Vùng đất hiếu chiến hiện người Briton chiếm hữu,
Và tại đó họ tạo dựng nên một đế chế hùng mạnh,
Thời cổ đại ở vùng hoang vu man rợ.
Không cư dân, không trồng trọt, không minh chứng, không ca tụng...
Nơi đây không xứng đáng với tên gọi,
Tới khi đoàn thủy thủ thích phiêu lưu đến nơi,
Xem xét những hòn đá trắng để chiếm lấy
Tất cả những gì nằm dọc theo bờ biển phương nam
Đe dọa những đống hoang tàn mục nát
Dựng nên ngọn hải đăng làm chốt an toàn
Và đặt tên là Albion.
- The Faerie Queene (1590)- Edmund Spenser
A, bọn phản bội bọn Anh quốc phản bội !
- Napoléon-
Trích dẫn Jacques Bénigne Bossuet (1692)
Bốn giờ sáng, bọn lính của William Pitt nện cửa ngôi nhà Talleyrand trên đường Kensington. Courtiade khoác vội áo choàng và hấp tấp chạy lên xem nguyên nhân gây huyên náo. Mở cửa ra, anh ta thấy những ánh đèn lung linh vừa thắp lên trong những căn nhà gần đó và vài người hàng xóm tọc mạch săm soi qua lớp mành cửa nhìn đám binh lính hoàng gia đang đứng trên bậc thềm trước nhà. Courtiade hít vào một hơi.
Họ đã sợ hãi chờ đợi điều này từ lâu, cuối cùng nó cũng xảy đến. Talleyrand đang đi xuống cầu thang, chiếc khăn choàng lụa quấn chặt tuột ra rũ xuống cái áo choàng dài. Khuôn mặt anh lạnh lùng dè dặt khi bước qua hành lang nhỏ đến chỗ những tên lính đang chờ.
"Giám mục Talleyrand phải không ?" viên sĩ quan chỉ huy lên tiếng.
"Như ông đã biết". Tailleyrand cúi chào, mỉm cười hờ hững.
"Thủ tướng Pitt lấy làm tiếc không thể đích thân giao những giấy tờ này", viên sĩ quan nói như thể đang trả bài diễn văn đã học thuộc lòng. Rút khỏi túi một xấp giấy tờ, ông ta giúi vào tay Talleyrand và nói tiếp. "Nước Cộng hòa Pháp, đất nước theo chủ trương vô chính phủ không được công nhận, đã tuyên chiến với vương quốc Anh có chủ quyền. Tất cả những người lưu vong ủng hộ cái gọi là chính quyền này, hay những ai trước đây xem như đã ủng hộ, bị khước từ cho nương náu và được vương triều Hamover cùng đức vua George đệ Tam bảo vệ. Charles Maurice cie Talleyrand-Périgord, ông bị phát hiện phạm tội có hành vi làm loạn chống lại vương quốc Anh, vi phạm đạo luật Thư từ Phản quốc năm 1793, âm mưu chống lại nước cầm quyền với tư cách nguyên là trợ lý ngoại trưởng của đất nước nói trên..”
"Sĩ quan thân mến", Talleyrand ngắt lời với giọng cười hằn học, rời mắt khỏi xấp giấy tờ đang xem xét kỹ. "Điều này thật vô lý. Pháp tuyên chiến với Anh gần cả năm trước rồi ! Và ông Pitt biết rất rõ tôi đã làm mọi điều trong quyền hạn của mình để ngăn việc này. Tôi bị truy nã vì tội phản quốc ở Pháp, điều đó chưa đủ nói lên sao ?" Nhưng lời lẽ của anh không lọt tai những sĩ quan đứng ở cửa.
"Bộ trường Pitt thông báo rằng ông có ba ngày để rời khỏi Anh. Kia là những giấy tờ trục xuất và giấy phép đi lại của ông. Chúc ông buổi sáng tốt lành, thưa giám mục".
Hô mệnh lệnh đằng sau quay, ông ta xoay người bằng gót chân. Talleyrand im lặng nhìn đám binh lính diễu hành theo nhịp bước, rời cổng nhà anh và đi xuống con đường đá. Sau đó, anh lặng lẽ quay vào, Courtiade đóng cửa lại.
"Albus per fide decipare”, Talleyrand thì thào. "Courtiade thân mến, đó là lời trích dẫn của Bossuet, một trong những nhà hùng biện vĩ đại nhất mà nước Pháp từng biết. Ông ta gọi nó là "Bạch Địa đánh lừa bằng lòng tin". Nước Anh phản bội. Một dân tộc chưa bao giờ được chính chủng tộc của mình cai trị, đầu tiên là người Anglo-Saxon, sau đến người Norman và Scot, còn bây giờ là German, dân chúng kinh tởm những kẻ cầm quyền nhưng lại rất giống bọn đó. Họ nguyền rủa chúng ta nhưng lại mau quên họ cũng đã giết nhà vua của chính mình trong thời Cromwell. Giờ họ xua đuổi những người không mong khống chế họ ra khỏi nước Pháp - đồng minh tốt nhất của họ.
Anh ta đứng đó, đầu cúi xuống, chiếc khăn lụa tuột xuống sàn. Courtiade hắng giọng.
"Nếu giám mục đã chọn được nơi dừng chân, con có thể bắt đầu thu xếp chuyến đi ngay lập tức..."
"Ba ngày không đủ", Talleyrand nói, tập trung trở lại. "Sáng sớm, ta sẽ đến chỗ ông Pitt xin được gia hạn. Ta phải kiếm ra tiền và tìm một đất nước sẽ chấp nhận cho ta đến sống".
"Còn phu nhân de Stael... ?" Courtiade lễ độ hỏi.
"Germaine đã làm hết sức để ta có thể đến Geneva nhưng chính phủ nơi đó từ chối. Có vẻ đối với ai, ta cũng là một kẻ phản bội. À, Courtiade, triển vọng của con người lúc về già, mất đi mới nhanh làm sao !"
"Giám mục đã về già đâu", Courtiade phản đối.
Talleyrand chăm chú nhìn anh ta bằng cặp mắt xanh hoài nghi. "Ta bốn mươi tuổi và là một kẻ thất bại", anh nói. "Chưa đủ sao ?"
"Nhưng không phải thất bại trong mọi thứ", một giọng nhẹ nhàng cất lên từ phía trên.
Hai người ngước lên cầu thang. Đầu cầu thang, Catherine Grand đứng đó, dựa vào lan can, trong chiếc áo choàng lụa mỏng manh, mái tóc dài vàng óng của cô xõa xuống bờ vai trần.
"Thủ tướng có thể có anh ngày mai, nhanh thôi", cô nói và nở nụ cười lẳng lơ từ tốn. "Nhưng đêm nay, anh là của em".
Catherine Grand bước vào cuộc đời Talleyrand cách đây bốn tháng, cô tới nhà anh lúc nửa đêm, mang theo quân Tốt bằng vàng của Bộ cờ Montglane. Từ đó, cô ấy không rời đi.
Cô đến trong sự tuyệt vọng, cô đã nói thế. Mireille bị chém đầu và với hơi thở cuối cùng, cô ấy đã van nài Catherine mang quân cờ này đến chỗ Talleyrand để anh có thể giấu nó vừa lúc anh đã có những quân khác. Ít ra, đó là câu chuyện của cô ta.
Cô ta run rẩy trong vòng tay anh, nước mắt đẫm trên đôi mi dày, thân thể ấm áp của cô ép sát người anh. Cô ấy có vẻ đau khổ biết bao trước cái chết của Mireille, Talleyrand được an ủi biết bao trong nỗi thương tiếc của chính anh, và đẹp biết bao khi cô ấy quỳ xuống van xin lòng tốt dành cho hoàn cảnh tuyệt vọng khốn cùng của mình.
Maurice luôn luôn say mê cái đẹp, cái đẹp của các tác phẩm nghệ thuật, cái đẹp của các động vật thuần chủng, và đặc biệt nhất là cái đẹp phụ nữ. Mọi thứ về Catherine Grand đều tuyệt đẹp: làn da mượt mà không chút tì vết, thân hình tuyệt mỹ cùng bộ trang phục và trang sức không chê vào đâu được, hơi thở mang mùi hương hoa violet, suối tóc vàng nhạt óng ả. Và mọi thứ về cô đều gợi anh nhớ đến Valentine. Mọi thứ, nhưng trừ một điều: cô ả là kẻ dối trá.
Nhưng ả lại là một cô nàng giả dối xinh đẹp. Sao thứ gì quá tuyệt đẹp lại dường như quá nguy hiểm, quá xảo trá, quá xa lạ đối với anh ? Người Pháp có câu: nơi tốt nhất để khám phá tính cách một người xa lạ là trên giường. Maurice thú nhận anh rất sẵn lòng để thử.
Càng khám phá, cô ta càng có vẻ phù hợp với anh một cách hoàn hảo về mọi mặt. Có lẽ là quá hoàn hảo. Cô ta thích rượu vang ở đảo Madeira, âm nhạc của Haydn và Mozart, thích mặc lụa Trung Hoa hơn của Pháp. Catherine cũng yêu chó như anh, tắm ngày hai lần, một thói quen anh vẫn tưởng chỉ mình mình mới có. Dường như cô ta nghiên cứu sở thích của anh, thật ra, anh cảm thấy chắc rằng cô ta đã làm vậy. Catherine biết nhiều thói quen của anh còn hơn cả Courtiade. Nhưng những lời lẽ cô ta nói về quá khứ của mình, mối quan hệ với Mireille hay hiểu biết về Bộ cờ Montglane lại có vẻ giả tạo. Anh quyết định tìm hiểu người phụ nữ này nhiều như cô ta đã làm đối với anh. Anh viết thư cho những người vẫn còn tin cậy được ở Pháp, và cuộc điều tra bắt đầu. Lá thư thu về những kết quả thú vị.
Cô ta sinh ra với cái tên Catherine Noel Worlee, là con một cặp vợ chồng người Pháp sống tại khu dân cư Hà Lan của Tranquebar, Ấn Độ và tuổi thực của cô ta lớn hơn bốn năm so với lời cô ta kể. Mười lăm tuổi, vì tiền mà cha mẹ gả cô cho một người Anh già hơn cô rất nhiều, một gã George Grand nào đó. Năm mười bảy tuổi, tình nhân của cô, người bị ông chồng dọa sẽ bắn chết, đã cho cô năm mươi ngàn đồng rupi để rời khỏi Ấn Độ vĩnh viễn. Khoản tiền đó cho phép cô sống xa hoa ở Luân Đôn rồi đến Paris.
Tại Paris dấy lên sự hoài nghi rằng cô ta là gián điệp cho Anh. Không lâu trước cuộc khủng bố, người gác cổng đã bị bắn chết ngay ngưỡng cửa nhà cô, còn bản thân Catherine biến mất. Giờ đây, vừa tròn một năm, cô tìm gặp Talleyrand đang sống cảnh tha hương tại Luân Đôn, một người đàn ông không tước hiệu, không tiền bạc, không xử sở, với hy vọng nhỏ nhoi là viễn cảnh của anh ta sẽ đổi khác. Tại sao ?
Trong khi anh tháo dây lụa hồng trên áo cô và tuột áo ra khỏi vai, Talleyrand mỉm cười một mình. Xét cho cùng, anh tạo dựng sự nghiệp cho chính mình nhờ sức quyến rũ của bản thân đối với phụ nữ. Phụ nữ chu cấp cho anh tiền bạc, địa vị, và quyền lực. Sao anh có thể chê trách Catherine Grand về việc cô ấy sử dụng nguồn vốn tự có to lớn của mình theo cách cũng giống như anh ? Nhưng cô ta muốn gì ở anh ? Talleyrand nghĩ mình biết điều đó. Chỉ có duy nhất một thứ anh sở hữu khiến cô ta theo đuổi, cô ta muốn Bộ cờ Montglane.
Nhưng anh muốn cô ta. Dù anh biết cô quá dày dạn chứ không hề ngây thơ, giả bộ chứ không phải say đắm thật sự, quá xảo quyệt không thể tin tưởng, nhưng anh muốn cô với sự khẩn thiết không thể kiểm soát. Dù mọi thứ về cô ta đều là thủ đoạn và ngụy trang nhưng dù sao anh vẫn muốn.
Valentine đã không còn. Nếu Mireille cũng đã bị giết thì Bộ cờ Montglane đã lấy đi của anh sinh mạng hai người con gái anh từng yêu. Tại sao nó không đền đáp anh thứ gì chứ ?
Anh ghì chặt cô với niềm say mê nồng nhiệt, vô bờ như cơn khát khao cháy bỏng. Anh sẽ có cô và để ma quỷ đọa đày mình xuống địa ngục.
Tháng giêng năm 1794
Mireille đã ở cách xa cái chết nhưng không xa Luân Đôn. Cô ra hải ngoại trên chiếc tàu buôn, trong khi cơn bão sắp ập đến gần kề mà họ vẫn còn đang lênh đênh giữa làn nước sẫm màu của biển Măngsơ. Khi tàu vượt qua những eo biển nổi sóng, cô thoáng thấy những đường nét đầu tiên của vách đá trắng Dover.
Mireile đã đi xa sáu tháng, kể từ ngày để Charlotte Corday thế chỗ mình trong nhà ngục Bastille. Với số tiền tìm thấy trong hộp màu vẽ do nữ viện trưởng gửi cho, cô thuê một chiếc thuyền đánh cá nhỏ gần cảng Bastille đưa cô đi dọc sông Seine đến khi tìm thấy một chiếc tàu sang Tripoli, tại một trong những bến tàu của con sông uốn khúc. Bí mật thỏa thuận chuyến đi, cô lên tàu nhổ neo ra khỏi sông Seme trước cả khi Charlotte bị đưa ra pháp trường.
Khi bờ biển nước Pháp mất hút phía sau, Mireille tưởng như vẫn còn nghe thấy tiếng bánh xe kĩu kịt đưa Charlotte ra máy chém. Trong tâm trí, cô nghe thấy những bước chân nặng nề trên giàn giáo, những hồi trống vang rền, lưỡi dao phập xuống vun vút, đám đông reo hò trong quảng trường Cách mạng. Mireille cảm thấy lưỡi dao lạnh lùng đã chém đứt rời mọi thứ còn lại của tuổi thơ và sự ngây ngô, hồn nhiên, chỉ để lại trong cô nhiệm vụ tiền định. Nhiệm vụ cô được chọn là người hoàn thành nó, nhiệm vụ tiêu diệt quân Hậu trắng và hợp nhất các quân cờ.
Nhưng trước mắt cô còn một nhiệm vụ khác, đến sa mạc đón con mình. Có được cơ hội thứ hai, cô vượt qua ý định khăng khăng của Shahin muốn giữ đứa bé ẵm ngửa làm một Kalim, người tiên tri của dân tộc ông. Mireille nghĩ thầm nếu thằng bé là một nhà tiên tri thì hãy để vận mệnh nó gắn kết với số phận của chính cô.
Nhưng giờ đây, khi những cơn gió vùng biển phương bắc quất tới tấp vào trục căng buồm và những giọt mưa đầu tiên trút xuống, Mireille tự hỏi cô có sáng suốt không khi lần lựa quá lâu mà chưa chịu đến Anh quốc, đến chỗ Talleyrand, người giữ các quân cờ. Cô nắm bàn tay bé xíu của Charlot trong lúc thằng bé ngồi vào lòng cô trên boong thuyền. Shahin đứng cạnh hai mẹ con, quan sát một chiếc tàu khác vượt qua, đi vào vùng biển Măngsơ sóng gió. Shahin khoác những chiếc áo choàng dài màu đen, cự tuyệt không chịu xa lìa nhà tiên tri nhỏ bé mà ông giúp nó chào đời. Ông đang giơ cánh tay dài chỉ về hướng các đám mây đen, là đà trên khắp những vách đá trắng bệch,
"Bạch Địa đỏ", ông bình thản lên tiếng, "Lãnh thổ của Nữ Hoàng Trắng. Bà ấy đang đợi, thậm chí ở cách rất xa tôi cũng có thể cảm nhận sự hiện diện của bà ta".
"Tôi cầu mong chúng ta không quá trễ", Mireille nói.
"Tôi đoán có nghịch cảnh xảy ra", Shahin đáp, "Nó luôn đến cùng những cơn bão, như một món quà nguy hiểm của các vị thần...". Ông tiếp tục quan sát chiếc tàu căng buồm đi trong gió, bị nuốt chửng vào bóng tối của sóng biển dữ dội. Họ không hề hay biết chiếc tàu đó đang chở Talleyrand đi ra hướng Đại Tây Dương.
***
Khi chiếc tàu lướt đi trong cảnh tối tăm mù mịt, ý nghĩ trong đầu Talleyrand không phải dành cho Catherine Grand mà là về Mireille. Thời kỳ ảo tưởng đã chấm dứt, và có lẽ mạng sống Mireille cũng thế. Trong khi anh, ở độ tuổi bốn mươi, một lần nữa ra đi để bắt đầu cuộc sống.
Vừa ngồi trong buồng tập hợp lại giấy tờ, Talleyrand vừa nghĩ ngợi, nói cho cùng, bốn mươi chưa phải tuổi kết thúc cuộc đời, và nước Mỹ cũng không phải nơi tận cùng thế giới. Có được thư giới thiệu với tổng thống Washington và bộ trưởng Bộ tài chính Alexander Hamilton, ít ra, anh tốt số hơn những người khác ở Philadelphia. Và tất nhiên, anh biết Jefferson, người vừa từ chức ngoại trưởng, trong thời gian ông ta giữ chức vụ đại sứ tại nước Pháp của anh.
Dù ít khi nhìn lại bản thân, nhưng giờ đây, trừ sức khỏe tuyệt vời và khoản tiền mặt có được sau khi bán thư viện sách, ít ra anh toại nguyện vì đang nắm trong tay chín quân cờ của Bộ cờ Montglane, thay vì tám quân ban đầu. Bất chấp mọi thủ đoạn quỷ quyệt của cô ả Catherine Grand xinh xắn, anh đã thuyết phục cô tin rằng, nơi ẩn nấp của anh cũng sẽ bảo vệ được quân Tốt bằng vàng mà cô đã giao phó cho anh. Anh bật cười khi nghĩ đến vẻ mặt của cô trong cuộc chia ly đầy nước mắt giữa hai người, anh đã cố thuyết phục cô nên đi với anh hơn là lo lắng về những quân cờ anh đã cất giấu rất kỹ để lại Anh quốc !
Tất nhiên, chúng nằm trong rương hòm trên tàu, nhờ tài xoay sở của Courtiade luôn luôn lanh lợi. Giờ họ sẽ có chỗ ở mới. Anh đang nghĩ ngợi những điều này thì chiếc tàu bị va đập mạnh lần đầu tiên.
Anh ngạc nhiên ngước lên khi chiếc tàu tròng trành dữ dội dưới chân. Anh sắp rung chuông nhờ giúp đỡ thì Courtiade xộc vào buồng.
"Thưa giám mục, người ta yêu cầu chúng ta đi xuống boong dưới ngay lập tức", người đầy tớ lên tiếng với giọng bình thản như mọi khi. Nhưng những cử chỉ gấp rút khi đi lấy các quân cờ của Bộ cờ Montglane ra khỏi chỗ cất giấu trong rương hòm của người đầy tớ cho thấy tình hình khẩn cấp. "Thuyền trưởng nghĩ tàu sẽ bị cuốn vào đá. Chúng ta phải chuẩn bị xuống tàu cứu hộ. Họ sẽ giữ boong trên cùng được trống để điều khiển buồm, nhưng chúng ta nên sẵn sàng lên đó lập tức, nếu không thể thoát khỏi bãi cát ngầm".
"Bãi cát ngầm nào ?" Talleyrand kêu lên, bật dậy hoảng hốt, suýt đánh rơi cây bút và giá cắm.
"Thưa giám mục, chúng ta đã qua mũi cảng Barfleur", Courtiade điềm tĩnh đáp, cầm áo khoác của Talleyrand trong khi con tàu lắc lư khiến họ không thể đứng yên. "Chúng ta đang ở con đường dọc Normandy". Người đầy tớ cúi người nhét các quân cờ vào vali cầm tay.
"Chúa ơi", Talleyrand thốt lên, túm lấy vali. Anh khập khiễng đến cửa buồng, vừa dựa vào một bên vai người đầy tớ vừa nắm chặt chiếc vali. Chiếc tàu đột ngột nghiêng về mạn phải và hai người bị ngã ập vào cửa. Khó nhọc thu dọn xong hết, họ bước dọc hành lang nhỏ hẹp. Nơi đây, những người phụ nữ đang nức nở thổn thức kích động ra lệnh cho con cái của mình nhanh lên. Lúc hai người đến boong dưới, dân chúng chen chúc đầy nghẹt khắp nơi, tiếng kêu la inh ỏi, khóc thét, than van do sợ hãi hòa lẫn với tiếng chân chạy rầm rập và lời hô vang của các thủy thủ ở boong trên, cùng tiếng sóng biển đập dữ dội vào thân tàu.
Và sau đó, trong nỗi kinh hoàng, họ cảm thấy chính con tàu đang nghiêng ngả, khi những thân người ngã đè lên nhau như trứng rơi khỏi giỏ. Con tàu nghiêng và cứ tiếp tục nghiêng như thể không bao giờ ngừng lại. Rồi nó va đập và họ nghe tiếng gỗ nứt ra thật dễ sợ. Nước phọt qua lỗ hổng lởm chởm, cuốn họ khắp nơi với sức mạnh kinh hoàng khi con tàu khổng lồ đâm vào khối đá.
***
Cơn mưa lạnh buốt quật xuống con đường Kensington đá sỏi khi Mireille thận trọng bước trên các viên đá trơn trợt, hướng đến cánh cổng có lưới sắt của vườn nhà Talleyrand. Shahin theo gót, cẩn thận bế Charlot nhỏ bé trong tay, chiếc áo choàng dài màu đen của ông ướt sũng nước mưa.
Mireille chưa bao giờ nghĩ đến chuyện Talleyrand không còn ở Anh quốc. Nhưng trước cả khi mở cổng, cõi lòng cô nặng trĩu khi trông thấy khu vườn vắng tanh, hiên nhà quạnh quẽ, cửa sổ lát ván bên trong, cửa trước cài then sắt. Thế nhưng, cô vẫn mở cổng và đi dọc con đường đá, chiếc váy kéo lê qua mấy vũng nước mưa.
Tiếng đập cửa vô ích của cô vang vọng khắp ngôi nhà trống vắng. Khi nước mưa rơi xuống mái đầu để trần, cô nghe giọng nói kinh tởm của Marat văng vẳng bên tai, "Ngươi đã quá muộn, quá muộn rồi !" Cô dựa vào cửa, để mặc nước mưa tuôn rơi khắp người, đến khi cảm nhận bàn tay Shahin đặt dưới cánh tay cô, dẫn cô đi ra băng qua bãi cỏ ẩm ướt đến trú dưới hiên nhà.
Trong cơn tuyệt vọng, cô thả người úp mặt xuống băng ghế gỗ đặt quanh phần sân trong, thổn thức cho đến khi cảm thấy trái tim mình tan nát. Shahin đặt Charlot xuống đất và thằng bé bò tới chỗ Mireille, ghì chiếc váy ướt sũng của cô để loạng choạng đứng dậy trên đôi chân chưa vững. Thăng bé lấy bàn tay bé xíu của mình ôm ngón tay cô và siết thật chặt.
"Ơ", Charlot kêu lên khi Mireille nhìn vào đôi mắt xanh ngạc nhiên của con. Nó đang cau mày, khuôn mặt khôn ngoan, nghiêm nghị của thằng bé đẫm nước bên dưới cái mũ trùm đầu ướt sũng, trên chiếc áo choàng dài nhỏ xíu nó mặc.
Mireille bật cười, "ơ, con ơi” cô nói, kéo mũ trùm xuống, vuốt mái tóc đỏ mượt của con. "Cha con biến mất rồi. Con là nhà tiên tri mà, sao con không thấy trước chuyện này ?"
Charlot nhìn cô trang nghiêm, "ơ", thằng bé lại kêu lên.
Shahin ngồi xuống ghế cạnh cô. Khuôn mặt trông như chim ưng, nhuộm màu xanh nhạt theo bộ tộc của ông, dường như còn bí ẩn hơn cả ánh sáng kỳ quái phản chiếu từ cơn bão dữ dội gào thét bên ngoài hàng rào lưới.
"Trong sa mạc", ông nói khẽ, "có thể tìm thấy một người, theo dấu vết lạc đà anh ta cưỡi, vì mỗi con vật để lại dấu chân có thể nhận biết được như khuôn mặt. Ở đây, con đường khó theo đuổi hơn. Nhưng một người, cũng như lạc đà, có thói quen của riêng họ, thói quen hình thành từ dòng dõi, hình thể và dáng đi".
Mireille cười thầm với ý nghĩ theo dấu chân khập khiễng của Talleyrand qua những con đường sỏi đá của Luân Đôn. Nhưng rồi cô hiểu ra ngụ ý của Shahin.
"Một con sói luôn trở về nơi quen thuộc của nó phải không ?" cô hỏi.
"Ít ra", Shahin lên tiếng, "đủ lâu để lưu lại mùi".
***
Nhưng con sói để lại mùi mà họ tìm kiếm đó đã bỏ đi xa, không chỉ đi khỏi Luân Đôn, mà còn đi khỏi con tàu bị đập mạnh vào đá vỡ vụn tan nát. Cùng những hành khách khác, Talleyrand và Courtiade ngồi trên chiếc thuyền không mui, chèo đến bờ biển tối tăm của quần đảo Channel lấy đó làm nơi trú ẩn an toàn khỏi cơn bão đang lộng hành.
Đó cũng là nơi ẩn náu làm giảm bớt căng thẳng trong đầu Talleyrand, vì một dãy các hòn đảo nhỏ này, nép mình rất gần trong hải phận Pháp, thật ra là của Anh từ thời William xứ Orange .
Dân bản địa vẫn nói thứ tiếng Pháp lỗi thời đến mức cả người Pháp cũng không thể hiểu được. Dù họ đóng thuế thập phân cho Anh quốc để được bảo vệ chống lại cướp bóc nhưng họ vẫn giữ luật lệ cổ đại của người Norman, cùng với tinh thần độc lập nồng nhiệt đã cứu vớt và mang đến cho họ sự sung túc trong thời kỳ chiến tranh. Quần đảo Channel nổi tiếng về nạn đắm tàu, và những xưởng đóng tàu to lớn cung cấp mọi thứ từ thuyền chiến đến tàu săn lùng. Chiếc tàu bị tàn phá của Talleyrand sẽ may mắn được kéo đến chính những xưởng sửa chữa này. Và trong lúc đó, dù không được thoải mái trọn vẹn khi nghỉ ngơi tại đây, nhưng ít ra anh sẽ an toàn không bị nước Pháp bắt giữ.
Chiếc thuyền có mái chèo đi vòng tránh những tảng đá granit màu sẫm và lớp cát kết đỏ tía bao quanh rìa bờ biển. Các thủy thủ ra sức chèo vất vả chống lại những cơn sóng lớn cho đến khi thấy được dải đá ven bờ và đưa thuyền cập bến. Những hành khách kiệt sức đi bộ trong cơn mưa trút nước, dẫm lên những vệt bùn bên dưới các tán cây lanh và cây thạch nam ngủ đông sũng nước trên cao, tiến vào thị trấn gần nhất.
Talleyrand và Courtiade, cùng chiếc túi đựng những quân cờ còn nguyên vẹn một cách phi thường, dừng chân tại một quán rượu gần đó để làm ấm cơ thể bằng rượu mạnh cạnh bếp lửa, trước khi tìm nơi ở cố định. Không rõ họ sẽ bị kẹt lại đây bao nhiêu tuần, bao nhiêu tháng trước khi tiếp tục cuộc hành trình. Talleyrand hỏi thăm người chủ quán xem mất bao lâu các xưởng tàu địa phương có thể sửa xong một chiếc tàu bị lật úp và chọc thủng trầm trọng như thuyền của họ.
"Hỏi chủ xưởng tàu xem", người đàn ông đáp. "Ông ta mới đến, sau khi xem xét xác tàu đó. Người ngồi uống một lít bia trong góc kia kìa".
Talleyrand đứng dậy và băng qua gian phòng đến chỗ một người đàn ông khỏe mạnh khoảng hơn năm mươi tuổi đang ngồi, hai tay ôm cốc bia to. Ông ta ngước lên, nhìn Talleyrand và Courtiade đang đứng, ra hiệu mời họ ngồi.
"Các anh là người trên chiếc tàu bị đắm phải không ?" người đàn ông cất tiếng, đã nghe lỏm được cuộc trò chuyện lúc nãy. "Nghe họ nói tàu đi đến Mỹ. Một nơi không may mắn, tôi đến từ đó. Tôi sẽ không bao giờ hết ngạc nhiên làm thế nào người Pháp các anh lũ lượt đổ xô đến đó, như thể đó là miền đất hứa".
Lời nói của ông ta biểu hiện đây là một người được nuôi dạy tốt, thái độ cho thấy ông dành nhiều thời gian nắm quyền hơn là làm việc trong xưởng đóng tàu. Tác phong này vốn quen với việc ra lệnh, chưa kể mọi thứ trong lối diễn đạt thể hiện tâm trạng chán ngán, cay đắng đối với cuộc đời. Talleyrand quyết phải tìm hiểu thêm.
"Nước Mỹ dường như là miền đất hứa đối với tôi", anh nói. "Nhưng tôi là người ra đi không nhiều sự lựa chọn. Nếu tôi trở về quê hương, sẽ lập tức nếm mùi máy chém và nhờ bộ trưởng Pitt, mà mới đây tôi cũng phải rời xa những người dân ở Anh. Thế nhưng, tôi có thư giới thiệu đến vài vị trong số những đồng hương xuất chúng nhất của anh, bộ trưởng Hamilton và tổng thống Washington. Có lẽ họ sẽ tìm ra vài điểm có ích từ một người Pháp lớn tuổi không còn làm việc".
"Tôi biết cả hai rất rõ", người đàn ông đáp. "Tôi phụng sự lâu năm theo sự chỉ huy của George Washington. Chính ông ấy phong tôi làm lữ đoàn trưởng và thiếu tướng, cho tôi quyền kiểm soát Philadelphia".
"Tôi thật lấy làm kinh ngạc !" Talleyrand kêu lên. Nếu ông bạn này đã nắm những chức vụ đó, thì ông ta đang làm cái quái gì trong cảnh sống tăm tối không tên tuổi, sửa chữa tái tạo những chiếc tàu đắm tại quần đảo Channel và cung ứng các chiếc tàu săn lùng ? "Vậy chắc anh có thể rộng lòng đại diện giùm tôi viết một lá thư khác cho ngài tổng thống của anh chứ ? Tôi nghe nói khó gặp được ông ta..."
"Tôi e rằng lời giới thiệu của tôi còn khiến anh khó lòng gặp ông ấy hơn nữa", ông ta cười nham hiểm. "Cho phép tôi tự giới thiệu, tôi là Benedict Arnold"
***
Nhà hát, sòng bài, câu lạc bộ, triển lãm..., đó là những nơi Mireille nghĩ Talleyrand sẽ thường xuyên lui tới. Những nơi cô phải có được quyền ra vào để kiếm bằng được anh trên đất Luân Đôn này.
Nhưng khi trở về quán trọ, trông thấy tờ quảng cáo đính lên tường khiến cô phải xem lại toàn bộ các quyết định của mình trước khi đưa ra:
TUYỆT VỜI HƠN CẢ THÔI MIÊN !
Trí nhớ tài ba đáng kinh ngạc !
Được các triết gia Pháp ca ngợi !
Đánh thắng cả vua Frederick đệ Nhất, Phillip Stamma, và tất cả ! Đêm nay !
Cuộc trình diễn bịt mắt Của kiện tướng cờ vua trứ danh ANDRÉ PHILIDOR.
Quán cà phê Parsloe's
Đường St. James
***
Parsloe's trên đường St. James là một quán cà phê và câu lạc bộ mà chơi cờ vua là hoạt động chính. Trong những bức tường này người ta tìm thấy tinh hoa không chỉ trong làng cờ vua Luân Đôn mà còn của cả châu Âu. Và nhân vật có sức lôi cuốn lớn nhất là André Philidor, tay cờ người Pháp có danh tiếng bay khắp châu Âu.
Tối hôm đó, khi Mireille bước qua cánh cửa nặng nề của quán Parsloe's, cô như lạc vào một thế giới khác, một thế giới im ắng của giới thượng lưu. Trước mắt cô trải dài hàng hàng lớp lớp các vật dụng bằng gỗ được đánh bóng lộng lẫy, những mảnh lụa có vân xanh sẫm, những tấm thảm Ấn Độ dày, không gian thắp sáng bởi những ngọn đèn dầu dịu mắt trong những chụp đèn bằng kính màu khói.
Gian phòng gần như vẫn còn vắng ngoại trừ vài người phục vụ đang sắp đặt những cái ly thủy tinh ở quầy rượu và một người đàn ông lẻ loi, có lẽ khoảng gần sáu mươi, ngồi trong một cái ghế bọc gần cửa. Ông ta ngồi choán hết ghế với cái bụng to tướng, xương hàm bạnh ra và phần cằm chảy xệ che phân nửa dây cà vạt màu vàng. Người này mặc áo khoác nhung đỏ sẫm gần như trùng với màu những đường tĩnh mạch đứt quãng trên mũi. Đôi mắt tròn và sáng chăm chú nhìn Mireille thích thú, thậm chí thích thú hơn khi nhìn anh chàng cao to khổng lồ mang bộ mặt xanh dương kỳ lạ, khoác áo choàng nhung màu tía bước vào phía sau cô, ẵm trong tay một đứa bé tóc đỏ nhỏ xíu !
Nốc cạn hớp rượu cuối cùng, ông dằn cái ly xuống bàn, gọi người phục vụ rót thêm. Sau đó, ông lóng ngóng lảo đảo tiến về phía Mireille như băng qua boong tàu lắc lư.
"Một phụ nữ tóc đỏ, xinh đẹp hơn những ai tôi từng gặp", ông ngọng nghịu lên tiếng. "Mái tóc dài màu đỏ sắc vàng làm tan nát trái tim người khác, màu tóc gây nên chiến tranh, như trong vở kịch Nàng Deirdre bất hạnh". Ông kéo bật bộ tóc giả trông xuẩn ngốc của mình ra, quét nó ngang qua bên dưới cơ hoành, ra vẻ cúi chào và xem xét vóc dáng cô từ đầu đến chân. Sau đó, trong trạng thái ngẩn ngơ vì say rượu, ông nhét mái tóc giả phủ phấn vào túi, chộp lấy bàn tay Mireille và hôn kiểu nịnh đầm.
"Một phụ nữ bí ẩn, với một người hầu ngoại lai ! Tôi xin tự giới thiệu: tôi là James Boswell xứ Affleck, nghề chính là luật sư, nghề tay trái là sử gia và thuộc dòng dõi hậu duệ của các vua Stuart duyên dáng". Ông gật đầu với cô, nén tiếng nấc, và cong cánh tay lại. Mireille liếc nhìn Shahin, vì không hiểu tiếng Anh nên khuôn mặt ông vẫn giữ vẻ vô tư lự.
"Không phải ngài Boswell viết quyển Lịch sử đảo Corsica nổi tiếng chứ ?" Mireille nói tiếng Anh bằng giọng cuốn hút. Điều này dường như là một sự trùng hợp quá tuyệt vời. Đầu tiên là Philidor, rồi đến Boswell, những người Letizia Buonaparte được nói đến rất nhiều, cả hai ở cùng một câu lạc bộ. Có lẽ xét cho cùng, đây không phải một sự trùng hợp ngẫu nhiên.
"Chính tôi", ông ta say rượu lắc lư, dựa vào cánh tay Mireille như thể cô đỡ ông. "Qua giọng cô, tôi đoán cô là người Pháp, và không tán thành những quan điểm tự do mà tôi, với tư cách người trẻ tuổi, thể hiện chống lại chính phủ của cô phải không ?"
"Trái lại, thưa ngài", Mireille cam đoan với ông ta, "tôi thấy những quan điểm của ngài thật hấp dẫn. Và hiện ở Pháp, chúng tôi có chính phủ mới, áp dụng theo nhiều phương châm mà ngài và ngài Rousseau đề xuất cách đây rất lâu. Ngài có quen vị ấy phải không ?"
"Tôi biết tất cả họ", ông ta nói một cách lơ đễnh. "Rousseau, Paoli, Garrick, Sheridan, Johnson, tất cả những nhân vật vĩ đại, trong bất kể tầng lớp xã hội nào. Như một người theo đuổi, tôi nằm trên vũng bùn lịch sử..." Ông nựng bên dưới cằm cô. "Và những nơi khác nữa", ông nói cùng giọng cười thô bỉ.
Họ đến bàn ông ta, nơi ly rượu mới được để sẵn. Cầm ly lên, ông nốc ừng ực. Mireille đánh giá ông ta là kẻ gan lì. Mặc dù say, nhưng ông không ngốc chút nào. Và chắc chắn, không phải tình cờ mà hai người đàn ông có liên quan đến Bộ cờ Montglane lại đều có mặt ở đây đêm nay. Cô nên cảnh giác đề phòng vì có thể có thêm những người khác.
"Còn ngài Philidor, người biểu diễn tại đây đêm nay, ngài cũng biết rõ ông ấy chứ ?" cô hỏi với vẻ ngây thơ giữ ý, nhưng phía sau vẻ ngoài bình tĩnh, tim cô đang đập thình thịch.
'Tất cả những ai quan tâm đến cờ vua đều yêu thích ông bạn đồng hương nổi tiếng của cô", Boswell đáp, ly rượu đang đưa giữa chừng lên môi. "Đây là lần xuất hiện công khai đầu tiên của ông ấy sau một thời gian. Ông ta không được khỏe lắm. Nhưng chắc cô biết chứ hả ? Vì cô ở đây đêm nay, tôi mời cô nhé ?" Đôi mắt tròn và sáng của ông ta tinh ranh dù đang trong tình trạng say, một câu nói ẩn ý quá hiển nhiên.
"Tôi đến đây chính vì điều đó, thưa ngài", Mireille nói, để lộ nét quyến rũ và nhìn chằm chằm ông ta với nụ cười ngấm ngầm. "Vì ngài biết vị ấy, chắc ngài sẽ tốt bụng giới thiệu chúng tôi khi ông ấy đến chứ ?"
"Rất sẵn lòng, tôi chắc thế', Boswell đáp, dù nghe ông ta không có vẻ vậy. "Thật ra, ông ta đã có mặt ở đây rồi. Họ đang sắp xếp vật dụng trong căn phòng phía sau". Đưa tay mời, ông dẫn cô đến căn phòng lát ván gỗ với ngọn đèn treo bằng đồng thau. Shahin lặng lẽ theo gót.
Ở đó, vài người đã tụ tập. Một người đàn ông gầy và cao lêu nghêu không lớn hơn Mireille là bao, có làn da tái nhợt và chiếc mũi khoằm, đang xếp các quân cờ ra một trong các bàn cờ ở ngay giữa phòng. Cạnh những cái bàn này là một người dáng thấp khỏe mạnh khoảng gần bốn mươi, mái tóc màu hung lộng lẫy rủ thành lọn xuống mặt. Anh ta đang trò chuyện với người đàn ông lớn tuổi hơn, lưng khom hướng về phía cô.
Cô và Boswell tiến đến cái bàn.
"Philidor thân mến", Boswell reo lên, vỗ mạnh vào vai người lớn tuổi hơn, "tôi ngắt lời anh chỉ để giới thiệu một sắc đẹp trẻ trung mê hồn đến từ quê hương anh thôi". Ông ta phớt lờ Shahin, lúc này đang còn đứng cạnh cửa, quan sát bằng cặp mắt đen như chim ưng.
Người đàn ông lớn tuổi quay sang nhìn vào mắt Mireille. Ăn mặc theo phong cách lỗi mốt từ thời Louis XV, dù lớp vải nhung và đôi giày trông quá tệ, không mang được nữa, nhưng Philidor là một người nghiêm trang, đứng đắn và mang dáng dấp quý tộc. Tuy cao nhưng ông trông mỏng manh như cánh hoa khô, làn da trong mờ gần như trắng bằng bộ tóc giả phủ phấn. Ông khẽ cúi chào, hôn lên bàn tay Mireille. Sau đó ông nói chuyện với cô với thái độ vô cùng chân thành.
"Hiếm hoi mới tìm thấy một vẻ đẹp lộng lẫy thế này cạnh bàn cờ, thưa cô".
"Còn hiếm hoi hơn khi thấy vẻ đẹp sánh bước trong tay con người già nua như Boswell đây", người có mái tóc màu hung xen vào, quay cặp mắt sẫm màu, đầy cảm xúc nhìn Mireille. Trong khi anh này cũng cúi chào và hôn lên tay cô, anh chàng trẻ tuổi cao ráo có chiếc mũi khoằm vội vã đến gần nhập vào nhóm người.
"Tôi chưa từng được hân hạnh gặp gỡ ngài Boswell trước khi bước vào câu lạc bộ này", Mireille nói với những người xung quanh. "Tôi đến để gặp ngài Philidor, tôi vô cùng ngưỡng mộ ngài ấy".
"Chúng tôi cũng không thua kém cô đâu !" người trẻ tuổi đầu tiên đồng tình. "Tên tôi là William Blake, và người trẻ tuổi cạnh tôi là William Wordsworth. Một cái tên William cho cả hai người".
"Một nhà toàn những tác giả", Philidor chêm vào "Nói cách khác, một nhà toàn người cùng khổ, vì những chàng William này đều tự xưng là thi sĩ".
Đầu óc Mireille quay cuồng, cô nhớ ra những điều cô biết về hai thi sĩ này. Anh chàng trẻ hơn mang tên Wordsworth đã đến trụ sở hội Jacobin và gặp David cùng Robespierre, cả hai người kia cũng quen biết Philidor. David đã kể với cô nhiều thứ và cô cũng nhớ lại Blake, một cái tên nổi tiếng ở Pháp, đã viết nhiều tác phẩm thần bí vĩ đại, vài quyển nói về cuộc cách mạng Pháp. Làm thế nào tất cả lại ăn khớp với nhau đến vậy ?
"Cô đến xem buổi biểu diễn bịt mắt à ?" Blake lên tiếng hỏi. "Tài nghệ này quá xuất sắc đến nỗi Diderot đã lưu danh nó vào Bách khoa toàn thư. Cuộc biểu diễn bắt đầu không lâu nữa đâu. Trong lúc đó, chúng tôi góp nhặt lại mời cô một ly rượu..
"Tôi thích nghe chuyện hơn", Mireille đáp, quyết định giành ưu thế về mình. Cô không bao giờ được gặp cùng lúc những người này trong một gian phòng thêm lần nào nữa, và chắc chắn có lý do nên họ mới đều ở đây.
"Các vị biết đấy, đó là một ván cờ khác mà tôi rất thích thú, như ngài Boswell có thể đoán. Tôi biết điều ông ta cố khám phá tại Corsica rất nhiều năm về trước, điều Jean-Jacques Rousseau đang tìm kiếm. Tôi nắm rõ điều ngài Philidor biết được từ nhà toán học Euler vĩ đại trong khi ở nước Phổ, và điều ngài Wordsworth biết từ David và Robespierre".
"Chúng tôi không hiểu cô đang nói gì", Boswell xen vào dù Philidor đã tái xanh và đang dò dẫm tìm chỗ ngồi.
"Vâng, thưa các vị, tôi biết rất rõ mình đang nói gì", Mireille nói, nắm chặt lợi thế khi cả bốn người đàn ông đều nhìn cô chằm chằm. "Tôi đang nói về Bộ cờ Montglane, điều mà các vị gặp gỡ để thảo luận đêm nay... Các vị không cần nhìn tôi hoảng hốt đến vậy. Các vị nghĩ tôi đến đây mà không biết kế hoạch của các vị sao ?"
"Cô chẳng biết gì cả", Boswell nói. "Đây là những người đến xem buổi biểu diễn. Tôi đề nghị chúng ta tạm hoãn cuộc trò chuyện này..."
Wordsworth rót một ly nước đưa cho Philidor, lúc này trông như thể sắp ngất. "Cô là ai ?", kiện tướng cờ vua cất tiếng hỏi Mireille, nhìn cô trân trối như trông thấy ma.
Mireille hít một hơi sâu. "Tên tôi là Mireille và tôi đến từ Montglane", cô nói. "Tôi biết Bộ cờ Montglane tồn tại, vì tôi nắm giữ những quân cờ trong tay".
"Cô là con nuôi của David !" Philidor kêu toáng lên và thở hổn hển.
"Người đã biến mất !" Wordsworth nói. "Người họ đang tìm kiếm..."
"Chúng ta phải hội ý", Boswell vội vàng nói. "Trước khi chúng ta đi xa hơn..."
"Không có thời gian đâu", Mireille ngắt lời. "Nếu các vị kể cho tôi điều các vị biết thì tôi cũng sẽ giãi bày lại cho các vị nghe. Nhưng phải ngay lúc này, không chậm trễ".
"Một cuộc trao đổi, tôi có thể nói thế", Blake trầm ngâm, đi tới đi lui xung quanh như lạc trong mộng tưởng. "Tôi thú nhận mình quan tâm đến bộ cờ này vì những lý do cá nhân. Bất kể mong ước của các vị là gì, Boswell thân mến, tôi cũng không bận tâm. Tôi nghiên cứu về bộ cờ này theo cách khác, bằng tiếng kêu gào trong sa mạc..."
"Cậu là kẻ ngốc !" Boswell hét lên, đấm nắm tay lên bàn thình thình trong cơn say. "Cậu nghĩ hồn ma của người anh đã chết cho cậu độc quyền về bộ cờ này. Nhưng những người khác cũng hiểu giá trị của nó, những người không ngập chìm trong thuyết thần bí”.
"Nếu ngài đánh giá động cơ của tôi rõ ràng thế", Blake ngắt lời, "lẽ ra ngài đừng mời tôi tham gia vào bè phái của ngài đêm nay". Với nụ cười lạnh lùng, anh ta quay sang Mireille. "Anh Robert của tôi đã qua đời vài năm về trước", anh ta giải thích, "Anh ấy là tất cả những gì tôi yêu quý nhất đời này. Khi hồn lìa khỏi xác, anh ấy thở dài và bảo tôi tìm kiếm Bộ cờ Montglane, đó là khởi nguồn và gốc tích của tất cả những điều thần bí từ thuở ban sơ. Thưa tiểu thư, nếu cô biết gì về nó thì tôi sẽ sẵn lòng chia sẻ đôi điều ít ỏi tôi biết. Và cả Wordsworth cũng thế, nếu tôi không lầm".
Kinh hoàng, Boswell quay đi và vội vã ra khỏi phòng. Philidor quắc mắt nhìn Blake, đặt tay lên cánh tay chàng trai trẻ như thế cảnh báo anh ta.
"Có lẽ cuối cùng", Blake nói, "tôi sẽ để anh mình được yên nghỉ".
Anh đưa Mireille đến ghế ngồi gần chỗ trong cùng và đi ra lấy cho cô một ly rượu, trong khi Wordsworth để Philidor ngồi ở bàn chính giữa. Lúc khách khứa đang đi vào gian phòng thì Shahin ẵm Charlot trong tay đến ngồi cạnh Mireille.
"Gã say rượu đã rời tòa nhà", Shahin ôn tồn nói. "Tôi ngửi thấy mùi nguy hiểm. Al-Kalim cũng cảm thấy vậy. Chúng ta phải rời khỏi nơi đây ngay lập tức".
"Chưa đâu", Mireille nói. "Trước hết, có chuyện tôi cần phải biết".
Blake trở lại, cầm ly rượu dành cho Mireille và ngồi cạnh cô. Khi những người khách cuối cùng đang ngồi vào chỗ thì Wordswoth trở lại nhập bọn với họ. Người đàn ông đằng trước đang giải thích luật chơi trong khi Philidor ngồi bịt mắt tại chính giữa phòng. Hai thi sĩ ngả người về phía Mireille và Blake bắt đầu hạ giọng thì thầm.
"Ở Anh có một câu chuyện được nhiều người biết đến", anh ta nói, "liên quan đến triết gia người Pháp nổi tiếng Francois-Marie Arouet, còn được biết với cái tên Voltaire. Khoảng Giáng sinh năm 1725, hơn ba mươi năm trước khi tôi chào đời, một đêm nọ, Voltaire hộ tống nữ diễn viên Adrienne Lecouvreur đến nhà hát Comedie-Française tại Paris. Suốt thời gian nghỉ chuyển hồi, Voltaire bị hiệp sĩ de Rohan Chabot lăng mạ công khai, quát tháo lớn tiếng khắp hành lang, "Ngài de Voltaire, hay ngài Arouet, sao ngài không quyết định tên mình là gì ?" Voltaire không bao giờ chịu thua, liền đối đáp lại, "Tên ta đứng đầu - tên ngươi đứng cuối". Không lâu sau đó, hiệp sĩ cho sáu tên côn đồ đánh Voltaire vì lời đáp trả đó.
"Bất chấp lệnh cấm đấu tay đôi", Blake kể tiếp, "thi sĩ đến Versailles và công khai yêu cầu hiệp sĩ đấu với nhau để rửa hận. Ông ấy chịu hình phạt bị ném vào nhà ngục Bastille. Trong lúc tiều tụy héo hon trong xà lim, ông nảy ra một ý tưởng. Ông cầu khẩn chính quyền thay vì bắt ông đợi chờ mòn mỏi trong ngục thì ông đề nghị được tự nguyện đi lưu đày, sang Anh quốc".
"Người ta nói", Wordsworth xen vào, "suốt thời gian đầu bị giam trong ngục Bastille, Voltaire đã giải mã một bản viết tay bí mật liên quan đến Bộ cờ Montglane. Hiện ông ấy hình thành trong đầu ý tưởng đi một chuyến để trình bày điều đó như một kiểu câu đố dành cho nhà toán học và khoa học vĩ đại của chúng tôi, ngài Isaac Newton, người có những tác phẩm mà ông đã đọc với sự ngưỡng mộ. Newton đã già yếu và mệt mỏi, mất hứng thú đối với công trình của ông, không còn thấy thách thức gì cả. Voltaire dự định sẽ đối đáp rằng, thách thức không chỉ là giải mã những gì chính bản thân ông đã làm, mà là vén màn bí mật vấn đề sâu xa hơn trong ý nghĩa thật sự của nó. Vì thưa tiểu thư, người ta nói bản viết tay này mô tả bí mật to lớn chôn giấu trong Bộ cờ Montglane, một công thức của quyền năng khổng lồ".
"Tôi biết", Mireille cáu kỉnh nói, trong lúc gỡ những ngón tay của Charlot mắc vào tóc cô. Những khán giả khác dán mắt vào cái bàn chính giữa phòng, nơi Philidor ngồi quay lưng với bàn cờ, bịt mắt lắng nghe người ta đọc to nước đi của đối thủ rồi ông đáp lại nước đi của mình.
"Và ngài Isaac có giải được 'Câu đố không ?" cô nôn nóng hỏi dồn, cảm thấy Shahin căng thẳng muốn rời đi, dù cô không nhìn mặt ông.
"Quả thực", Blake đáp. "Đó chính là điều chúng tôi muốn kể cô nghe. Đó là việc làm cuối cùng của ông ấy, vì sang năm sau, ông ấy qua đời..."
CÂU CHUYỆN CỦA HAI THI SĨ
Khi hai người gặp nhau tại Luân Đôn vào tháng năm năm 1726, Voltaire hơn ba mươi tuổi, còn Newton đã tám mươi ba. Khoảng ba mươi năm trước đó, Newton trải qua cơn suy nhược. Từ đó, ông ít công bố các vấn đề khoa học quan trọng.Khi họ gặp nhau, anh chàng Voltaire mảnh mai, hay hoài nghi với trí thông minh sắc sảo, lần đầu luống cuống trước Newton, một người mập mạp, hồng hào với mái tóc dài trắng như cước và dáng vẻ lừ đừ, gần như dễ sai khiến. Mặc dù được xã hội đề cao nhưng Newton thật ra là một người cô độc và thận trọng giữ khư khư những suy nghĩ thầm kín nhất cho riêng mình, hoàn toàn trái ngược với anh chàng người Pháp trẻ tuổi khâm phục ông, đã hai lần bị tống vào ngục Bastille vì tính sống sượng và nóng giận thiếu suy nghĩ.
Nhưng Newton luôn luôn bị lôi cuốn bởi đề tài toán học hoặc những điều thần bí trong tự nhiên. Khi Voltaire đến cùng bản thảo bí ẩn, ngài Isaac đã hăng hái mang nó vào phòng và biến mất vài ngày, để chàng thi sĩ hồi hộp chờ đợi. Cuối cùng ông mời Voltaire trở vào phòng làm việc, một nơi đầy các thiết bị quang học và hàng hàng lớp lớp các bức tường chất sách vở mốc meo.
"Tôi chỉ công bố một phần dang dở của công trình", nhà khoa học nói với triết gia. "Và đó chỉ bởi sự cố nài của câu lạc bộ Hoàng gia. Giờ tôi già yếu, sung túc, và có thể làm như tôi muốn, nhưng tôi vẫn từ chối công bố. Hồng y giáo chủ Richelieu hiểu sự dè dặt này, nếu không ông ta đã không viết nhật ký dưới dạng mật mã".
"Vậy ngài đã giải mã nó ư ?" Voltaire cất tiếng hỏi.
"Đúng vậy, và còn hơn thế", nhà toán học mỉm cười đáp, đưa Voltaire đến góc phòng có đặt một cái hộp kim loại rất lớn bị khóa. Ông rút chìa khóa ra khỏi túi và thận trọng nhìn anh chàng người Pháp. "Chiếc hộp Pandora, chúng ta mở nó ra nhé ?" ông nói. Khi Voltaire hăm hở đồng tình, họ tra chìa vào ổ khóa rỉ sét.
Ở đó, có những bản viết tay cả trăm năm tuổi, vài bản gần như nát vụn thành bụi vì rất lâu không đụng tới. Nhưng hầu hết đều khá sờn rách và Voltaire ngờ rằng bởi chính bàn tay Newton. Khi Newton nhẹ nhàng nhấc chúng ra khỏi rương kim loại, Voltaire ngạc nhiên thoáng thấy tiêu đề: Triết học huyền bí, Bản trích yếu thuật giả kim, Biến hóa thuật luyện kim... những quyển sách dị giáo của al-Jabir, Paracelsus, Villanova, Agrippa, Lully. Các tác phẩm ma thuật đen tối bị nhà thờ Cơ đốc nghiêm cấm. Phần lớn trong số đó là các tác phẩm về thuật giả kim, và bên dưới có cả ngàn trang ghi chú thí nghiệm do Newton phân tích, được buộc gọn gàng trong nhiều phong bì giấy.
"Nhưng ngài là người đề xướng đi theo lẽ phải vĩ đại nhất của thế kỷ mà !" Voltaire kêu lên, trố mắt nhìn những quyển sách và xấp giấy tờ với vẻ hoài nghi "Làm sao ngài lại có thể hồ hởi nhúng tay vào vũng lầy thuyết thần bí và ma thuật này ?"
"Không phải ma thuật", Newton chỉnh lại, "mà là khoa học. Khoa học nguy hiểm nhất của tất cả các ngành khoa học, mục đích của nó là biến đổi tiến trình tự nhiên. Lẽ phải được con người đặt ra chỉ để giúp giải mã các công thức do Chúa tạo nên mà thôi. Vạn vật trong tự nhiên đều mang một mật mã và một mật mã có một chìa khóa. Tôi đã tái tạo nhiều thí nghiệm của các nhà giả kim cổ xưa nhưng tài liệu cậu đua tôi cho thấy chìa khóa cuối cùng được chứa đựng trong Bộ cờ Montglane. Nếu điều này là sự thật thì tôi sẽ chỉ ra một sự thật tôi đã khám phá, mọi thứ tôi đã tạo ra trong một giờ, chỉ với những quân cờ đó".
"Liệu chìa khóa cuối cùng này sẽ tiết lộ điều gì mà ngài không thể tự mình khám phá qua việc nghiên cứu và thử nghiệm ?" Voltaire thắc mắc.
"Đá",, Newton đáp.. "Chìa khóa cho tất cả mọi bí mật"..
Khi các thi sĩ hết hơi ngừng lại, Mereille lập tức quay sang Blake. Tiếng xì xào của khán giả theo dõi diễn tiến trận đấu bịt mắt đã át đi được hết giọng nói của họ.
"Ông ấy nói tới đá là ý gì ?" cô hỏi, nắm chặt cánh tay anh chàng nhà thơ..
"Tất nhiên” tôi quên mất". Blake bật cười. "Tôi đã tự nghiên cứu những điều này, thế nên tôi cứ ngỡ ai cũng biết. Mục tiêu của tất cả những thí nghiệm về thuật giả kim để đi đến kết luận là nó lắng xuống thành một chất bột khô đo đỏ, ít ra đó là theo mô tả. Tôi đã đọc các bài viết của Newton. Mặc dù chúng bị cấm xuất bản bởi người ta bối rối, không ai thật sự tin ông ta đã dành rất nhiều
thời giờ vào việc vô nghĩa như vậy, nhưng rất may chúng khônsg bao giờ bị tiêu hủy".
"Và chất lắng khô đo đỏ là gì ?" Mireille hỏi dồn, quá nóng lòng đến nỗi suýt hét lên. Charlot đang kéo mạnh cô từ phía sau. Cô không cần một nhà tiên tri nói cho biết cô đã lãng phí thời gian ở quá lâu.
"Sao cơ, thì nó đó", Wordsworth lên tiếng, ngả người về phía trước, đôi mắt sáng lộ vẻ kích động. "Chất lắng khô là đá đỏ. Một phần của nó kết hợp với kim loại gốc sẽ chuyển thành vàng. Khi hòa tan và uống, nó được cho là chữa được bách bệnh. Người ta gọi nó là hòn đá triết gia”.
Đầu óc Mireille rối bời về tất cả những điều cô đã biết. Nhưng hòn đá linh thiêng được người Phoenicia tôn thờ, hòn đá trắng Rousseau mô tả, được gắn vào bức tường Venice, trên đó khắc câu “Nếu một người có thể nói và làm điều họ nghĩ, người đó sẽ thấy mình đổi khác thế nào". Nữ hoàng trắng lơ lửng trên bức tường trước mắt cô, biến người đàn ông thành vị thần...
Thình lình Mireille đứng lên, Wordsworth và Blake cũng bật dậy ngạc nhiên.
"Gì vậy ?” chàng trai trẻ Wordsworth vội vàng thì thầm.. Vài người cáu kỉnh liếc nhìn xung quanh vì sự náo động.
“Tôi phải đi", Mireille nói, hôn lên má anh ta trong lúc anh này mặt đỏ như gấc. Cô quay sang Blake và cầm lấy tay anh. "Tôi gặp nguy hiểm, không thể nán lại. Nhưng tôi sẽ không quên anh đâu". Cô quay gót, Shahin theo sau, ông ta đưng lên và di chuyển như cái bóng sau lưng cô, trong khi cô lướt ra khỏi phòng.
"Lẽ ra chúng ta nên theo sau cô ấy", Blake nói. "Nhưng không hiểu sao tôi đoán chúng ta sẽ được gặp lại cô. Một phụ nữ đặc biệt, anh đồng ý không ?"
"Đúng vậy", Wordsworth đáp. "Tôi đã thấy cô ấy trong thơ rồi”. Sau đó anh ta vừa cười vừa nhìn nét mặt lo lắng của Blake. "Ồ không phải thơ tôi. Thơ của anh"
Mireille và Shahin nhanh chóng bước đi phía bên ngoài căn phòng, chân họ lún xuống những tấm thảm mềm. Người phục vụ thơ thẩn quanh quầy rượu hầu như không để ý, vì hai người đi qua như những bóng ma. Khi họ ra đến ngoài đường, Shahin tóm lấy cánh tay Mireille và kéo cô dựa vào một bức tường tối tăm. Charlot nằm trong tay Shahin, nhìn chằm chằm vào bóng tối ẩm ướt bằng cặp mắt sáng như mắt mèo.
"Gì vậy ?" Mireille thì thầm, nhưng Shahin đã đặt ngón tay lên môi cô. Mireille căng mắt nhìn trong bóng tối và rồi cô nghe tiếng bước chân khe khẽ đang băng qua lề đường ẩm ướt. Cô thấy hai dáng người lờ mờ trong sương mù.
Hai cái bóng rón rén tiến đến cánh cửa quán Parsloe's, chỉ vài bước chân là đến chỗ Shahin và Mireille đang nín thở đứng đợi. Ngay cả Charlot cũng nín thinh như con chuột. Cánh cửa câu lạc bộ mở ra, hắt ánh sáng soi rọi hình dáng hai người trên con đường ẩm ướt. Một người là ông Boswell nặng nề, say xỉn, trùm áo choàng dài màu sậm. Người kia là... Mireille há hốc mồm trong lúc quan sát Boswell quay người, đưa tay ra mời người đó vào.
Đó là một phụ nữ, mảnh mai và xinh đẹp, hất mũ trùm của áo choàng ra. Tuôn tràn mái tóc dài màu vàng của Valentine ! Đó là Valentine ! Mireille bật ra tiếng nức nở nghẹn ngào và định bước về phía ánh sáng nhưng Shahin cản cô lại bằng bàn tay cứng cỏi. Cô giận dữ xoay người nhưng ông đã lập tức ghé vào tai cô thì thầm.
"Nữ Hoàng Trắng", Mireille kinh hoàng quay người trong lúc cánh cửa câu lạc bộ khép lại, để họ lại chìm vào bóng tối.
Quần đảo Channel Tháng hai năm 1794
Suốt nhiều tuần nán lại chờ tàu sửa xong, Talleyrand có nhiều cơ hội tìm hiểu Benedict Arnold, kẻ phản quốc có tiếng, người làm gián điệp cho chính phủ Anh để chống lại đất nước mình.
Lúc rảnh rỗi, hai người đàn ông này ngồi cùng nhau chơi cờ đam hoặc cờ vua tại quán trọ. Mỗi người đã có một sự nghiệp đầy triển vọng, đã giữ những chức vụ cao, được những người ngang hàng tôn kính và những người cao hơn cũng thế. Nhưng cả hai đã gây thù chuốc oán, phải trả giá bằng danh tiếng và nghề nghiệp. Trở lại Anh sau khi hoạt động tình báo bị phát hiện, Arnold mới biết không có chức vụ nào đang đợi ông trong quân đội. Ông là một kẻ bị khinh rẻ, phải bỏ đi tự xoay sở lấy. Điều này giải thích hoàn cảnh Talleyrand gặp được ông ta.
Nhưng dù Arnold không thể viết thư giới thiệu anh cho những người Mỹ quyền cao chức trọng thì Talleyrand thấy ông vẫn có thể cung cấp thông tin về đất nước mà bản thân anh chẳng bao lâu nữa sẽ đặt chân tới. Suốt nhiều tuần, anh cứ hỏi dồn dập người chủ xưởng tàu nhiều vấn đề. Và giờ đây, vào ngày cuối cùng, Talleyrand còn ở lại trước khi tàu ra khơi đến Châu Mỹ, anh hỏi thêm trong lúc cả hai ngồi ở quán trọ chơi cờ vua.
"Công việc mang tính xã hội ở Mỹ là gì ?" Talleyrand hỏi. "Họ có các cuộc triển lãm tranh như ở Anh hay Pháp không ?"
"Một khi anh rời Philadelphia hay New York, nơi toàn dân Hà Lan nhập cư, anh sẽ thấy các thành phố nhỏ hơn nhưng gần biên giới. Người dân ngồi cạnh đống lửa vào ban đêm đọc sách hoặc đánh cờ như chúng ta đang chơi đây. Không có lề thói giao thiệp nhiều bên ngoài vùng ven biển phía đông. Nhưng cờ vua gần như là thú tiêu khiển truyền thống dân tộc. Người ta nói kể cả những tay đi săn thú lấy lông còn mang cả bộ cờ nhỏ theo cùng".
"Thật ra", Talleyrand nói "tôi không nghĩ mức độ trí tuệ đó còn hiện diện tại những vùng biệt lập đến tận thời gian gần đây".
"Không phải trí tuệ, mà là đạo lý", Arnold nói. "Dù thế nào chăng nữa, đó là cách người ta nhìn nó. Chắc anh đã đọc tác phẩm rất phổ biến tại Mỹ của Ben Franklin ? Nó mang tên Đạo lý của Cờ vua, trong đó đề cập cách chúng ta có thể rút ra nhiều bài học
trong cuộc sống từ việc nghiên cứu kỹ lưỡng nmột ván cờ. Ông bật cười cay đắng và ngước lên khỏi bàn cờ, nhìn vào mắt Talleyrand. “Anh biết không, chính Franklin Bill người rất nóng lòng muốn làm sáng tỏ điều bí ẩn của Bộ cờ Monttgllane''.
Tallevrand nhìn thẳng ông ta "Anh đang nói về cái quái gì vậy ?”, anh hỏi. "Ý anh là cái truyền thuyết buồn cười đó thậm chí còn được thảo luận ở phía bên kia Đại Tây Dương sao ?"
"Buồn cười hoặc không", Arnold nói với nụ cười khó hiểu, "người ta nói Ben Franklin già nua đã dành cả đời cố giải mã câu đố hóc búa đó. Thậm chí ông ta còn xuống cả Monttgalane trong thời kỳ được bổ nhiệm làm đại sứ tại Pháp. Nơi đó nằm ở miền nam nước Pháp".
"Tôi biết chỗ đó ở đâu", Talleyrand ngắt lời. "'Ông ta đang tìm kiếm cái gì ?"
"Sao cơ, thì tìm Bộ cờ của hoàng đế Charlemagne.. Tôi tưởng ai ở đó cũng biết về nó chứ.. Người ta nói nó được chôn tại Montglane. Benjamin Franklin là một nhà toán học và một tay cờ vua xuất sắc. Ông ta phát triển nước đi của quân Mã và ông khẳng định ý tưởng đó là cách bộ cờ Montgalane được bố trí"
"Bố trí ư ?” Talleyrand hỏi, cảm thấy cơn ớn lạnh khủng khiếp lướt qua người trong khi hiểu ra điều mà những lời nói của người đàn ông này ám chỉ.. Ngay cả ở Mỹ, cách xa nỗi kinh hoàng ở châu Âu hàng ngàn dặm mà anh cũng không an toàn nằm ngoài phạm vi quyền lực của bộ cờ kinh khiếp đã tác động quá nhiều đến cuộc đời anh.
"Đúng"', Arnold lên tiếng, di chuyển quân cờ trên bàn cờ. "Anh nên hỏi Alexander Hamlton, một hội viên hội Tam điểm. Người ta nói Franklin đã giải mã một phần công thức và chuyển nó cho họ trước khi chết"