, như thể hai người cùng chia sẻ điều bí mật mà tôi vẫn chưa nắm được.

"Và âm nhạc", Bach tiếp lời, "có thể được chuyển đổi thành toán học với những kết quả, tôi có thể nói là đáng kinh ngạc. Đấng Tạo Hóa dựng nên vũ trụ đã tạo ra nó theo cách đó. Âm nhạc có sức mạnh sáng tạo vũ trụ hoặc phá hủy nền văn minh. Nếu ông không tin tôi, tôi nghĩ ông nên đọc kinh thánh".

Euler đứng lặng im giây lát. "Đúng", cuối cùng ông ta lên tiếng, "trong kinh thánh có những câu chuyện về các Đấng Tạo Hóa khác quả thật cho thấy điều đó, đúng không nào ?"

"Bạn của tôi ơi", Bach nói, quay sang nhìn tôi mỉm cười, "như tôi đã nói, tìm kiếm và bạn sẽ tìm thấy. Người hiểu được cấu trúc của âm nhạc sẽ hiểu được sức mạnh của Bộ cờ Montglane. Tuy hai mà một".

David chăm chú lắng nghe câu chuyện. Giờ đây, khi họ đến gần cánh cổng sắt trang trí hoa văn của sân nhà David, ông bần thần quay sang Philidor.

"Nhưng tất cả chuyện này nghĩa là sao ?" ông hỏi. "Âm nhạc và toán học liên quan gì đến Bộ cờ Montglane chứ ? Bất cứ thứ gì trong những cái đó thì liên quan gì đến quyền lực, dù tại trần gian hay trên thiên đường ? Câu chuyện của ngài chỉ giúp củng cố thêm luận điểm của tôi rằng bộ cờ huyền thoại này có sức hút đối với những kẻ thần bí và khờ dại. Tôi ghét cách thêm danh xưng kiểu như tiến sĩ Euler bao nhiêu thì câu chuyện của ngài cho thấy ông ta dễ dàng trở thành con mồi của những chuyện hoang đường kiểu này bấy nhiêu".

Philidor ngừng lại dưới bóng cây hạt dẻ rủ xuống trên cánh cổng khu vườn nhà David. "Tôi đã nghiên cứu vấn đề này nhiều năm", nhà soạn nhạc thì thầm. "Sau cùng, mặc dù chưa bao giờ quan tâm đến những giáo điều trong kinh thánh, nhưng tôi đã dành thời gian đọc Kinh thánh như Euler và Bach đã gợi ý. Bach mất không lâu sau buổi gặp gỡ của chúng tôi và Euler di cư sang Nga, vì thế tôi chưa bao giờ được gặp lại họ để thảo luận về điều tôi đã tìm ra".

"Vậy ngài tìm ra điều gì ?" David hỏi, rút chìa khóa mở cửa.

"Họ hướng dẫn tôi nghiên cứu về các đấng tạo hóa, và tôi đã làm theo. Chỉ có hai đấng tạo hóa tiếng tăm trong kinh thánh. Một là Đấng Tạo Hóa của vũ trụ. Đó chính là Đức Chúa. Vị kia là người tạo ra tháp Babel. Tôi đã phát hiện ra từ ngữ chính xác là "Bab-El" mang ý nghĩa "Cánh cổng của Đức Chúa". Dân Babylon là những người rất tự trọng. Họ là dân tộc văn minh cao quý nhất từ thời sơ khai. Họ xây những khu vườn treo sánh được với những tuyệt tác đẹp đẽ nhất của tự nhiên. Và họ muốn xây dựng một ngọn tháp vươn đến tận thiên đường, một ngọn tháp chạm tới mặt trời. Tôi cảm thấy chắc chắn rằng câu chuyện về ngọn tháp này là điều Bach và Euler ám chỉ.

"Vị đó là Nimrod", Philidor tiếp tục kể khi hai người băng qua cánh cổng, "Đấng tạo hóa vĩ đại thời kỳ đó. Ngài xây dựng ngọn tháp cao hơn bất kỳ ngọn tháp nào con người biết đến. Nhưng công trình không bao giờ được hoàn thành. Ông có biết vì sao không ?"

"Đức Chúa phá hủy nó, theo như tôi nhớ", David nói khi băng qua sân.

"Nhưng Chúa phá hủy nó bằng cách nào ?" Philidor hỏi. "Người không gây nên sấm sét, bão lũ hay bệnh dịch như thói quen của Người ! Tôi sẽ nói ông nghe Chúa đã phá hủy công trình của Nimrod thế nào, bạn của tôi. Đức Chúa xáo trộn ngôn ngữ của những người thợ, cho đến sau này ngôn ngữ mới thống nhất lại. Người đã hủy diệt ngôn ngữ. Người phá hủy Ngôi lời !"

Ngay khi đó, David chú ý một tên đầy tớ đang từ nhà chạy băng qua sân. "Tất cả chuyện này nghĩa là vậy sao ?" ông hỏi Philidor với một nụ cười giễu cợt. "Đấy là cách Chúa phá hủy nền văn minh à ? Bằng cách làm người ta câm hết sao ? Xáo trộn ngôn ngữ của chúng ta ư ? Nếu vậy, người Pháp chúng ta sẽ chẳng bao giờ phải bận tâm. Chúng ta yêu quý ngôn ngữ của mình như thể nó còn đáng giá hơn cả vàng ấy chứ !"

"Có lẽ con nuôi của ông sẽ có thể giúp chúng ta làm sáng tỏ bí ẩn này, nếu họ thật sự sống tại Montglane", Philidor đáp. "Vì tôi tin rằng đó là sức mạnh này, sức mạnh của âm nhạc trong ngôn ngữ, toán học trong âm nhạc, bí mật của Ngôi lời mà với nó, Chúa tạo ra vũ trụ và phá hủy đế chế Babylon - tôi tin rằng đấy là bí mật ẩn chứa bên trong Bộ cờ Montglane"..

Khi hai người băng qua sân, người đầy tớ của David nhanh chóng chạy đến và lễ phép đứng cách xa một khoảng, siết chặt hai tay.

"Chuyện gì vậy, Pierre ?" David ngạc nhiên hỏi.

"Các cô", Pierre nói giọng lo lắng. "Họ biến mất rồi, thưa ngài".

"Sao cơ ?", David hét lên. "Ý ngươi là sao ?"

"Cách đây gần hai giờ, thưa ngài. Hai cô nhận được một lá thư từ đợt phát thư buổi sáng rồi họ ra vườn đọc thư. Tới bữa trưa chúng tôi ra tìm nhưng hai cô đã đi rồi ! Không còn cách giải thích nào khác, chúng tôi nghĩ có lẽ hai cô trèo qua bức tường khu vườn. Họ chưa quay về".

BỐN GIỜ CHIỀU

Ngay cả tiếng hô hào náo nhiệt của đám đông bên ngoài nhà ngục l’Abbaye cũng không thể át đi tiếng gào thét đinh tai nhức óc phía trong. Mireille sẽ không bao giờ có thể xóa bỏ âm thanh đó ra khỏi tâm trí mình được.

Đám đông đã chán đánh nhau ở cổng nhà ngục và ngồi lên những chiếc xe ngựa dính be bét máu của các linh mục bị tàn sát. Ngõ hẻm đầy rẫy những xác người bị phanh thây và giẫm nát.

Cuộc xét xử diễn ra phía trong đã gần được một tiếng đồng hồ. Một số người mạnh hơn đã nâng người khác lên các bức tường cao bao quanh tòa án trong ngục, và những người này, đang bò lên trên giật mạnh những chấn song sắt nhọn khỏi trụ tường đá, dùng như vũ khí và ném vào trong sân.

Một gã đứng trên vai người khác hét lên, "Mở cổng ra, mọi người ! Hôm nay công lý được thực thi !"

Đám đông phấn khích với âm thanh từng chấn song đang bị dỡ bỏ. Một trong số các cánh cổng gỗ đồ sộ bật mở, và đám người đang dồn hết sức xô cửa, ồ ạt ùa vào bên trong.

Tuy nhiên, những binh lính với các khẩu súng hỏa mai đã đẩy lùi được đám người đông đúc và dùng vũ lực đóng cổng lại. Giờ đây Mireille và những người khác chờ tin từ những người leo lên ngồi trên các bức tường theo dõi diễn tiến các cuộc xét xử giả tạo và tường thuật lại việc tàn sát cho những người ngồi chờ bên dưới như Mireille.

Mireille đã nện thùm thụp lên các cánh cổng nhà ngục và cố leo lên tường nhưng không ích gì. Cô kiệt sức chờ đợi bên cánh cửa, hy vọng họ sẽ lại mở cửa, dù chỉ một giây thôi, để cô có thể lẻn vào.

Ước mong của cô cuối cùng cũng được đáp ứng. Bốn giờ chiều, Mireille ngước mắt trông thấy một chiếc xe ngựa không mui trong ngõ hẻm, con ngựa dè dặt bước lên những xác chết nát vụn. Những người phụ nữ ngồi trên mấy chiếc xe nhà tù bỏ lại tỏ vẻ khoái trá khi thấy người đàn ông ngồi ở ghế sau. Và con hẻm nhỏ lại lần nữa vang vọng tiếng huyên náo khi đàn ông nhảy từ chỗ tường trên cao xuống và mấy mụ già ghê tởm trèo khỏi nóc xe để đi theo chiếc xe ngựa mới xuất hiện. Mireille kinh ngạc bật dậy.

Đó chính là bác David !

"Bác ơi, bác ơi !" cô hét lên, đưa tay quơ quào tìm đường len lỏi qua đám đông với khuôn mặt giàn giụa nước mắt. David trông thấy cô, nét mặt ông trở nên nghiêm nghị khi bước xuống xe và khó nhọc len qua đám người đến ôm chầm lấy cô.

"Mireille !" ông kêu lên khi đám người bu quanh lấy ông, vỗ lên lưng và hò reo chào đón ông. "Xảy ra chuyện gì vậy ? Valentine đâu rồi ?" Gương mặt ông đầy nỗi hãi hùng khi ông đỡ Mireille trong tay và cô nức nở không dứt.

"Em con ở trong nhà ngục", Mireille hét lên "Chúng con đến gặp một người bạn... chúng con con không biết chuyện gì đã xảy ra, bác ơi. Có lẽ đã quá muộn rồi".

"Đi, đi nào", David nói, len qua đám đông và vòng tay quanh người Mireille, vỗ vai vài người ông nhận ra họ khi họ lui bước nhường đường ông qua.

"Mở cửa ra !" vài người ngồi trên tường hét vọng xuống sân. "Ngài David ở đây ! Họa sĩ David ở ngoài cửa !"

Vài giây sau một trong những cánh cửa đồ sộ bật mở và những thân thể lấm lem xông lên ồ ạt, ép David vào cửa; rồi họ lướt nhanh vào trong và cánh cổng lại khép chặt.

Sân nhà ngục ngập trong biển máu. Trên khoảng đất nhỏ đầy cỏ, trước kia là mảnh vườn của tu viện, một linh mục nằm bệt dưới đất, đầu gục ra sau trên một tấm gỗ kê để hành hình. Tên lính trong bộ quân phục vấy máu tung tóe đang nhởn nhơ cầm thanh gươm cứa cổ vị linh mục, toan cắt rời đầu ông ta lìa khỏi thân người. Nhưng người linh mục chưa chết. Mỗi lần ông ta cố nhổm dậy, máu vọt ra từ vết dao ở cổ họng. Miệng ông ta mở to hét không thành tiếng.

Tất cả mọi người quanh sân đang nhốn nháo tới lui, đạp lên những xác chết nằm quằn quại trong những tư thế kinh hoàng. Không thể đếm xuể đã có bao nhiêu mạng người bị sát hại. Tay, chân, và thân mình người chết bị ném vào hàng rào còn ruột gan chất chồng thành đống dọc theo những luống hoa.

Mireille nắm chặt vai David và bắt đầu gào thét và thở dốc, nhưng ông ta ghì chặt lấy cô và thì thầm một cách gay gắt vào tai cô, "Hãy kiềm chế, bằng không chúng ta sẽ thất bại. Chúng ta buộc phải tìm ra con bé ngay lập tức".

Mireille cố hết sức lấy lại bình tĩnh trong khi David đưa ánh mắt lo ngại nhìn bao quát khắp sân. Đôi tay mềm yếu của người họa sĩ run rẩy khi ông chìa ra kéo mạnh ống tay áo của gã bên cạnh. Tên này mặc quân phục lính tả tơi nhưng không phải cai ngục, miệng hắn dường như dính máu, mặc dù không thấy hắn bị thương chỗ nào.

"Ai ra lệnh ở đây ?" David hỏi. Tên lính bật cười rồi ra hiệu về phía cái bàn gỗ dài có vài người ngồi ở gần lối vào nhà ngục. Một đám đông tụ tập gần bàn, trước mặt những người ở đó.

Khi David giúp Mireille băng qua sân, ba vị linh mục bị lôi xuống những bậc thềm lối vào nhà ngục và bị ném mạnh xuống trước bàn. Đám đông cười nhạo họ và các tên lính dùng lưỡi lê để đẩy lùi những kẻ chế giễu. Sau đó binh lính kéo lê chân các linh mục và giữ họ trước bàn.

Năm người ngồi sau bàn lần lượt thẩm vấn vị linh mục. Một ông liếc mắt qua mớ giấy tờ trên bàn, ghi nhanh vài chữ rồi lắc đầu. Những người linh mục bị xoay người và mang về phía giữa sân, khuôn mặt họ trắng bệch nỗi kinh hoàng như xác chết khi họ biết chuyện gì sắp xảy ra với mình. Đám đông trong sân reo hò inh ỏi khi thấy những nạn nhân mới đang bị lôi ra xử tử. David nắm chặt Mireille và đẩy cô tới bàn nơi những thẩm phán ngồi, chỗ đó giờ bị khuất tầm nhìn bởi đám đông chờ đợi, phấn khích việc hành hình.

David đến cái bàn ngay khi những kẻ ngồi trên bờ tường hô to lời phán quyết cho đám người bên ngoài nghe.

"Xử tử Cha Ambrose vùng San Sulpice !", tiếng hô đầu tiên vang lên và được hưởng ứng bằng tràng la hét và reo hò.

"Tôi là Jacques-Louis David", ông hét lên với vị thẩm phán gần nhất, át đi tiếng ồn vang dội bên kia các bức tường. "Tôi là thành viên của tòa án cách mạng. Ngài Danton phái tôi đến đây..."

"Chúng tôi biết rõ ông, Jacques-Louis David à", một người phía cuối bàn lên tiếng. David quay lại đối mặt ông ta và bật ra thở dốc.

Mireille nhìn xuống người ngồi đó và toàn thân lạnh toát. Gương mặt kiểu ấy cô chỉ thấy trong các cơn ác mộng, gương mặt cô hình dung khi nghĩ đến lời cảnh báo của nữ tu viện trưởng. Đó đúng là gương mặt của ác quỷ.

Gã thẩm phán thật gớm ghiếc. Da thịt của hắn là một đống bầy nhầy đầy sẹo và những chỗ lở loét mưng mủ. Mảnh vải bẩn thỉu quấn quanh trán hắn thấm đẫm thứ chất lỏng đục đục nhỏ giọt xuống cổ và bện lên đầu tóc nhớt nhợt. Khi gã liếc ánh mắt đểu cáng nhìn David, Mireille nghĩ những vết mụn mủ bao phủ lớp da tên này hẳn là rỉ ra từ bản chất xấu xa bên trong con người gã, đấy chính là hiện thân của Ác quỷ.

“À, ra là ông", David nói thầm. "Vậy mà tôi nghĩ ông bị..."

"Bệnh à ?" gã cướp lời. "Đúng vậy, nhưng không bao giờ bệnh nặng đến nỗi không thể phục vụ đất nước, thưa ông".

David đi xuống cuối bàn đến chỗ cái gã ghê tởm đó, dù ông có vẻ sợ phải đến quá gần. Kéo Mireille theo sau, ông rỉ tai cô, "Con đừng nói gì cả. Chúng ta đang gặp nguy".

Đến cuối bàn, David ngả người về phía tên thẩm phán và nói "Tôi đến theo lệnh ngài Danton, để giúp đỡ với tư cách của tòa án", ông nói.

"Chúng tôi không cần sự trợ giúp, thưa ông", gã ngắt lời. "Hầm ngục này chỉ mới là nơi đầu tiên. Những kẻ phản quốc bị giam giữ ở mọi nhà tù. Khi trừ khử hết bọn đó ở đấy, chúng tôi sẽ sang những nhà tù khác. Không thiếu người tình nguyện ở nơi công lý được thực thi. Về nói ngài Danton rằng có tôi ở đây. Vấn đề này rất được quan tâm kiểm soát".

"Tốt", David nói, ngập ngừng chìa tay vỗ nhẹ lên vai cái gã bẩn thỉu đó cùng lúc một tiếng hét khác vang lên từ đám đông phía sau họ. "Tôi biết ông là một công dân danh dự và là thành viên Quốc hội. Nhưng chỉ có một vấn đề, tôi chắc rằng ông có thể giúp tôi".

David siết tay Mireille và cô đứng im, nín thở nghe ông nói tiếp. "Cháu gái tôi tình cờ đi ngang qua nhà ngục này vào lúc trưa, và vô tình bị bắt nhầm vào trong này. Chúng tôi tin... tôi hy vọng không có chuyện gì xảy ra với nó, vì nó là một cô gái ngây thơ không hiểu gì về chính trị. Tôi muốn xin được vào nhà ngục tìm nó".

"Cháu gái ông ư ?" gã nói, lại đưa ánh mắt đểu cáng về phía David. Hắn thọc tay vào xô nước đặt cạnh chân và rút ra một mảnh vải ướt. Hắn tháo miếng vải trên trán ra, ném vào xô rồi quấn mảnh vải sũng nước lên, thắt nút lại. Nước chảy xuống mặt, nhỏ giọt lên vết mủ rỉ ra từ những chỗ lở loét hở miệng. Mùi xác chết thối rữa nơi con người gã này xộc vào mũi Mireille còn nồng nặc kinh tởm hơn cả mùi tanh tưởi của máu và nỗi sợ hãi ngập tràn mảnh sân. Nó khiến cô do dự và cô nghĩ có thể mình choáng váng do một tiếng hò reo khác lại vang lên phía sau lưng. Cô cố gắng không nghĩ đến ý nghĩa của từng tràng hô hào này.

"Ông không cần mất công tìm kiếm", tên thẩm phán dễ sợ lên tiếng. "Nó là đứa tiếp theo được đem ra xét xử. Tôi biết mấy đứa con nuôi của ông là ai, David à. Kể cả đứa này". Hắn không nhìn mà chỉ hất đầu về phía Mireille. "Chúng là giới quý tộc thuộc dòng họ de Remy. Chúng đến từ Tu viện Montglane. Chúng tôi đã thẩm vấn kỹ càng "cháu gái" của ông trong ngục rồi".

"Không !" Mireille hét lên, giằng ra khỏi tay David. "Valentine ! Các ông đã làm gì em tôi ?" Cô với tay qua bàn túm lấy kẻ xấu xa nhưng David kéo cô lại.

"Đừng ngốc thế”, ông rít lên với cô. Mireille lại giằng co khi tên thẩm phán hôi thối kia giơ tay lên. Mặt đất rung chuyển khi hai thân người bị ném xuống các bậc thềm nhà tù ở phía sau cái bàn. Mireille phóng vụt tới, chạy ra sau bàn và băng qua những bãi rào, khi trông thấy mái tóc vàng của Valentine ập xuống, thân người mỏng manh của đứa em lăn xuống những bậc thang bên cạnh thân thể một linh mục trẻ tuổi. Người linh mục gượng dậy và đỡ Valentine đứng lên khi Mireille lao vào vòng tay Valentine.

"Valentine, Valentine", Mireille hét lên, nhìn khuôn mặt thâm tím và đôi môi nứt nẻ của cô em họ.

"Những quân cờ", Valentine thều thào, đôi mắt ngây dại khi lướt nhìn khắp sân. "Xơ Claude nói em biết chỗ của chúng. Có sáu quân.. "

"Đừng bận tâm chuyện đó", Mireille nói, vỗ về Valentine trong vòng tay. "Bác của chúng ta ở đây. Chúng ta sẽ giải thoát em..."

"Không !" Valentine gào lên. "Họ sắp giết em, chị ơi. Họ biết chuyện những quân cờ.. chị hãy nhớ lấy bóng ma ! De Remy, de Remy", cô lảm nhảm, cứ lặp đi lặp lại cái họ của mình trong vô thức. Mireille cố trấn tĩnh em lại.

Ngay lúc đó Mireille bị một tên lính túm lấy, hắn dùng tay giữ ngăn không cho cô giãy giụa. Cô thất thần nhìn về phía David, lúc này ông đang chồm qua bàn và trình bày một cách điên cuồng với ban thẩm phán xấu xa. Mireille vùng vẫy và cố cắn tên lính khi có hai gã đến nhấc Valentine lên, kéo đến trước cái bàn. Chứng xốc Valentine đứng trước mặt ban thẩm phán. Lúc đưa mắt nhìn sang chỗ Mireille, khuôn mặt cô tái xanh và khiếp sợ. Và rồi Valentine mỉm cười, nụ cười như ánh nắng mai rạng rỡ chiếu xuyên qua đám mây âm u. Mireille thôi vật lộn giây lát và mỉm cười lại. Thình lình cô nghe giọng nói vang lên sau bàn. Nó vọng lại như tiếng roi da quất đen đét vào tâm trí cô và vang dội vào những bức tường quanh sân.

"Tử hình !"

Mireille thừ người ra dựa vào tên lính. Cô gào rú và thét to về phía David còn ông gục lên mặt bàn, nước mắt tuôn trào. Valentine bị kéo lê chầm chậm qua nền sân sỏi đá đến mảnh đất đầy cỏ phía bên kia. Mireille liều lĩnh kháng cự lại đôi bàn tay thô cứng trói buộc cô. Bỗng thình lình có cái gì đó húc vào cô từ bên hông. Cả cô và tên lính đều ngã lăn ra đất. Đó là vị linh mục trẻ tuổi lúc nãy bị xô ngã xuống những bậc thềm nhà ngục cùng Valentine. Anh ta muốn giải thoát cho cô nên xông vào cả hai trong lúc tên lính đang túm lấy cô. Khi hai người kia còn lăn lộn dưới đất, Mireille thoát ra bỏ chạy đến cái bàn. David đứng ở cái bàn đó, mọi hy vọng trong ông sụp đổ tiêu tan. Cô nắm lấy chiếc áo bẩn thỉu của gã thẩm phán và hét vào mặt hắn:

"Ngừng mệnh lệnh lại !"

Quay ra sau, cô thấy Valentine bị kẹp chặt dưới đất bởi hai gã vạm vỡ. Chúng đã cởi bỏ áo khoác và xắn tay áo lên. Không thể mất thêm một giây nào. "Thả em tôi ra !" cô hét toáng lên.

"Ta sẽ thả", tên thẩm phán nói, "chỉ khi ngươi khai ra điều em ngươi từ chối tiết lộ. Nói ta nghe Bộ cờ Montglane giấu ở đâu. Ta biết trước khi bị bắt, cô em nhỏ của ngươi nói chuyện với kẻ nào, ngươi thấy đấy..."

"Nếu tôi nói ông nghe", Mireille hấp tấp nói, đưa mắt ra sau nhìn Valentine lần nữa, "ông sẽ thả em tôi chứ ?"

"Ta phải có chúng !" hắn nói một cách hung tợn, nhìn cô với ánh mắt khắc nghiệt, lạnh lùng. Đôi mắt của một gã điên, Mireille thầm nghĩ. Trong thâm tâm cô e sợ nhưng vẫn bình tĩnh đáp lại cái nhìn chằm chằm của hắn.

"Nếu ông thả em tôi, tôi sẽ nói ông nghe chúng ở đâu".

"Nói ta nghe !" hắn gào thét.

Mireille có thế cảm thấy hơi thở hôi thổi của hắn phà trên mặt khi hắn ngả người về phía cô. Kế bên, David đang rên rỉ than vãn nhưng cô không để tâm. Hít một hơi sâu và cầu xin sự tha thứ của Valentine, cô từ tốn nói, "Chúng được chôn trong vườn phía sau xưởng vẽ của bác tôi".

"A ha !" hắn reo lên. Đôi mắt hắn cháy rực ngọn lửa tàn bạo trong lúc nhảy cẫng lên và nghiêng qua phía bên kia bàn, chỗ Mireille. "Ngươi sẽ không dám gạt ta đâu. Vì nếu ngươi làm thế ta sẽ săn lùng ngươi khắp cùng trời cuối đất. Những quân cờ này phải là của ta !"

'Thưa ông, tôi van ông", Mireille kêu lên "Điều tôi nói với ông là sự thật".

"Vậy ta tin ngươi", hắn nói với cô. Giơ tay lên cao, hắn đưa mắt qua bãi cỏ đến chỗ hai gã đang giữ chặt Valentine dưới đất chờ lệnh. Mireille nhìn gương mặt kinh khiếp, méo mó vượt ngoài sức tưởng tượng và thề với lòng rằng ngày nào cô còn sống và ông ta còn tồn tại, cô sẽ không bao giờ quên hình ảnh đó. Cô khắc sâu khuôn mặt ông ta vào tâm trí, gã đàn ông này đã vô cùng tàn nhẫn đối với sinh mạng đứa em thân yêu của cô. Cô sẽ mãi mãi ghi nhớ.

"Ông là ai ?" Cô hỏi khi hắn ta nhìn về phía bãi cỏ, quay lưng với cô. Chậm rãi, hắn ngoảnh lại đối mặt với cô và sự căm hờn trong mắt hắn khiến cô lạnh buốt tận xương tủy.

"Ta là cơn thịnh nộ của mọi người", hắn thì thầm. "Giới quý tộc sẽ sụp đổ, giới tăng lữ sẽ sụp đổ và cả giai cấp tư sản. Chúng sẽ bị chà đạp dưới chân ta. Ta khạc nhổ lên tất cả bọn ngươi, những đau khổ các ngươi gây ra cho chúng ta sẽ đổ ập lại lên đầu các ngươi. Ta sẽ phá hủy, làm tiêu tan mọi chốn thiện đường. Ta sẽ có Bộ cờ Montglane ! Ta sẽ sở hữu nó ! Nó phải là của ta ! Nếu ta không tìm thấy nó ở nơi ngươi nói, ta sẽ săn lùng ngươi đến cùng đường - ngươi sẽ phải trả giá !"

Giọng nói chua cay của hắn văng vẳng bên tai Mireille.

"Tiếp tục hành hình đi !" hắn hét lên, và đám đông lập tức bắt đầu cất tiếng la ó rùng rợn. "Tử hình ! Tuyên án tử hình !"

"Không !" Mireille gào khản cả giọng. Một tên lính tóm lấy cô nhưng cô vùng ra xa. Trong cơn điên cuồng man dại, cô cắm đầu chạy băng qua sân, vạt áo kéo lê qua những vũng máu chảy tràn thấm vào các khe hở giữa nền sỏi đá. Qua một rừng các khuôn mặt gào thét, cô trông thấy cái rìu hai ngạnh sắc lẻm vung lên trên thân thể kiệt quệ của Valentine. Mái tóc của Valentine óng ánh sắc bạc dưới cái nóng mùa hè, xõa tung ra trên mảnh đất đầy cỏ nơi cô nằm.

Mireille lao vút qua hàng đống thi thể, đến gần cảnh tượng hãi hùng, đến gần để chứng kiến tận mắt cảnh giết chóc. Với một cú bay người, cô phóng thân mình lên không trung, rơi ngang qua thân thể Valentine, đúng lúc cái rìu chém xuống. 

NGƯỜI DỊCH: NGUYỄN LÂM XUÂN CÁC
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.