Bí Ẩn Bộ Cờ Montglane

Lượt đọc: 100 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Cái Chết Của Những Vị Vua
Paris. Ngày Mùng Mười Tháng Bảy Năm 1793

❊ ❊ ❊

Vì Chúa, chúng ta hãy ngồi xuống đất và kể những bi kịch về cái chết của những vị vua:

Vài người bị lật đổ, vài người bị giết trong chiến tranh.

Vài người bị ám ảnh bởi những hồn ma họ đã truất phế.

Có người bị vợ đầu độc, bị giết khi ngủ.

Tất cả đều chết; ngai vàng trống rỗng

Nó bao quanh cung điện chết chóc của nhà vua

Giữa Cái chết trong cung điện... và với cái kim gút nho nhỏ

Đào qua tường lâu đài, và tạm biệt vị vua

- Richard II –

William Shakespeare

Mireilie đứng bên dưới những cây dẻ um tùm tại lối vào sân nhà Jacques-Louis David và nhìn lom lom qua cánh cổng sắt. Trong tấm áo choàng đen dài, khuôn mặt cô bị che khuất bởi tấm mạng mỏng, cô trông như một người mẫu điển hình cho bức tranh sơn dầu đẹp kỳ lạ của một danh họa tiếng tăm. Quan trọng hơn nữa, không ai có thể nhận ra cô dưới bộ dạng này. Nhếch nhác và kiệt sức do chuyến hành trình gian khổ, cô kéo mạnh sợi dây và nghe tiếng chuông vang vọng phía trong.

Chưa đầy sáu tuần trước, cô nhận được bức thư của nữ viện trưởng chất chứa đầy sự cấp bách và khiển trách. Mất một thời gian dài, bức thư mới đến tay cô, được gửi đầu tiên đến Corsica, sau đó chuyển bởi Angela - Maria di Pietra - Santa, người bà khó tính của Napoleon và Elisa, đồng thời cũng là thành viên duy nhất trong gia đình chưa bỏ trốn khỏi đảo.

Bức thư ra lệnh Mireille về Pháp ngay lập tức:

Được biết con đã rời Paris, ta không chỉ lo sợ cho con mà còn lo cho số mệnh mà Chúa đã đặt vào tay con để con bảo vệ, trách nhiệm ta khám phá ra con đã bị hất bỏ. Ta tuyệt vọng thay những chị em đạo hữu của con, những người có thể bỏ trốn đến thành phố đó tìm kiếm sự giúp đỡ của con khi con không ở đó để trợ giúp họ. Con hiểu ý ta muốn nói.

Ta muốn nhắc con nhớ chúng ta phải đương đầu với những kẻ thù quyền lực, chúng sẽ không do dự điều gì để đạt được mục đích, thiết lập sự chống đối trong khi chúng ta bị cuốn đi bởi cơn gió của định mệnh. Tới thời điểm lấy lại quyền kiểm soát về tay chúng ta, chuyển hướng tình thế lần nữa có lợi cho chúng ta, và hợp nhất lại cái định mệnh đã xé toạc chúng ra.

Ta giục con quay về Paris ngay lập tức. Theo chỉ thị của ta, một người con biết sẽ được gửi đến đó tìm con, với những hướng dẫn cụ thể liên quan đến nhiệm vụ của con, một nhiệm vụ then chốt.

Ta đau buồn xót thương trước sự mất mát đứa em thương yêu của con. Cầu Chúa phù hộ cho con trong nhiệm vụ này.

Lá thư không để ngày và không ký tên. Mireille nhận ra nét chữ của nữ viện trưởng, nhưng cô không biết bà đã viết nó trước đây bao lâu. Dù day dứt bởi lời cáo buộc cô đã trốn tránh nhiệm vụ nhưng Mireille thấu hiểu ý nghĩa đích thực của lá thư từ nữ viện trưởng. Những quân cờ khác lâm nguy, các nữ tu khác gặp hiểm họa, từ cùng quyền lực xấu xa đã hủy hoại Valentine. Cô buộc phải quay về Pháp.

Shahin đồng ý hộ tống cô ra đến biển. Nhưng đứa con trai ba tháng tuổi Charlot của cô quá nhỏ không thể chịu nổi chuyến đi gian nan. Tại Djanet, người của Shahin hứa chăm sóc đứa bé đến khi cô quay lại vì họ đã xem đứa bé tóc đỏ còn ẵm ngửa là nhà tiên tri được báo trước. Sau cuộc chia ly đau khổ, Mireille để con lại trong tay người vú nuôi và lên đường.

Trong vòng hai mươi lăm ngày họ băng qua Deban Ubari, bờ phía tây sa mạc Libyan, vòng qua những ngọn núi và cồn cát nguy hiểm, đi đường tắt đến bờ biển tại Tripoli. Ở đó, Shahin đưa cô lên thuyền buồm dọc cột để đi đến Pháp. Những chiếc thuyền này, nhanh nhất trên đời, lướt gió trên vùng biển quang đãng với vận tốc mười bốn hải lý, làm cuộc hành trình từ Tripoli đến Saint- Nazaire tại cửa sông Loire chỉ vỏn vẹn mười ngày. Mireille đã trở về Pháp.

Giờ đây, khi đứng trước cửa nhà David, dơ bẩn và kiệt sức bởi cuộc hành trình, cô nhìn qua những chấn song bên kia là khu vườn cô đã bỏ trốn chưa đầy một năm trước. Nhưng dường như đã cả trăm năm kể từ buổi chiều cô và Valentine leo qua bức tường khu vườn, cười khúc khích phấn khởi với sự cả gan của mình và đi đến tu viện để gặp xơ Claude. Buộc những ý nghĩ đó ra khỏi tâm trí, Mireille kéo dây chuông lần nữa.

Cuối cùng người đầy tớ lớn tuổi Pierre lộ mặt ra từ căn nhà ở lối vào, lê bước tới cánh cổng sắt nơi cô đứng lặng thinh trong bóng râm của những cây dẻ sum suê.

"Thưa cô", ông ta nói, chưa nhận ra cô, "ông chủ không tiếp ai trước bữa trưa, và không bao giờ tiếp người không hẹn trước".

"Nhưng Pierre, chắc chắn bác ấy sẽ đồng ý gặp cháu", Mireille nói, hạ thấp mạng che mặt.

Cặp mắt Pierre mở to và cằm ông ấy bắt đầu run run. Ông lóng ngóng với chùm chìa khóa nặng trĩu để mở cánh cổng sắt. "Tiểu thư", ông thì thầm, "chúng tôi cầu nguyện cho cô mỗi ngày". Những giọt nước mắt vui mừng ứa đầy mắt ông khi ông mở tung cánh cửa. Mireille nhanh chóng ôm chầm ông rồi cả hai vội vã băng qua sân.

David, một mình trong xưởng vẽ, đang đẽo khối gỗ lớn, một tác phẩm điêu khắc của thuyết vô thần sẽ được trưng bày tháng sau tại lễ hội Đấng chí tôn Thượng đế. Mùi gỗ tươi bị chặt tràn ngập không khí. Cả đống vỏ bào phủ đầy đất, và mùn cưa bám vào lớp nhung của chiếc áo vét đắt tiền. Ông quay lại khi cánh cửa sau lưng mở ra, rồi loạng choạng đánh đổ chiếc ghế đẩu, cây thước rơi khỏi tay.

"Bác đang mơ, hay bác phát điên rồi !" ông ta hét lên, phủi lớp mùn cưa trong khi phóng qua bên này ôm chầm lấy Mireille. "Tạ ơn Chúa con vẫn bình yên !" Ông để cô ra xa để nhìn cho rõ. "Khi con đi, Marat đến với đoàn đại biểu, những ông bộ trưởng và đại biểu bới tung khắp khu vườn khỏi ao tù nước đọng, như heo tìm cám ! Bác không biết những quân cờ đó thật sự có tồn tại ! Nếu con tin tưởng kể bác nghe, bác có thể giúp.. “

"Giờ bác có thể giúp được con", Mireille nói, kiệt sức ngồi phịch xuống chiếc ghế. "Có ai đến đây tìm con không ? Con trông chờ đặc phái viên nữ tu trưởng nhờ đến".

"Con thân yêu", David nói với giọng lo lắng, "có vài người đến Paris trong lúc con không có ở đây, những phụ nữ trẻ đã viết thư muốn gặp con hoặc Valentine. Nhưng ta phát bệnh vì lo cho con. Ta đã đưa những mẩu giấy này cho Robespierre, nghĩ rằng ông ấy có thể giúp chúng ta tìm ra con".

"Robespierre ! Chúa ơi, bác đã làm gì ?" Mireille hét lên.

"Ông ấy là bạn thân có thể tin cậy được", David hấp tấp nói. "Người ta gọi ông ấy là 'Người liêm khiết'. Không ai có thể đút lót cho ông ấy từ bỏ nhiệm vụ, Mireille, bác đã nói ông ta con có liên quan đến Bộ cờ Montglane. Ông ấy cũng đang tìm con..."

"Không !" Mireille gào thét. "Không ai được biết con ở đây hay thậm chí bác đã gặp con ! Bác không thấy sao, Valentine đã bị giết vì những quân cờ ấy. Mạng sống của con cũng gặp nguy hiểm. Nói con nghe bao nhiêu nữ tu đã đến đây, bác đưa thư của ai cho ông ta".

David tái xanh sợ hãi trong lúc lục lại trí nhớ. Liệu con bé nói đúng không ? Chẳng lẽ ông đã tính sai đường...

"Năm người", ông nói với cô. "Bác có ghi chép tên họ trong phòng làm việc".

"Năm nữ tu", cô thì thầm. "Thêm năm người nữa chết tại con. Tại con không ở đây". Mắt cô nhìn chăm chằm vô hồn vào khoảng không.

"Chết à !" David nói. "Nhưng ông ấy chưa bao giờ thẩm vấn họ. Ông ấy thấy họ biến mất, từng người một".

"Chúng ta chỉ có thể cầu nguyện điều đó là sự thật", cô nói, nhìn xoáy vào ông. "Bác à, những quân cờ này nguy hiểm hơn bất cứ điều gì bác có thể hình dung. Chúng ta phải tìm hiểu nhiều hơn về sự dính líu của Robespierre mà không cho ông ta biết con ở đây. Và Marat, hắn đâu ? Vì nếu hắn biết chuyện này thì kể cả lời nguyện cầu của chúng ta cũng chẳng giúp ích gì".

"Hắn ở nhà, bệnh trầm trọng", David thì thầm. "Bệnh, nhưng hùng mạnh hơn bao giờ hết. Ba tháng trước, Girondins mang hắn ra xét xử vì tội chủ trương giết người và chế độ độc tài, vì phá hoại hoàn toàn nguyên lý của cách mạng, tự do, công bằng, tín ngưỡng. Nhưng Marat được tuyên trắng án bởi bồi thẩm đoàn khiếp sợ, được trao vòng nguyệt quế bởi đám dân đen, được khiêng khắp phố phường bởi đám đông hò reo cổ vũ và được bầu làm chủ tịch trụ sở hội Jacobin. Giờ hắn ngồi nhà trả thù Girondins đã cản trở hắn. Hầu hết bị bắt; số còn lại phải bỏ trốn sang các tỉnh. Hắn cai trị đất nước từ cái bồn tắm với vũ khí của nỗi sợ hãi. Điều người ta nói về cuộc cách mạng của chúng ta có vẻ đúng - ngọn lửa hủy diệt không thể tạo lập".

"Nhưng nó có thể bị phá hủy bởi ngọn lửa mạnh mẽ hơn", Mireille nói. "Ngọn lửa đó là Bộ cờ Montglane. Một khi hợp nhất lại, chúng sẽ tiêu diệt kể cả Marat. Con quay về Pháp để tung ra nguồn lực này. Và con mong chờ bác giúp con".

"Nhưng con không nghe bác nói gì sao ?" David kêu lên. "Chính sự báo thù và phản bội này đã xâu xé đất nước ta thành nhiều mảnh. Nó sẽ đi về đâu ? Nếu tin vào Chúa thì chúng ta phải tin vào sự công bằng linh thiêng sớm hay muộn gì cũng sẽ khôi phục lại chính nghĩa".

"Con không có thời gian", Mireille nói. "Con sẽ không đợi Chúa". 

***

Ngày mười một tháng bảy năm 1793

Một nữ tu khác không thể đợi ngay cả khi đang vội vã đến Paris.

Charlotte Corday đến thành phố bằng xe ngựa trạm vào lúc mười giờ sáng. Sau khi đăng ký một khách sạn nhỏ gần đó, bà đi đến Quốc hội.

Lá thư của người viện trưởng được Đại sứ Genet lén mang đến Caen cho bà mất khá lâu nhưng nội dung rõ ràng. Những quân cờ chuyển đến Paris tháng chín vừa qua cùng xơ Claude đã biến mất. Một nữ tu khác đã chết cùng xơ Claude trong trận khủng bố người nữ tu trẻ tuổi Valentine. Chị họ của Valentine đã biến mất không dấu vết. Charlotte đã liên lạc với phe cánh Girondin, những đại biểu hội nghị trước đây giờ lẩn trốn tại Caen, với hy vọng họ biết người ở nhà ngục l'Abbaye, nơi cuối cùng người ta thấy Mireille trước khi cô bặt vô âm tín.

Nhóm Girondin không biết gì về cô gái tóc đỏ đã biến mất giữa trận cuồng loạn đó nhưng người đứng đầu của họ, ông Barbaroux đẹp trai, thông cảm với vị nguyên là nữ tu đi tìm kiếm bạn. Giấy phép ông cho bà cho phép cuộc gặp gỡ ngắn với nghị sĩ Lauze Duperret, người gặp bà tại phòng đợi dành cho khách ở Quốc hội.

"Tôi đến từ Caen", Charlotte mở lời ngay khi nghị sĩ đạo mạo ngồi đối diện bà tại chiếc bàn bóng loáng. "Tôi tìm một người bạn biến mất trong cuộc rối loạn ở nhà ngục tháng chín vừa rồi. Cũng như tôi, trước đây cô ấy là nữ tu của một tu viện đã bị đóng cửa".

"Charles-Jean-Marie Barbaroux gửi cô đến đây không giúp ích gì cho tôi", viên nghị sĩ nói, dướn cặp chân mày nhạo báng. "Ông ta là một kẻ bị truy nã, hay cô không nghe việc đó ? Ông ta cũng muốn họ ra lệnh truy bắt tôi sao ? Tôi có đủ rắc rối cho mình rồi, cô có thể nói ông ta khi trở về Caen, mà tôi hy vọng cô sẽ sớm đi". Ông ta bắt đầu đứng lên.

"Xin làm ơn", Charlotte nói, chìa tay ra. "Bạn tôi ở nhà ngục l'Abbaye khi cuộc thảm sát bắt đầu. Chưa bao giờ tìm ra thi thể cô ấy. Chúng tôi lấy đó để tin rằng cô ta đã thoát nhưng không ai biết cô ấy ở đâu. Ông phải nói tôi nghe ai trong số thành viên Quốc hội chịu trách nhiệm về những cuộc xét xử đó ?"

Duperret ngừng lại và mỉm cười, đó không phải nụ cười dễ dãi. "Không ai thoát khỏi l'Abbaye", ông nói với bà cộc lốc. "Một vài người được tha bổng, tôi có thể đếm số đó trên hai bàn tay. Nếu cô dại dột đến mức tới đây thì có lẽ cô cũng đủ ngớ ngẩn gặng hỏi với người đã chịu trách nhiệm trong cuộc khủng bố. Nhưng tôi không khuyên cô làm vậy đâu. Tên ông ta là Marat".

Ngày mười hai tháng bảy năm 1793

Mireille khoác trên người chiếc váy chấm trắng đỏ kiểu Thụy Sĩ và đội nón rơm có nơ sặc sỡ, bước xuống chiếc xe ngựa mui trần của David và yêu cầu người đánh xe chờ. Cô vội vã vào khu chợ rộng lớn, đông đúc của Les Halles, một trong những nơi cổ kính nhất thành phố.

Hai ngày kể từ khi đến Paris, cô nắm thông tin đủ để hành động lập tức. Cô không cần chờ hướng dẫn của nữ viện trưởng. Không chỉ năm nữ tu đã bốc hơi cùng những quân cờ như David nói mà còn những người khác, biết về Bộ cờ Montglane và về sự can hệ của cô. Rất nhiều người khác như Robespierre, Marat và André Philidor, bậc thầy cờ vua và là nhà soạn nhạc, tác giả vở nhạc kịch cô đã xem cùng phu nhân de Stael. David nói Philidor đã trốn sang Anh. Nhưng ngay trước khi đi, ông đã kể David nghe về cuộc gặp gỡ giữa ông và nhà toán học vĩ đại Leonhard Euler cùng nhà soạn nhạc Bach. Bach đã lấy công thức của Euler về nước đi của quân Mã và chuyển thành âm nhạc. Những người này nghĩ bí mật của Bộ cờ Montglane có liên quan đến âm nhạc. Bao nhiêu người khác đã biết nhiều về chuyện này ?

Mireille đi qua khu chợ lộ thiên, lướt qua những hàng đủ màu sắc rau quả, thực phẩm, hải sản chỉ người giàu mới đủ tiền mua. Tim cô đập thình thịch, đầu óc quay cuồng. Cô phải hành động ngay lập tức, mặc dù cô biết chỗ của họ nhưng họ chưa phát hiện ra cô. Tất cả họ như những quân Tốt trên bàn cờ, cuốn đi tới trung tâm vô hình trên bàn cờ như không thoát được số phận. Nữ tu trưởng đã đúng khi nói họ phải tập hợp quyền kiểm soát vào tay chính họ. Nhưng bản thân Mireille phải kiểm soát. Đến giờ, cô nhận ra cô biết nhiều hơn nữ viện trưởng, có lẽ nhiều hơn bất kỳ ai khác, về Bộ cờ Montglane.

Câu chuyện của Philidor xác minh cho điều Talleyrand đã nói. Cô và Letizia Buonaparte đã thừa nhận: có một công thức trong bộ cờ. Điều gì đó nữ tu trưởng chưa bao giờ đề cập đến. Nhưng Mireille đã biết. Trước mắt cô vẫn lơ lửng hình dáng tái nhợt kỳ lạ của Nữ Hoàng Trắng, với cây quyền trượng của Bộ tám trong bàn tay giơ cao.

Mireille đi xuống mê cung, khu vực này của Les Halles từng là hầm mộ của La Mã nhưng giờ trở thành khu chợ ngầm. Ở đây có những sạp bán đồ đồng, ruy băng, gia vị và vải lụa của phương Đông. Cô đi qua một quán cà phê nhỏ kê những cái bàn ở ngõ hẹp, nơi một đám hàng thịt vấy bẩn vì dấu vết công việc, ngồi ăn súp bắp cải và chơi đôminô. Mắt cô liếc nhìn chăm chăm vào máu trên cánh tay trần của họ, tạp dề trắng. Nhắm mắt, cô bước qua mê cung nhỏ hẹp.

Cuối dãy thứ hai là một cửa hiệu bán dao kéo. Nhìn qua những món hàng, cô kiểm tra độ bền và độ sắc nhọn của từng cái trước khi chọn một cái hợp với cô, một con dao bàn lưỡi cân bằng dài sáu insơ, tương tự bousaadi cô từng dùng thành thạo khi ở sa mạc. Cô nhờ người bán mài lưỡi dao đến khi nó có thể chẻ được sợi tóc.

Giờ chỉ còn lại một vấn đề. Làm sao cô vào được ? Cô quan sát người bán gói con dao đã được tra vào vỏ bọc vào miếng giấy nâu. Mireille trả ông ta hai frăng, cặp gói hàng dưới cánh tay và bỏ đi.

Ngày mười ba tháng bảy năm 1793

Câu hỏi của cô được giải đáp vào chiều hôm sau, khi cô và David ngồi cãi vã trong phòng ăn nhỏ cạnh xưởng vẽ. Là một đại biểu Quốc hội, ông ta có thể giúp cô vào đến chỗ Marat. Nhưng ông từ chối, ông sợ. Cuộc trò chuyện nảy lửa của họ bị người đầy tớ Pierre làm gián đoạn.

"Thưa ngài, một quý cô đợi ở cửa. Cô ấy muốn gặp ngài, hỏi thăm tin tức về tiểu thư Mireille".

"Ai vậy ?" Mireille hỏi, liếc nhanh sang David.

"Một cô cao bằng tiểu thư", Pierre đáp, "và với mái tóc đỏ, tự nhận mình là Corday".

"Mời chị ấy vào", Mireille nói, khiến David khá ngạc nhiên.

Vậy đây là phái viên, Mireille nghĩ khi Pierre quay gót. Cô nhớ người bạn lạnh lùng, dữ dằn đi cùng Alexandrine de Forbin, người đến tu viện Montglane ba năm trước để nói với họ rằng những quân cờ của Bộ cờ Montglane lâm vào cảnh nguy hiểm. Giờ đây cô ấy được nữ tu trưởng phái đến, nhưng cô ấy đến quá muộn.

Khi Charlotte Corday vào trong phòng, cô khựng lại, nhìn chằm chằm Mireille hoài nghi. Cô lưỡng lự ngồi vào chiếc ghế David kéo cho cô, không rời mắt khỏi Mireille. Mireille nghĩ thầm, đây là người báo tin phải lấy bộ cờ lên khỏi mặt đất. Dù thời gian đã khiến cả hai thay đổi nhưng họ vẫn có vẻ ngoài giống nhau, cao, xương to với những lọn tóc xoăn đỏ xõa tung trên khuôn mặt trái xoan, giống như hai chị em. Cách biệt quá lâu.

"Tôi đến trong sự tuyệt vọng", Charlotte cất lời. "Không tìm thấy dấu vết của chị, tất cả cửa đã đóng. Tôi phải nói chuyện với một mình chị". Cô ấy liếc nhìn lo ngại về phía David, và ông cáo từ. Khi ông ấy đã đi, cô mới hỏi, "Những quân cờ, chúng an toàn chứ ?" 

"Những quân cờ", Mireille nói cay đắng, "Lúc nào cũng về những quân cờ. Tôi kinh ngạc trước sự bám chắc kiên trì của nữ tu trưởng của chúng tôi - một phụ nữ được Chúa giao phó với linh hồn của năm mươi phụ nữ, những phụ nữ được đưa vào tu viện từ khắp nơi trên thế giới, những người tin vào bà ấy như chính mạng sống của họ, Bà ấy nói chúng ta rằng những quân cờ gặp nguy hiểm, mà không nói rằng chúng ta sẽ bị săn lùng và giết chết vì chúng ! Kiểu linh mục gì mà dẫn dắt chính con chiên của mình vào cuộc tàn sát chứ ?"

"Tỏi hiểu, Chị bị suy sụp bởi cái chết của em chị", Charlotte nói. "Nhưng đó là tai nạn ! Bị vướng vào trong quang cảnh đám đông hỗn độn với xơ Claude yêu quý của tôi, Chị không thể cho phép điều đó làm sai lạc niềm tin của mình, Nữ tu trưởng đã chọn chị cho nhiệm vụ..."

"Giờ tôi chọn những nhiệm vụ của riêng mình", Mireille hét lên, đôi mắt xanh lục của cô cháy bỏng cơn giận dữ. "Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là đương đầu với kẻ đã giết em tôi, vì đó không phải tai nạn ! Thêm năm nữ tu nữa đã biến mất trong năm qua. Tôi nghĩ hắn biết điều gì đã xảy đến với họ, và với cả những quân cờ họ cất giữ. Và tôi có món nợ phải thanh toán".

Charlotte đặt tay lên ngực. Khuôn mặt cô trắng bệch khi nhìn chằm chằm qua phía Mireille. Giọng cô run run.

"Marat !" cô thì thầm. "Tôi biết về sự liên can của hắn, nhưng không phải điều này ! Nữ tu trưởng không biết về những nữ tu mất tích này".

"Hình như có nhiều việc nữ tu trưởng của chúng ta không biết", Mireille đáp "Nhưng tôi biết. Dù tôi không định làm trở ngại kế hoạch của Người nhưng tôi nghĩ chị hiểu có những chuyện tôi phải hoàn thành trước nhất. Chị đứng về phía tôi, hay chống lại tôi ?"

Charlotte nhìn Mireille qua bàn ăn, đôi mắt xanh dương sâu thẳm của cô xúc động mãnh liệt. Cuối cùng cô chìa tay ra đặt lên trên tay Mireille. Mireille cảm thấy mình run rẩy. 

"Chúng ta sẽ hạ gục chúng". Charlotte nói vô cùng mạnh mẽ. "Bất cứ gì chị cần ở tôi, tôi sẽ bên chị, như nữ viện trưởng mong muốn".

"Chị biết về sự can hệ của Marat", Mireille nói với sự căng thẳng trong giọng nói. "Chị biết thêm gì về gã này ?"

"Tôi cố gặp hắn, để tìm kiếm chị", Charlotte đáp, hạ thấp giọng. "Tôi bị người gác cửa của hắn đuổi đi. Nhưng tôi đã viết thư xin hẹn gặp tối nay".

"Gã có ở một mình không ?" Mireille hỏi dồn với cơn kích động.

"Hắn ở chung với cô em Albertine, và Simonne Evrard, người vợ không chính thức. Nhưng chắc chị không có ý nói tự mình đến đó ? Nếu chị nói tên ra hoặc chúng đoán ra chị là ai, chị sẽ bị bắt.."

'Tôi không định nói tên mình", Mireille nói, từ từ mỉm cười. 'Tôi sẽ nói tên chị".

***

Mặt trời lặn, Mireille và Charlotte đến nơi, ngồi ghế sau chiếc xe độc mã thuê được, tại một lối đi bên kia chỗ ở của Marat. Bầu trời phản chiếu lên ô kính cửa sổ một màu đỏ như máu; mặt trời xế bóng lướt màu đồng đỏ trên đá lát.

"Tôi phải biết lý do chị đưa ra trong thư xin gặp mặt", Mireille nói với Charlotte.

"Tôi viết cho hắn tôi đến từ Caen", Charlotte nói, "để tố giác những hoạt động của Girondins chống lại chính quyền. Tôi nói tôi biết những mưu đồ được sắp đặt".

"Đưa tôi giấy tờ của chị", Mireille lên tiếng, chìa tay ra, "phòng trường hợp tôi cần bằng chứng để vào trong".

"Tôi cầu nguyện cho chị", Charlotte nói, chìa giấy tờ ra, Mireille nhét vào vạt áo, cạnh con dao. "Tôi sẽ đợi ở đây đến khi chị quay lại".

Mireille băng qua đường và bước lên những bậc tam cấp của ngôi nhà đá ọp ẹp. Cô ngừng trước cửa, nơi đính tấm bảng sờn nát:

BÁC SĨ JEAN PAUL MARAT

Cô hít một hơi thật sâu và đập tay cầm bằng kim loại lên cửa. Âm thanh vang khắp các bức tường trơ trụi bên trong. Cuối cùng cô nghe tiếng chân lê bước đến, cánh cửa giật mở tung.

Đứng đó là một phụ nữ cao, khuôn mặt to màu trắng đục đầy nếp nhăn. Bà dùng một tay gạt sang bên sợi tóc rơi ra từ mái tóc xoắn lại nhếch nhác. Chùi bàn tay dính bột lên cái khăn đút ở chỗ thắt lưng lụng thụng, bà ta nhìn từ trên xuống dưới Mireille mặc chiếc đầm trang trí chấm bi kiểu Thụy Sĩ, mũ thắt ruy băng, những lọn tóc mềm xõa trên bờ vai trắng mịn.

"Cô muốn gì ?" bà ta khịt mũi khinh bỉ.

"Tên tôi là Corday. Ngài Marat đợi tôi", Mireille nói.

"Ông ấy bệnh", người phụ nữ ngắt lời. Bà bắt đầu khép cửa nhưng Mireille đưa lưng chặn cửa lại.

"Tôi nhất định phải gặp bằng được ông ấy !"

"Gì vậy, Simonne ?" một người phụ nữ khác xuất hiện cuối dãy hành lang dài xa kia nói vọng tới.

"Một vị khách, Albertine, đòi gặp anh cô. Tôi đã bảo ông ấy bệnh..."

"Ngài Marat sẽ muốn gặp tôi", Mireille nói to, "nếu ông ta biết tin tức tôi mang đến từ Caen, và từ Montglane".

Giọng một người đàn ông vang lên qua cánh cửa khép hờ giữa đường đến phòng lớn. "Có khách hả, Simonne ? Đưa cô ấy đến gặp ta ngay tức thì !"'

Simonne nhún vai và ra hiệu cho Mireille đi theo.

Đó là một căn phòng lát đá rộng lớn chỉ có duy nhất một cửa sổ nhỏ cao, qua đó cô thoáng thấy bầu trời đỏ ngả dần thành xám. Nơi này nồng nặc mùi thuốc sát trùng và mùi hôi thối của sự mục nát. Trong góc có một chậu đồng hình giày ống. Marat đang ngồi đó, trong bóng tối chỉ chập chờn ánh sáng của ngọn đèn cầy leo lét đặt trên tấm ván viết trên đầu gối. Đầu bọc vải ướt, làn da lỗ chỗ le lói bệnh hoạn trắng bệch trong ánh nến, hắn bận cúi đầu trên tấm ván vứt đầy giấy viết. 

Ánh mắt Mireille tập trung vào hắn. Hắn không ngẩng lên khi Simonne đưa cô vào phòng và ra hiệu cho cô ngồi lên chiếc ghế đẩu bằng gỗ cạnh cái chậu. Hắn tiếp tục viết trong khi Mireille nhìn chòng chọc, tim cô đập thình thịch dữ dội. Cô ao ước được nhảy bổ vào gã, ấn đầu gã vào dưới làn nước âm ấm trong chậu tắm, đè cho đến khi... Nhưng Simonne vẫn còn đứng sau lưng cô.

"Ngươi đến thật đúng lúc làm sao", Marat đang nói, vẫn chúi mũi vào xấp giấy tờ. "Ngay khi ta đang chuẩn bị một danh sách bọn Girondins được tin là chống đối trong các tỉnh. Nếu đến từ Caen, ngươi có thể xác nhận danh sách của ta. Nhưng ngươi nói cũng có tin tức của Montglane..."

Hắn ngước nhìn Mireille và trợn tròn mắt. Hắn im lặng một hồi rồi nhìn Simonne.

"Giờ bà ra ngoài đi nhé, bạn thân mến", hắn nói với bà ấy.

Simonne không nhúc nhích một hồi nhưng cuối cùng dưới ánh nhìn chằm chằm xuyên thấu của Marat, bà quay lưng và bỏ đi, đóng cửa lại.

Mireille đáp lại cái nhìn chòng chọc của Marat mà không nói lời nào. Thật lạ, cô nghĩ thầm. Đây là hiện thân bằng xương bằng thịt của quỷ dữ, người đàn ông với khuôn mặt ghê tởm đã ám ảnh những cơn ác mộng đau khổ của cô suốt thời gian rất dài, đang ngồi trong một cái chậu đồng chứa đầy thuốc muối bốc mùi hôi hám, chết dần chết mòn như một miếng thịt ôi thiu. Một lão già quắt queo, đang kiệt quệ bởi chính cái ác trong con người hắn. Cô sẽ thương xót hắn nếu tim cô có chỗ cho sự tiếc thương. Nhưng không đâu.

"Vậy", hắn thì thầm, vẫn nhìn cô chằm chằm, "cuốỉ cùng ngươi đã đến. Ta biết khi những quân cờ thất lạc, một ngày nào đó ngươi sẽ trở lại !" Cặp mắt gã lấp lánh ánh nến lung linh. Mireille cảm thấy máu lạnh buốt trong huyết quản.

"Chúng đâu ?" cô hỏi

"Câu đó ta định hỏi ngươi đây", hắn bình thản nói. "Ngươi phạm phải một sai lầm lớn khi đên đây, dưới một cái tên giả hay không. Ngươi sẽ không bao giờ sống sót ra khỏi chỗ này, trừ khi ngươi nói ta biết chuyện gì xảy đến cho những quân cờ ngươi đào lên khỏi vườn nhà David".

"Ngươi cũng không", Mireille nói, cảm thấy tim mình bình tĩnh khi cô rút con dao ra khỏi vạt áo. "Năm chị em của ta đang mất tích. Ta muốn biết họ có kết cục như em ta không ?".

"Á à, ngươi định giết ta đấy ư", Marat nói với nụ cười khủng khiếp. "Nhưng ta khó mà nghĩ rằng ngươi sẽ làm vậy. Ta là một người hấp hối, ngươi thấy đấy. Ta không cần bác sĩ nói ta biết; bản thân ta là một bác sĩ".

Mireille lấy ngón tay chạm vào lưỡi dao.

Cầm cây bút lông lên, Marat vỗ nhẹ nó lên bộ ngực trần. "Ta khuyên ngươi phập mũi dao găm vào đây, bên trái giữa xương sườn thứ hai và thứ ba. Ngươi sẽ cắt đứt được động mạch chủ. Nhanh và chắc tay. Nhưng trước khi ta chết, ngươi sẽ thích thú biết được ta đã thật sự có được những quân cờ. Không phải năm như ngươi nghĩ, mà là tám. Gộp của hai ta lại, chúng ta kiểm soát nửa bàn cờ.

Mireille cố không biểu lộ gì ra ngoài nhưng tim cô lại đập mạnh một lần nữa. Adrenaline bơm vào máu cô như chất kích thích. "Ta không tin !" cô hét lên.

"Hỏi cô bạn Corday của ngươi xem có bao nhiêu nữ tu đến tìm cô ấy trong khi ngươi không có ở đây", hắn nói. "Beaumont, Defresnay, d'Armentieres, những cái tên đó nghe quen không ?"

Tất cả họ đều là nữ tu của Montglane. Hắn đang nói gì vậy ? Không ai trong số họ đã đến Paris, không ai trong số họ đã viết thư mà David chuyển cho Robespierre...”

"Họ đến Caen", Marat nói, đọc được ý nghĩ của Mireille. "Họ nghĩ tìm được Corday. Đáng buồn làm sao. Họ nhanh chóng biết được người phụ nữ chặn họ lại không phải nữ tu".

"Phụ nữ ư ? !" Mireille kêu lên.

Ngay khi đó có tiếng gõ nhẹ bên ngoài và cánh cửa mở ra. Simonne Evrard bước vào, cầm một đĩa cật và lá lách cừu non nóng hổi. Bà ta băng qua căn phòng với một vẻ khắc khổ trên khuôn mặt khi bà liếc mắt nhìn Marat và vị khách của hắn. Bà đặt cái đĩa lên thành cửa sổ.

"Cho nguội, để nhét vào bánh mì", bà nói sẵng giọng, cặp mắt tròn và sáng lướt qua Mireille, cô đã nhanh chóng giấu con dao vào trong nếp gấp ở váy.

"Đừng làm phiền nữa", Marat nói cộc lốc. Simonne nhìn hắn sững sờ, rồi nhanh chóng ra khỏi phòng, biểu lộ sự tổn thương trên khuôn mặt xấu xí.

"Khóa cửa lại", Marat nói khi Mireille liếc hắn ngạc nhiên. Đôi mắt hắn đen tối khi ngả lưng trong chậu tắm, phổi khò khè khi cố thở. "Căn bệnh lan khắp người ta. Nếu ngươi muốn giết ta thì không có nhiều thời gian đâu. Nhưng ta nghĩ ngươi muốn biết thêm thông tin, cũng như điều ta muốn ở ngươi. Khóa cửa lại và ta sẽ nói ngươi biết điều ngươi muốn".

Mireille băng qua cánh cửa, vẫn giữ chặt con dao và xoay chìa khóa đến khi cô nghe cửa khóa cái tách. Đầu cô rộn lên. Người phụ nữ hắn nói là ai, người lấy những quân cờ từ các nữ tu không hề hoài nghi ?

"Ngươi giết họ. Ngươi và con mụ xấu xí kia", cô hét lên. "Ngươi giết họ vì những quân cờ !"

"Ta là kẻ bệnh tật", hắn đáp với nụ cười kinh tởm, khuôn mặt trắng bệch phập phồng trong bóng tối. "Nhưng cũng như quân Vua trên bàn cờ, quân yếu nhất cũng có thể là quân giá trị nhất. Ta giết chúng, nhưng chỉ bằng thông tin. Ta biết chúng là ai và chúng sẽ đến đâu ẩn nấp. Nữ tu trưởng của ngươi là một kẻ dại dột; tên của các nữ tu tại Montglane có trong hồ sơ lưu trữ. Nhưng không, ta không chính tay giết họ. Simonne cũng không. Ta sẽ nói ngươi biết ai đã làm điều đó khi ngươi nói ta nghe ngươi đã làm gì với những quân cờ ngươi mang đi. Thậm chí ta sẽ nói ngươi biết những quân cờ lấy được của chúng ta ở đâu, dù nó không ích lợi gì cho ngươi. ."

Nỗi hoài nghi và sợ hãi giày vò Mireille. Làm sao cô tin được hắn, khi lần trước hắn đã ra lệnh giết Valentine ? 

"Nói ta nghe tên người phụ nữ đó, và những quân cờ đang ở đâu" cô nói, băng qua căn phòng đến chậu tắm. "Bằng không, không gì hết".

"Ngươi cầm dao trong tay", Marat nói giọng gay gắt. "Nhưng đồng minh của ta là quân cờ quyền lực nhất trong ván cờ. Ngươi sẽ không bao giờ tiêu diệt được cô ấy, không bao giờ ! Hy vọng duy nhất của ngươi là hợp lực với chúng ta và hợp nhất các quân cờ. Ở riêng lẻ, chúng chẳng là gì. Nhưng khi hợp lại, chúng nắm giữ một thế giới quyền lực. Hãy hỏi nữ tu trưởng của ngươi nếu không tin lời ta. Bà ta biết người phụ nữ đó. Bà ta hiểu quyền lực của cô ấy. Tên cô ấy là Catherine, người là Nữ Hoàng Trắng !"

"Catherine !" Mireille kêu lên trong khi cả ngàn ý nghĩ nhận chìm tâm trí cô. Nữ tu trưởng đi Nga ! Người bạn thời thơ ấu của Người... Câu chuyện của Talleyrand... người phụ nữ mua lại thư viện của Voltaire... Catherine đệ nhất, nữ hoàng của toàn thể dân Nga ! Nhưng làm sao người phụ nữ ấy vừa là bạn của nữ viện trưởng vừa là đồng minh của Marat ?

"Ngươi nói dối", cô nói. "Cô ta giờ ở đâu ? Và những quân cờ ở đâu ?"

"Ta đã nói ngươi tên người đó", ông ta hét lên, khuôn mặt trắng bệch giận dữ. "Nhưng trước khi ta nói thêm cho ngươi biết, ngươi phải giữ đúng cam kết nói ta nghe chứ. Những quân cờ ngươi đào lên từ vườn nhà David ở đâu rồi ? Nói mau !"

Mireille hít sâu, con dao nắm chặt trong tay. "Ta gửi chúng ra nước ngoài rồi", cô chậm rãi nói. "Chúng an toàn ở Anh". Nhung khuôn mặt Marat tươi lên khi nghe những lời đó. Cô có thể thấy những thay đổi ở hắn khi nét mặt hắn méo mó thành mặt nạ quỷ dữ cô nhớ trong những giấc mơ.

"Tất nhiên rồi !" hắn hét lên. "Ta thật ngốc ! Ngươi đưa chúng cho Talleyrand ! Chúa ơi, còn hơn điều ta hy vọng !" Hắn cố nhổm dậy khỏi chậu tắm.

"Gã đó ở Anh !" hắn gào. "Ở Anh ! Chúa ơi, cô ta có thể lấy chúng !" Hắn cố đẩy tấm ván ra với đôi tay yếu đuối. Nước sóng sánh trong chậu tắm. "Ôi, nó thuộc về ta, thuộc về ta !"

"Không !" Mireille hét toáng "Ngươi nói ngươi sẽ cho ta biết các quân cờ ở đâu !"

"Ngươi ngốc thật !" Hắn bật cười và đẩy tấm ván rơi xuống sàn, mực tung tóe lên váy Mireille. Cô nghe tiếng bước chân đang đi xuống hành lang, một bàn tay đang vặn quả đấm cửa. Cô đẩy Marat trở vào chậu tắm. Một tay cô túm mái tóc nhớt nhợt của hắn, con dao để ngay ngực hắn.

"Nói ta biết chúng ở đâu !" cô gào thét trong lúc âm thanh dọng lên cửa át đi tiếng cô. "Nói mau !"

"Ngươi hèn nhát thật !" Hắn rít lên, nước bọt đính lốm đốm trên môi. "Làm đi, nếu không sẽ bị nguyền rủa ! Ngươi đã quá muộn... quá muộn !"

Mireille nhìn chằm chằm hắn trong lúc tiếng nện cửa tiếp tục vang lên. Tiếng la hét của mấy bà ngoài kia đầy tai cô, và cô nhìn khuôn mặt kinh tởm liếc cô đểu cáng. Hắn muốn cô giết hắn, cô khiếp đảm nhận ra. Cô lấy đâu ra sức mạnh để giết chết một gã đàn ông ? Tôi có thể ngửi thấy mùi báo thù nơi cô, như người ta đánh hơi thấy nước trên sa mạc, cô nghe giọng nói Shahin thì thầm trong đầu, chìm trong tiếng la hét của những người phụ nữ, tiếng nện lên cửa. Hắn muốn nói gì khi bảo cô đã "quá muộn" ? Talleyrand ở Anh là ý gì ? Ý hắn "bà ta có thể lấy chúng" là sao ?

Chốt cửa bị đẩy bật khi thân hình nặng nề của Simonne Evrard tông mạnh vào, gỗ mục nát bong tróc quanh chốt khóa. Mireille nhìn xuống khuôn mặt mưng mủ của Marat. Hít một hơi, cô cắm phập con dao vào. Máu phun vọt từ vết đâm tung tóe chiếc váy cô mặc. Cô nhấn lưỡi dao sâu xuống tận cán.

"Chúc mừng, đúng vị trí..." hắn thì thầm, máu sủi bọt lên môi. Đầu hắn đổ gục xuống vai; máu trào tuôn xối xả theo từng cơn co bóp của tim. Cô rút dao ra và thả xuống sàn ngay khi cánh cửa bật tung.

Simonne Evrard ào vào phòng với Albertine ngay sau lưng. Cô em Marat nhìn chậu tắm một cái, thét lên và ngất xỉu. Simonne la hét inh ỏi khi Mireille bàng hoàng đi về phía cửa.

"Chúa ơi ! Ngươi đã giết ông ấy ! Ngươi đã giết ông ấy" bà ta thét lên, vội vã xông qua mặt Mireille đến chậu tắm, quỳ xuống cầm máu bằng chiếc khăn của mình. Mireille vẫn tiếp tục đi ra ngoài hành lang như bị thôi miên. Cửa trước mở tung, vài người hàng xóm lao vào nhà. Mireille đi qua họ vào hành lang, di chuyển trong cơn mê mụ, máu văng đầy khuôn mặt và quần áo cô. Cô nghe tiếng la hét và than khóc từ phía sau khi đi về phía cánh cửa mở. Ý hắn nói cô "đã quá muộn" là sao ?

Cô đặt tay lên cửa khi cú đánh tấn công cô từ phía sau. Cô cảm thấy cơn đau và nghe tiếng gỗ bong tróc. Cô đổ sụp xuống đất. Những mảnh vụn của cái ghế bị vỡ đã đánh vào cô nằm rải rác khắp sàn nhà đầy bụi. Đầu cô đau điếng, cô cố gượng dậy. Một gã đàn ông túm lấy vạt áo trước của cô, cào ngực và kéo lê chân cô. Hắn dồn cô vào tường làm đầu cô bị đập thêm lần nữa và ngã xuống đất. Lần này cô không thể gượng dậy. Cô nghe tiếng giậm chân, ván sàn run lên méo mó khi nhiều người nhảy bổ vào nhà, tiếng la toáng và gào thét của nhiều người, tiếng một người phụ nữ khóc lóc.

Cô nằm trên sàn nhà dơ bẩn không thể nhúc nhích. Sau hồi lâu cô cảm thấy những bàn tay đặt bên dưới, có người cố nhấc cô dậy. Những người mặc đồng phục màu sậm, đỡ cô đứng dậy. Đầu cô nhức buốt, cô cảm thấy cơn đau nhói kinh khủng lan xuống cổ và cột sống. Họ nắm dưới khuỷu tay kéo cô dậy, lôi cô ra cửa khi cô cố bước đi.

Bên ngoài, một đám đông tụ tập vây quanh ngôi nhà. Mắt cô lờ mờ khi cô ngó khắp lượt cả đống gương mặt, hàng trăm khuôn mặt quay tít như một biển động vật. Tất cả đang chìm, cô nghĩ, tất cả đang chìm. Cảnh sát xua đám đông lùi lại. Cô nghe những tiếng hét, tiếng gào: "Mụ giết người !" "Tên sát nhân !" Và tít xa kia, bên kia con đường, một gương mặt trắng bệch lơ lửng trên cửa sổ để mở của chiếc xe ngựa đang chờ. Cô cố tập trung nhìn cho rõ.

Trong một giây, cô nhìn thấy cặp mắt xanh dương khiếp sợ, đôi môi tái nhợt, ngón tay trắng toát bấu chặt cửa xe - Charlotte Corday. Rồi mọi thứ tối sầm.

Ngày mười bốn tháng bảy năm 1793

Tám giờ tối, Jacques-Louis kiệt sức từ Quốc hội trở về. Dân chúng đã đốt pháo và chạy qua những con đường như những tên ngốc say rượu khi ông đưa xe ngựa vào sân.

Hôm nay là ngày kỷ niệm vụ phá ngục Bastille. Nhưng không hiểu sao ông không thể cảm thấy phấn khởi. Sáng nay, khi đến Quốc hội, ông biết được Marat đã bị ám sát đêm qua ! Và người phụ nữ họ đang giữ trong nhà ngục Bastille, kẻ sát nhân, chính là người khách ghé thăm Mireille hôm qua, Charlotte Corday !

Bản thân Mireille đêm qua cũng không về. David lo lắng bồn chồn. Ông không thể bảo đảm rằng cánh tay dài của công xã Paris không chạm đến mình, nếu họ phát hiện ra mưu đồ bất chính kia được bàn bạc ngay tại phòng ăn nhà ông. Giá như ông có thể tìm ra Mireille, đưa cô đi khỏi Paris trước khi những người khác chắp nối các sự việc lại...

Trèo xuống xe ngựa, ông phủi bụi khỏi phù hiệu ba màu trên cái nón do chính ông thiết kế dành cho các đại biểu quốc hội để thể hiện tinh thần cách mạng. Khi ông đến gần cửa nhà phía sau xe ngựa, một dáng người cao lẻn ra khỏi bóng tối và tiến về phía ông. David co rúm sợ hãi khi người đó túm lấy cánh tay ông. Một ống pháo được bắn lên trời, làm ông thoáng thấy khuôn mặt tái nhợt, đôi mắt xanh nước biển của Maximilien Robespierre.

"Chúng ta cần nói chuyện", Robespierre thì thầm giọng nhẹ nhàng, uể oải khi pháo bừng lên trên bầu trời đêm. "Ngài đã bỏ lỡ vụ tố cáo chiều nay..."

"Tôi ở Quốc hội !" David kêu lên giọng hoảng sợ, vì rõ ràng ông biết bị can trong vụ tố cáo mà Robespierre đang nói đến. "Sao ngài lại nhảy ra khỏi bóng tối như vậy ?" ông nói thêm, cố lấp liếm nguyên nhân thật sự khiến ông run sợ. "Nếu ngài muốn nói chuyện với tôi thì vào trong nhà đi".

"Điều tôi phải nói không thể để lọt vào tai đám đầy tớ và những kẻ nghe trộm, thưa ngài". Robespierre trang trọng nói.

"Đầy tớ của tôi đi ra ngoài tham dự lễ kỷ niệm vụ phá ngục Bastille rồi". David nói. "Sao ngài lại nghĩ tôi tự mình khóa cửa ?" Ông đang run lẩy bẩy và thầm cảm ơn bóng tối bao quanh họ che giấu điều đó khi hai người băng qua sân.

"Thật tiếc ngài không đến nghe xử", Robespierre lên tiếng khi họ vào trong căn nhà vắng tanh tối mịt. "Ngài biết đấy, người phụ nữ họ buộc tội không phải Charlotte Corday. Đó là cô gái trong bức tranh ngài đã cho tôi xem, người chúng ta đang lùng sục nhiều tháng nay trên khắp nước Pháp. David thân mến, chính cô cháu gái Mireille của ông đã ám sát Marat !"

David chết cóng dù đang trong tiết trời tháng bảy ấm áp. Ông ngồi trong phòng ăn nhỏ trong khi Robespierre ở bên kia thắp ngọn đèn dầu lên và rót cho ông chút rượu từ cái bình cổ thon đặt trên tủ bát đĩa. David run bần bật dữ dội đến mức không thể cầm nổi cái ly trong hai bàn tay.

"Tôi không nói ai điều tôi biết trước khi tôi nói chuyện với ngài", Robespierre đang nói. "Tôi cần ngài giúp. Cháu gái ngài có thông tin tôi muốn biết. Tôi biết tại sao cô ta đi gặp Marat, cô ta theo đuổi bí mật của Bộ cờ Montglane. Tôi phải biết điều gì diễn ra trong cuộc nói chuyện giữa họ trước khi Marat chết, và cô ta có cơ hội lén lút truyền đạt điều mình biết cho những người khác hay không".

"Nhưng tôi nói ngài tôi không biết gì về những sự kiện khủng khiếp này !" David kêu lên, nhìn Robespierre khiếp đảm. "Tôi chưa bao giờ tin Bộ cờ Montglane có tồn tại cho đến khi tôi rời quán cà phê De la Régence cùng André Philidor, ngài nhớ chứ ? Ông ta là người nói tôi biết. Nhưng khi tôi kể lại câu chuyện đó cho Mireille..."

Robespierre với tay qua bàn chộp lấy cánh tay David. "Cô ta đã ở đây sao ? Ngài đã nói chuyện với cô ta sao ? Chúa ơi, sao ngài không nói tôi biết ?"

"Con bé nói không ai được biết nó ở đây", David rên rỉ, tay ôm đầu. "Con bé tới đây bốn ngày trước, Chúa mới biết nó đến từ đâu, ăn mặc trang phục như dân Ả Rập..."

"Cô ta đã ở sa mạc !" Robespierre nói, nhảy bật dậy và đi tới lui. "David thân mến, cháu gái ngài không còn là một cô bé ngây thơ. Bí mật này trở về người Ma-rốc, trở về sa mạc. Đó là bí mật của những quân cờ cô ta theo đuổi. Cô ta lạnh lùng giết Marat vì chúng. Cô ta ở ngay trung tâm của ván cờ quyền lực và nguy hiểm này ! Ngài phải nói tôi biết ngài còn biết được gì từ cô ấy, trước khi quá muộn !"

"Ngài đang biết sự thật gây ra nỗi kinh hoàng này !" David gào lên, sắp phát khóc. "Và tôi sẽ chết nếu họ phát hiện ra con bé là ai. Marat lúc còn sống có thể bị mọi người căm thù và khiếp sợ, nhưng giờ hắn chết rồi, họ sẽ đặt tro hắn vào điện Panthéon, trái tim hắn sẽ được cất giữ như di vật thiêng liêng tại trụ sở hội Jacobin".

"Tôi biết", giọng nói nhỏ nhẹ của Robespierre khiến David lạnh buốt sống lưng. "Đó là lý do tôi đến đây. David thân mến, có thể tôi làm được gì đó giúp cả ngài và... nhưng chỉ khi ngài giúp tôi trước đã. Tôi nghĩ cô cháu gái Mireille của ngài tin tưởng ngài, cô ấy sẽ giãi bày với ngài trong khi thậm chí chẳng thèm mở miệng nói chuyện với tôi. Nếu tôi có thể bí mật đưa ngài vào tù..."

"Xin đừng yêu cầu tôi làm chuyện đó !" David gần như hét toáng lên. "Tôi sẽ làm tất cả mọi thứ trong quyền hạn của mình để giúp con bé, nhưng điều ngài gợi ý có thể khiến tất cả chúng ta phải trả giá bằng thủ cấp của mình !" 

"Ngài không hiểu", Robespierre bình thản nói và ngồi trở xuống nhưng lần này là ngồi cạnh David. Ông nắm tay người họa sĩ. "Tôi biết ngài là một nhà cách mạng trung kiên. Nhưng ngài không biết rằng Bộ cờ Montglane nằm ngay chính giữa tâm cơn bão đang quét sạch chế độ quân chủ trên khắp châu Âu, nó sẽ mãi mãi loại bỏ đi ách áp bức thống trị". Ông ta đến tủ bát đĩa và rót cho mình một ly rượu, sau đó nói tiếp: "Có thể ngài sẽ hiểu nếu tôi nói ra làm thế nào tôi đến với ván cờ. Vì có một ván cờ đang diễn ra, ngài David thân mến, một ván cờ nguy hiểm và chí tử tiêu diệt chính quyền lực của các vị vua. Bộ cờ Montglane phải được hợp nhất lại dưới quyền kiểm soát của những người như chúng tôi đây, những người sẽ sử dụng công cụ quyền năng này hỗ trợ những đức tính tốt đẹp được Jean- Jacques Rousseau tán thành. Vì chính đích thân Rousseau đã chọn tôi cho ván cờ".

"Rousseau !" David thì thầm trong nỗi kính sợ. "Ông ta tìm kiếm Bộ cờ Montglane ư ?"

"Philidor biết ông ta, và tôi cũng vậy", Robespierre nói, rút một mảnh giấy viết thư ra khỏi chiếc túi xách tay nhỏ và tìm kiếm cây bút. David lục lọi mớ bề bộn trên tủ bát đĩa và đưa ông ta cây bút chì màu, sau đó Robespierre vừa nói tiếp vừa bắt đầu vẽ một sơ đồ.

"Tôi gặp ông ta mười lăm năm trước, lúc đó tôi là một luật sư trẻ tuổi tham gia hội nghị ba đẳng cấp ở Paris. Tôi biết vị triết gia đáng kính Rousseau đã ngã bệnh trầm trọng ngay ngoại ô Paris. Gấp rút thu xếp một cuộc hẹn, tôi lên ngựa phi đến thăm người đàn ông sáu mươi sáu tuổi đã tạo ra một di sản chẳng mấy chốc thay đổi tương lai của cả thế giới. Tất nhiên đến một ngày điều ông ta kể tôi nghe đã thay đổi tương lai của tôi, và có lẽ tương lai ngài cũng bị đổi thay".

David ngồi lặng thinh trong khi xa xa ngoài cửa sổ, pháo nổ như hoa cúc bung cánh trên nền trời tối đen thăm thẳm. Và Robespierre cúi đầu lên bức vẽ, bắt đầu câu chuyện của mình...

CÂU CHUYỆN CỦA VIÊN LUẬT SƯ

Cách Paris ba mươi dặm, gần thị trấn Ermenonville là mảnh đất của Marquis de Girardin, nơi Rousseau và người tình Thérèse Levasseur đang sống trong một ngôi nhà từ giữa tháng năm năm 1778.

Khi đó là tháng sáu, thời tiết dễ chịu, mùi cỏ tươi mới cắt hòa quyện hương thơm những đóa hồng nở bung thoang thoảng khắp bãi cỏ rậm rạp bao quanh lâu đài vị hầu tước. Trên mảnh đất ấy, giữa mặt hồ nổi lên một hòn đảo nhỏ, đảo Poplars. Tôi thấy Rousseau ở đó, mặc trang phục kiểu Ma-rốc như mọi người vẫn thường mô tả: áo dài màu đỏ tía có thắt ngang lưng rộng lùng thùng, khăn choàng xanh lá đầy đường viền, đôi giày đỏ mũi cong kiểu Ma-rốc, túi da lớn màu vàng đeo qua một bên vai và mũ đính lông thú ôm lấy khuôn mặt sạm đen khắc khổ. Người đàn ông kỳ lạ và bí ẩn này dựa vào những thân cây lốm đốm và dòng nước dường như có âm nhạc phát ra từ bên trong mà chỉ mình ông ta có thể nghe thấy.

Băng qua cây cầu nhỏ, tôi đến chào hỏi dù trong lòng thấy ái ngại vì đã phá vỡ sự tập trung cao độ này. Không hay biết sự có mặt của tôi, Rousseau đang suy ngẫm về cuộc gặp gỡ để lại tiếng tăm muôn đời của chính ông, chỉ mới cách đó vài tuần.

"Tôi đang trông chờ cậu", ông nói thản nhiên như chào hỏi. "Robespierre à, họ nói với tôi cậu là người nắm giữ những đức tính bẩm sinh mà bản thân tôi tán dương về chúng. Vào lúc cận kề cái chết, thật an ủi khi biết những đức tin của mình ít ra cũng được một anh bạn bằng xương bằng thịt san sẻ cùng !"

Lúc đó tôi chỉ hai mươi tuổi, và cực kỳ ngưỡng mộ Rousseau, người đã bị đưa đi hết nơi này sang nơi khác, sống xa quê hương xứ sở, buộc lòng phải sống dựa vào lòng hảo tâm của những người khác mặc dù ông là một người danh tiếng và có vô vàn ý tưởng sắc sảo. Tôi không biết trông chờ điều gì khi đến gặp ông ta, có lẽ vài tri thức thông thái về triết học, một cuộc trò chuyện giúp mở mang tầm nhìn về chính trị, một trích dẫn lãng mạn trong tác phẩm Nàng Héloise mới. Nhưng Rousseau biết mình sắp gần đất xa trời nên có vẻ còn vướng bận điều gì trong đầu.

"Voltaire đã qua đời tuần trước", ông cất lời. "Sinh mạng của hai chúng tôi gắn kết lại cùng nhau như những kỵ binh Plato, một người xuống trái đất còn một người lên thiên đàng. Voltaire tích cực ủng hộ Lý trí trong khi tôi đấu tranh bênh vực Bản chất tự nhiên. Gộp lại, cả hai triết lý của chúng tôi đáp ứng cho việc tách rời Nhà nước và Nhà thờ".

"Tôi tưởng ngài không thích ông ta", tôi bối rối nói.

"Tôi vừa ghét vừa thương ông ta. Tôi hối tiếc vì không bao giờ gặp lại ông ấy. Một điều chắc chắn, tôi sẽ không mong mỏi sống thọ hơn ông ấy. Bi kịch là Voltaire nắm giữ chìa khóa của bí ẩn mà tôi đã dành cả đời cố công làm sáng tỏ. Vì cái tính cứng đầu cứng cổ khăng khăng bênh vực lý trí nên ông ta không bao giờ biết được giá trị của điều mình khám phá ra. Giờ đã quá muộn, ông ta mất rồi. Và bí mật của Bộ cờ Montglane cũng bị chôn xuống mồ cùng ông ấy".

Tôi thấy cơn phấn khích trào dâng trong người khi nghe ông ta nói. Bộ cờ của hoàng đế Charlemagne ! Người Pháp nào cũng biết câu chuyện đó nhưng có lẽ nào nó lại không chỉ là truyền thuyết ? Tôi nín thở thầm cầu mong ông ta nói tiếp.

Rousseau ngồi xuống một khúc gỗ bị đốn hạ và lục lọi chiếc túi da màu vàng kiểu Ma-rốc. Tôi ngạc nhiên khi ông ta lấy ra một mảnh vải thêu ren tinh xảo và dải đăng ten làm bằng tay rồi bắt đầu dùng cây kim bạc nhỏ xíu khâu vào, vừa làm vừa nói.

"Khi còn trẻ", ông cất lời, "tôi tự nuôi sống bản thân ở Paris bằng cách bán dây đăng ten và đồ thêu vì không ai thích các vở nhạc kịch tôi soạn. Dù hy vọng trở thành một nhạc sĩ đại tài nhưng hằng đêm tôi chơi cờ với Denis Diderot và André Philidor, người cũng nghèo khổ như tôi. Đúng lúc đó, Diderot kiếm được cho tôi một chân thư ký được trả lương, làm việc cho Bá tước de Montaigle đại sứ Pháp tại Venice. Đó là vào mùa xuân năm 1743, tôi không bao giờ quên vì trong năm đó ở Venice, tôi đã tận mắt chứng kiến một điều mà đến giờ vẫn còn thấy nó sống động như thể mới hôm qua. Một bí mật sâu kín nhất của Bộ cờ Montglane" 

Rousseau bị cuốn đi như chìm vào một cơn mơ. Miếng vải thêu trên tay rơi xuống đất, tôi cúi xuống nhặt lên đưa lại cho ông ta.

"Ngài nói ngài tận mắt chứng kiến một điều gì ?" tôi hỏi gặng, “Điều đó có liên quan đến bộ cờ của hoàng đế Charlemagne không ?"

Vị triết gia già nua từ từ sực tỉnh. "Có... thậm chí về sau Venice trở thành một thành phố rất lâu đời chứa đầy bí ẩn", ông mơ màng hồi tưởng. "Dù bốn bề là biển và ngập tràn ánh sáng rực rỡ nhưng nơi đó chứa đựng một điều đen tối và hiểm nguy. Tôi có thể cảm thấy bóng tối lan tràn ập lên mọi thứ trong khi đi lang thang qua mê cung các con phố ngoằn ngoèo, băng qua những cây cầu đá cổ xưa, lướt thuyền qua các kênh đào bí mật, nơi mà chỉ có tiếng nước vỗ bập bềnh phá tan sự im lặng của cơn trầm tư mặc tưởng trong tôi..."

"Có vẻ nơi đó", tôi nảy ra ý nghĩ, "giống một vùng đất siêu nhiên chăng ?"

"Chính xác", ông ta bật cười và đáp. "Đêm nọ, khi tôi một mình đến San Samuele, nhà hát tráng lệ nhất ở Venice, để xem vở hài kịch mới của Goldoni mang tên La Donna di Garbo. Nhà hát như một viên đá quý thu nhỏ: tầng tầng lớp lớp các khoang ghế sắc xanh và vàng cao đến tận mái trần, mỗi chỗ đều có chiếc giỏ bé xíu được sơn bằng tay đựng trái cây và hoa tươi và bộ đèn rực rỡ giúp nhìn thấy cả khán giả lẫn diễn viên.

"Nhà hát chật cứng với những người chèo thuyền ăn mặc sặc sỡ, các nàng gái điếm hạng sang trang điểm lòe loẹt, giới tư sản đeo đầy ngọc ngà châu báu trên người. Khán giả ở đây hoàn toàn không giống những tay thời thượng đáng chán thường thấy ở Paris. Và tất cả họ đều góp phần vào vở diễn với âm lượng hết cỡ, nào là huýt sáo chê bai, nào là bật cười, hoặc hoan hô theo từng lời đối thoại khiến người khác khó có thể nghe được diễn viên nói gì".

"Ngồi cạnh tôi là một thanh niên chạc tuổi André Philidor, cỡ độ mười sáu nhưng khuôn mặt tái nhợt và đôi môi đỏ thẫm, đội bộ tóc giả và cái nón đính lông vũ rất hợp mốt vào thời đó ở Venice. Anh ta tự giới thiệu là Giovanni Casanova.

"Casanova cũng được ăn học thành luật sư như tôi nhưng có nhiều tài năng khác. Là con của cặp diễn viên sân khấu người Venice, những người biểu diễn rong ruổi khắp từ đây đến St. Petersburg, anh ta tự kiếm sống bằng cách chơi đàn vĩ cầm tại vài nhà hát địa phương. Anh hồi hộp chờ gặp một người vừa đến từ Paris, xứ sở anh mong mỏi được ghé thăm, xứ sở quá nổi tiếng với sự sung túc và suy đồi, hai đặc điểm được đồng tình nhất trong tính cách của anh. Anh ta nói anh quan tâm đến triều đại của Louis Quinze, vì quốc vương mang tiếng phung phí ngông cuồng, đầy rẫy nhân tình, có những hành vi đồi bại và quan tâm hời hợt đến những tổ chức thần bí. Casanova thích thú nhất phần cuối này và hỏi tôi khá kỹ về hội Tam điểm, sau đó hội này trở nên rất phổ biến. Tôi biết không nhiều về những chuyện kiểu như vậy nên anh ta mời tôi đi mở mang đầu óc vào sáng hôm sau, ngày chủ nhật Phục sinh.

"Chúng tôi gặp nhau lúc bình minh như đã hẹn, đám đông đầy nghẹt đã tụ tập ngoài Porta della Carta, cánh cửa ngăn cách thánh đường San Marco nổi danh với quảng trường Ducal cạnh bên. Đám đông rũ bỏ quần áo sặc sỡ của lễ hội Camevale tuần trước, tất cả khoác lên mình trang phục màu đen, chờ đợi giọng nói vang lên kêu gọi mọi người im lặng để bắt đầu sự kiện nào đó".

"'Chúng ta sắp chứng kiến nghi thức lâu đời nhất ở Venice”, Casanova nói với tôi. 'Mỗi kỳ lễ Phục sinh, vào lúc mặt trời mọc, Tổng trấn của Venice dẫn đầu đoàn người diễu hành tuần tự băng qua quảng trường nhỏ Piazzetta và trở vào Nhà thờ thánh Mark. Nó được gọi là 'Cuộc diễu hành kéo dài', một nghi lễ cổ xưa như chính Venice này'".

" 'Nhưng chắc chắn Venice ra đời trước lễ Phục sinh, trước đạo Cơ đốc, tôi nói khi chúng tôi đi giữa đám đông đang trông ngóng, tất cả khuất mình sau những chiếc áo choàng nhung dài".

"'Tôi chưa bao giờ nói đó là nghi thức của đạo Cơ đốc”, Casanova nói với nụ cười bí ẩn. “Venice được thành lập bởi những người Phoenicia, nguồn gốc của tên chúng ta. Phoenicia là nền văn minh tạo dựng trên các hòn đảo. Họ tôn thờ Car, nữ thần mặt trăng. Bởi vì mặt trăng điều khiển dòng thủy triều nên người Phoenicia cai trị vùng biển, từ đó xuất phát bí ẩn vĩ đại nhất của tất cả, đó là cuộc sống".

"Một nghi thức của người Phoenicia. Điều này gợi lên ký ức mờ nhạt trong tôi, nhưng ngay sau đó đám đông quanh chúng tôi im lặng. Một tù và khổng lồ xuất hiện trên những nấc thang của tòa nhà tráng lệ và nhanh chóng phát ra tiếng kèn lệnh. Tổng trấn của Venice đội mũ miện đính đá quý và mặc chiếc áo sa tanh đỏ tía, xuất hiện ở cổng Porta della Carta, bao quanh bởi các nhạc sĩ với đàn luýt, ống sáo, và đàn lia chơi nhạc dường như đầy cảm hứng tuyệt diệu. Theo sau họ là các sứ thần của vị Giáo hoàng trong áo lễ vải cứng màu trắng, mũ tế trang trí châu báu có những sợi vàng.

"Casanova lấy khuỷu tay thúc tôi quan sát kỹ nghi lễ, trong khi những người tham gia đi xuống Piazzetta, ngừng lại ở quảng trường công lý, một bức tường vẽ quang cảnh xét xử trong kinh thánh, nơi họ treo cổ những người theo dị giáo suốt thời tòa án dị giáo. Đây là cây cột Pillars of Acre bằng đá nguyên khối mang về trong cuộc thập tự chinh từ bờ biển Phoenicia cổ đại. Chuyện vị Tổng trấn và những người đi cùng ngừng lại để suy ngẫm ngay đúng chỗ này liệu có ý nghĩa gì không ?"

"Cuối cùng họ đi tiếp, đến phía những giai điệu của âm nhạc mê ly siêu phàm cất lên. Hàng rào bảo vệ ngăn đám đông hạ thấp để chúng tôi có thể đi theo đám rước. Khi Casanova và tôi níu tay nhau đi cùng đám đông thì tôi bắt đầu cảm thấy tia sáng le lói yếu ớt của điều gì đó, tôi không thể giải thích được. Tôi có cảm giác mình đang chứng kiến điều này vào thời xa xưa. Có gì đó đen tối và mờ ám, mang đầy tính lịch sử và tượng trưng. Điều gì đó thật nguy hiểm.

"Khi đám đông xoắn thành hình uốn khúc băng qua Piazzetta và trở về qua hàng cột, tôi cảm thấy như thể chúng tôi đang di chuyển sâu hơn, càng lúc càng sâu vào trong lòng một mê cung tối tăm không có lối ra. Tôi cực kỳ an toàn, ngoài trời là ban ngày, bao quanh là hàng trăm người, vậy mà tôi lại sợ hãi. Mất một lúc, đầu tôi lóe ra ý nghĩ đó là âm nhạc, sự di chuyển, chính nghi lễ khiến tôi sợ hãi. Mỗi lần chúng tôi ngừng ngay sau vị Tổng trấn, tại một vật tạo tác hay điêu khắc là tôi cảm thấy tiếng mạch máu đập mạnh càng lớn hơn. Nó giống như một thông điệp cố vỗ vào đầu tôi dưới dạng mật mã bí mật nhưng tôi không thể hiểu. Casanova đang nhìn tôi chăm chú. Vị Tổng trấn lại dừng bước lần nữa".

'"Đây là tượng Mercury - người đưa tin của các vị thần”, Casanova nói khi chúng tôi tới gần bức tượng đồng nhảy múa. 'Tại Ai Cập, họ gọi anh ta là Thoth - người phân xử. Ở Hy Lạp họ gọi anh ta là Hermes - người dẫn đường của các linh hồn, vì anh ta dẫn các linh hồn đến địa ngục và đôi khi lén đưa họ trở về, đánh lừa chính các vị thần. Dưới nhiều cái tên như vua lừa đảo, quân bồi, chàng hề, người làm trò của bộ bài bói toán này là vị thần trộm cắp và gian trá. Hermes chế ra cây đàn lia bảy dây, với thang âm quãng tám, phát ra tiếng nhạc khiến các vị thần khóc vì sung sướng'".

"Tôi nhìn bức tượng hồi lâu trước khi bước đi. Đây là một vị thần nhanh nhẹn, có thể giúp con người thoát khỏi vương quốc của tử thần. Với đôi giày có cánh và y hiệu sáng rực hình hai con rắn quấn vào nhau tạo thành số tám, anh ta cai quản vùng đất của những giấc mơ, thế giới ma thuật, vương quốc của vận may cùng cơ hội và các trò chơi đủ kiểu. Liệu có phải trùng họp khi bức tượng anh ta nhìn đoàn diễu hành trầm lặng này với một nụ cười tinh quái không ? Hay đâu đó sâu trong lớp sương mờ tăm tối của quá khứ, đây lại là nghi lễ của chính anh ta ?"

"Trong cuộc diễu hành siêu việt này, vị Tổng trấn và nhóm người dừng chân rất nhiều lần, cả thảy mười sáu lần. Trong lúc đi, tôi bắt đầu hiểu cách đi này. Cho đến đợt dừng chân thứ mười - tại bức tường Castello - tôi bắt đầu ráp mọi thứ lại được".

"Bức tường dày mười hai foot, bao phủ trong những viên đá nhiều màu. Câu khắc trên đó, kiểu chữ Venetic cổ xưa nhất, được Casanova dịch ra cho tôi:

Nếu một người có thể nói và làm điều họ nghĩ, Người đó sẽ thấy mình đổi khác thế nào".

"Và ngay giữa bức tường được gắn một viên đá trắng trơn đơn sơ mà vị Tổng trấn và đoàn tùy tùng tôn thờ như thể nó chứa đựng phép màu thần kỳ. Bất chợt tôi cảm thấy một cơn ớn lạnh buốt giá lướt qua người. Như một bức màn được xé toạc khỏi mắt để tôi có thể nhìn thấy rất nhiều điều. Đây không chỉ đơn thuần là một nghi lễ, mà là một tiến trình hé lộ trước mắt chúng tôi, từng đợt dừng chân trong đám rước tượng trưng cho một bước trong con đường biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác. Nó giống như một công thức, nhưng là công thức về cái gì nhỉ ? Và về sau tôi đã hiểu ra.

Giờ đây Rousseau ngừng câu chuyện và rút ra một bức vẽ đã sờn ố từ trong cái túi da màu vàng. Ông ấy thận trọng mở nó ra rồi đưa cho tôi.

"Đây là bản ghi chép tôi làm về “Cuộc diễu hành kéo dài”, cho thấy con đường của mười sáu đợt dừng chân, số quân của mỗi phe trên bàn cờ vua. Cậu sẽ chú ý bản thân đường đi mô tả hình số tám, như những con rắn bện lấy nhau trên bức tượng của Hermes, như Bát chính đạo Đức Phật quy định để chạm đến cõi niết bàn, như tám tầng của ngọn tháp Babel để leo đến chỗ các vị thần. Như công thức người ta đồn rằng tám người Ma-rốc đã mang cho Charlemagne, cất giấu trong Bộ cờ Montglane..."

"Một công thức ư ?" tôi kinh ngạc nói.

"Về quyền lực vô hạn", Rousseau đáp, "ý nghĩa của nó có thể bị quên lãng nhưng sức cám dỗ của nó vô cùng mạnh mẽ, chúng ta nắm giữ mà không hiểu nó có nghĩa gì, như Casanova và tôi đã làm ba mươi lăm năm trước ở Venice".

"Nghi lễ này có vẻ hết sức hay ho và bí ẩn", tôi đồng tình. "Nhưng tại sao ngài liên hệ nó với Bộ cờ Montglane, một báu vật xét cho cùng ai cũng tin nó chỉ là một truyền thuyết không hơn không kém ?"

"Cậu không thấy sao ?" Rousseau phát bực lên. "Những hòn đảo ở Ý và Hy Lạp này đều lấy tín ngưỡng, truyền thống, sùng bái hòn đá thờ cúng từ cùng một điểm khởi nguồn, điểm khởi nguồn họ xuất thân".

"Ý ngài là Phoenicia", tôi nói.

"Ý tôi là Hòn đảo bí mật", ông ta nói một cách bí ẩn, "hòn đảo ban đầu người Ả Rập đặt tên là Al-Djezair. Hòn đảo nằm giữa hai con sông quấn lấy nhau như y hiệu hình số tám của Hermes, những con sông dâng nước cho cái nôi của nhân loại Tigris và Euphrates ..."

"Ý ngài là nghi thức này, công thức này bắt nguồn từ vùng Mesopotamia sao ?" tôi kêu lên.

"Tôi đã dành cả đời để cố hiểu ra nó !" Rousseau nói, đứng dậy nắm lấy cánh tay tôi. "Tôi đã nói cho Casanova, rồi Boswell, cuối cùng là Diderot, để cố nắm được bí mật. Giờ tôi giao nó cho cậu. Tôi chọn cậu theo dấu vết bí mật của công thức này vì tôi đã dành ba mươi lăm năm cố hiểu ra ý nghĩa phía sau nó. Gần như quá muộn..."

"Nhưng thưa ngài !" tôi bối rối cất tiếng. "Cho dù ngài khám phá ra công thức quá quyền năng thì ngài sẽ làm gì với nó ? Ngài, người viết về những ưu điểm đơn giản của cuộc sống thôn quê, sự chân chất và bình đẳng tự nhiên của tất cả mọi người. Một công cụ kiểu đó giúp ích gì được cho ngài ?"

"Tôi là kẻ thù của vua chúa !" Rousseau tuyệt vọng hét lên.

"Công thức chứa đựng trong Bộ cờ Montglane sẽ mang ngày tàn đến cho vua chúa, tất cả vua chúa, mãi mãi ! À, giá mà tôi có thể sống lâu thêm nữa để nắm chặt nó trong tay".

Tôi có rất nhiều câu hỏi dành cho Rousseau nhưng ông ấy đã tái nhợt vì kiệt sức, trán lấm tấm mồ hôi. Ông trở lại công việc thêu thùa như thể cuộc trò chuyện đã chấm dứt. Ánh mắt cuối cùng ông nhìn tôi trông như ông đã chìm sâu vào chốn xa xăm mà tôi không còn có thể theo được.

"Xưa kia có một vị vua vĩ đại", ông khẽ nói. "Vị vua quyền lực nhất trên đời. Người ta nói ngài không bao giờ chết mà mãi bất tử. Họ gọi ngài là al-Iksandr, vị thần có hai sừng, và vẽ lên đồng tiền vàng chân dung ngài trên trán có cặp sừng cừu xoắn của thần thánh. Lịch sử tưởng nhớ ngài, Alexander Đại đế, là người chinh phục cả thế giới. Ngài qua đời vào độ tuổi ba mươi ba tại Babylon ở Mesopotamia khi đang tìm kiếm công thức. Tất cả họ chết đi, giá như công thức của chúng ta..."

"Tôi xin làm theo lời ngài", tôi nói, đỡ ông ta đến cây cầu trong khi ông dựa hẳn vào vai tôi. "Chúng ta sẽ hợp sức tìm ra nơi cất giấu Bộ cờ Montglane nếu nó vẫn tồn tại và tìm hiểu ý nghĩa của công thức".

"Quá muộn đối với tôi rồi", Rousseau nói, buồn bã lắc đầu. "Tôi cho cậu biết một nơi mà tôi tin đây là manh mối duy nhất chúng ta có. Truyền thuyết nói rằng bộ cờ được chôn tại cung điện của Charlemagne ở Aix-la-Chapelle, hay còn gọi là tu viện Montglane. Sứ mệnh của cậu phải tìm ra nó !"

Robespierre đột nhiên dứt lời và liếc ra sau. Trên chiếc bàn trước mặt ông trong ánh đèn là bức vẽ ông vẽ lại theo trí nhớ về nghi thức kỳ lạ của người Venice. David đang chăm chú nhìn bức vẽ, bèn ngước lên.

"Ngài có nghe âm thanh không ?" Robespierre hỏi, đôi mắt xanh lục của ông phản chiếu pháo bông lấp lánh chợt nở bung lên ngoài kia. 

"Chỉ do ngài tưởng tượng thôi", David nói cộc lốc. "Tôi không nên tự hỏi ngài có phải người khoác lác khi kể câu chuyện như vậy không mà tôi tự hỏi bao nhiêu phần trong chuyện đó xuất phát từ sự lẩm cẩm già nua của ngài ?"

"Ngài đã nghe câu chuyện của Philidor, và giờ là chuyện của Rousseau", Robespierre cáu kỉnh.' “Cô cháu gái Mireille của ngài thật sự nắm giữ một vài quân cờ, đúng như cô ta đã thừa nhận tại nhà ngục l'Abbaye. Ngài buộc phải theo tôi đến nhà ngục Bastille, kêu cô ấy thú nhận kể hết mọi thứ. Chỉ có vậy tôi mới giúp ngài được".

David hiểu quá rõ về mối nguy chực chờ ngấm ngầm trong những lời lẽ này: không có sự giúp đỡ của Robespierre, giây chứng tử của Mireille gần như đã viết xong, và cả David cũng vậy. Thế lực đầy quyền uy của Robespierre có thể dễ dàng quay lại chống đối họ, và David đã liên can vào quá sâu, hơn cả mức tồi tệ ông tưởng tượng ra. Giờ đây, lần đầu tiên ông nhận thấy rõ ràng Mireille đã đúng khi cảnh báo về người "bạn" này.

"Ngài cùng phe với Marat !" ông hét lên. "Đúng như Mireille lo sợ ! Những nữ tu mà tôi đưa thư của họ cho ngài, họ đã bị làm sao ?"

"Ngài vẫn chẳng hiểu gì cả", Robespierre mất kiên nhẫn. "Ván cờ này vượt ngoài tầm của tôi hay ngài, hay cô cháu của ngài, hoặc những nữ tu ngu ngốc kia. Làm đồng minh sẽ tốt hơn nhiều so với việc làm địch thủ chống lại người phụ nữ tôi phụng sự. Hãy nhớ...” 

"Tôi không muốn đồng minh, tôi không mong đền đáp", David cay đắng nói và cũng đứng lên. Ông giống như kẻ phản bội, không còn cách nào khác là phải tuân theo, chính nỗi sợ hãi buộc ông làm vậy.

Ông cầm ngọn đèn dầu, đưa Robespierre ra cửa và tiễn đến tận cổng vì không có người hầu nào.

"Ngài sẽ có được điều mình muốn, với điều kiện phải làm việc đó", Robespierre nói cộc lốc. "Khi cô ấy từ Luân Đôn trở về, tôi sẽ giới thiệu ngài. Tôi không thể tiết lộ tên cô ấy ngay lúc này nhưng người ta gọi cô là Người phụ nữ từ Ấn ĐỘ”.

Giọng nói của họ vang lên từ hành lang. Khi căn phòng chìm hẳn vào bóng tối, cánh cửa phía sau dẫn ra xưởng vẽ bật mở cái tách. Chỉ được soi rọi bằng pháo bông thỉnh thoảng nở bung bên ngoài, một bóng người lờ mờ lẻn vào phòng và băng qua cái bàn nơi hai người đàn ông ngồi khi nãy. Đợt pháo bông kế tiếp được bắn lên, vụt qua chiếu rọi căn phòng, soi tỏ hình dáng cao, bệ vệ của Charlotte Corday cúi người trên bàn. Dưới cánh tay cô kẹp một hộp sơn và quần áo lấy từ xưởng vẽ.

Cô nhìn hồi lâu lên bức vẽ trông như tấm bản đồ đang để mở trên bàn trước mặt. Sau đó cô cẩn thận gấp bức hình vẽ nghi thức của người Venice kia lại, kẹp vào vạt áo rồi lẻn ra hành lang và biến mất vào đêm đen thăm thẳm.

Ngày mười bảy tháng bảy năm 1793

Bên trong xà lim tối om. Một ô cửa sổ nhỏ có chấn song, tít trên cao không thể với tới, tỏa ra tia sáng chỉ khiến xà lim thêm mịt mờ. Nước nhỏ giọt xuống nền đá đầy rêu thành những vũng nhỏ bốc mùi mốc và nước tiểu hôi hám. Đây là nhà ngục Bastille, cuộc phá ngục xảy ra nơi đây bốn năm trước đã châm ngòi cho cách mạng nổ ra. Đêm đầu tiên Mireille bị nhốt vào đây là dịp kỷ niệm vụ phá ngục Bastille, ngày mười bốn tháng bảy, cái đêm sau khi cô đã giết chết Marat.

Ba ngày nay cô ở trong xà lim nhớp nháp này, chỉ được đưa ra trong buổi tố cáo và xét xử chiều nay. Họ không cần nhiều thời gian để đi đến phán quyết: tử hình. Hai tiếng nữa cô sẽ rời xà lim này lần nữa, và không bao giờ trở lại.

Cô ngồi trên ổ rơm cứng, không đụng đến mẩu bánh mì khô hay lon nước trong bữa ăn cuối cùng họ mang đến. Cô nghĩ về con mình, Charlot, đứa bé cô rời bỏ tại sa mạc. Sẽ không bao giờ cô được gặp lại nó. Cô tự hỏi bị chém đầu sẽ thế nào, khi họ đánh trống vang rền ra hiệu lệnh cho lưỡi dao phập xuống thì cảm giác của cô ra sao. Hai giờ nữa cô sẽ biết, đó sẽ là điều cuối cùng cô biết. Cô nghĩ đến Valentine.

Đầu cô vẫn còn đau bởi cú đánh hôm bị bắt, dù vết thương đã lành nhưng cô vẫn thấy một chỗ sưng nhói lên sau đầu. Cuộc xét xử cô còn tàn bạo hơn vụ bắt giữ. Bên nguyên xé toạc phần ngực áo của cô trước tòa để lôi ra giấy tờ của Charlotte mà cô đã nhét vào đó. Giờ đây cả thế giới tin rằng cô là Charlotte Corday, và nếu cô đính chính lại lầm tưởng đó thì mạng sống của tất cả các nữ tu Montglane sẽ rơi vào nguy hiểm khôn lường. Giá như cô có thể luồn thông tin cô biết ra ngoài, chuyện Marat nói về Nữ Hoàng Trắng.

Cô nghe tiếng rít kèn kẹt ngoài cửa xà lim, tiếng chốt cửa rỉ sắt đang được kéo ra. Cánh cửa mở, và cô nheo mắt trông thấy hai bóng người trong ánh sáng lờ mờ. Một người là cai ngục còn người kia mặc quần ống túm, đi tất và giày lụa, khoác áo rộng lùng thùng với khăn choàng lụa mỏng, một cái nón vành thấp che một phần khuôn mặt. Cai ngục bước vào xà lim và Mireille đứng dậy.

"Này cô", tên cai ngục nói, "tòa gửi họa sĩ đến phác họa chân dung cô để lưu hồ sơ. Ông ta nói cô được phép..

"Rồi, rồi", cô nói gấp. "Cho ông ta vào đi !" Cô phấn khích nghĩ giờ là cơ hội của mình đây. Ước gì cô có thể thuyết phục được người đàn ông này liều mạng mang thông điệp của cô ra khỏi nhà ngục. Cô chờ đến khi cai ngục đi khỏi liền ào đến bên người họa sĩ. Ông ta đặt hộp màu và ngọn đèn dầu leo lét bốc khói xuống.

"Thưa ngài !" Mireille kêu lên. "Cho tôi xin tờ giấy và gì đó để viết. Có một lời nhắn tôi phải gửi ra ngoài, cho một người tôi tin tưởng, trước lúc chết. Tên cô ấy cũng giống tôi, Corday..."

"Chị không nhận ra tôi sao, Mireille ?" người họa sĩ khẽ nói. Mireille trố mắt nhìn khi người đó bắt đầu cởi áo khoác rồi bỏ nón ra. Mái tóc đỏ xõa lên ngực của Charlotte Corday ! "Nào, đừng phí thời gian, có nhiều chuyện phải nói và làm. Và chúng ta phải đổi quần áo cho nhau ngay".

"Nhưng tôi không hiểu, chị đang làm gì vậy ?" Mireille thì thầm bằng giọng khàn khàn.

"Tôi đến chỗ David", Charlotte nói, túm lấy cánh tay Mireille. "Ông ta liên minh với tên Robespierre xấu xa, tôi nghe lỏm được họ nói chuyện. Họ đến đây chưa ?"

"Đến đây ư ?" Mireille kêu lên cực kỳ bối rối.

"Họ biết chính chị giết Marat, và còn hơn thế nữa. Có một người phụ nữ đứng sau chuyện này, họ gọi cô ta là Người phụ nữ từ Ấn Độ. Cô ta là Nữ Hoàng Trắng và cô ấy đến Luân Đôn..."

"Luân Đôn !" Mireille nói. Đó chính là điều Marat ngụ ý khi nói cô đã quá muộn. Không phải Catherine Đệ nhất mà là một người phụ nữ ở Luân Đôn, nơi Mireille đã chuyển những quân cờ đến ! Người phụ nữ từ Ấn Độ”.

"Mau lên", Charlotte đang nói. "Chị phải cởi đồ ra và mặc những trang phục họa sĩ tôi lấy cắp từ chỗ David vào".

"Chị điên à ?" Mireille nói "Chị có thể mang những tin này cùng thông điệp của tôi cho nữ viện trưởng. Nhưng không có thời giờ bày mưu đâu, vô ích thôi. Và tôi có nhiều điều tiết lộ trước khi tôi phải...”

"Xin hãy mau lên", Charlotte trang nghiêm đáp. "Tôi có nhiều thứ nói chị nghe nhưng ít thời gian lắm. Đây, nhìn bức vẽ này và xem nó có gợi chị nhớ điều gì không". Cô ta đưa Mireille tấm bản đồ Robespierre đã vẽ rồi ngồi xuống ổ rơm cởi giày.

Mireille chăm chú quan sát bức vẽ thật kỹ. "Hình như nó là bản đồ", cô nói, ngước lên khi một điều gì đó từ từ hiện lên trong trí nhớ. "Giờ tôi nhớ rồi... chúng tôi có đào lên được một mảnh vải cùng các quân cờ. Một mảnh vải xanh sẫm phủ lên Bộ cờ Montglane ! Kiểu trang trí, nó giống bản đồ này !"

"Chính xác", Charlotte nói. "Nó chứa đựng một câu chuyện. Làm trong lúc tôi nói, và nhanh lên".

"Nếu chị định thế chỗ tôi thì không được", Mireille hét lên. "Hai tiếng nữa họ mang tôi ra xe đi xử tử. Chị sẽ không bao giờ thoát nếu chúng thấy chị ở đây, thế chỗ của tôi".

"Nghe kỹ đây", Charlotte nghiêm nghị đáp, giật mạnh để tháo nút thắt khăn choàng. "Nữ viện trưởng gửi tôi đến đây để bảo vệ chị bằng mọi giá. Từ lâu trước khi tôi liều mạng đến Montglane, chúng tôi đã biết chị là ai. Nếu không phải vì chị, nữ viện trưởng sẽ không bao giờ dời bộ cờ đi khỏi tu viện. Khi gửi cả hai đến Paris, không phải bà chọn cô em Valentine của chị. Bà biết chị sẽ không bao giờ đi mà không có em mình, nhưng chính chị là người nữ viện trưởng muốn, người có thể mang đến thành công..."

Charlotte đang cởi áo cho Mireille. Thình lình Mireille chìa tay chộp lấy cánh tay Charlotte. "Ý chị nói gì vậy, nữ viện trưởng chọn tôi là sao ?" cô thì thầm. "Tại sao chị nói bà ấy dời bộ cờ vì tôi ?”

"Chị không thấy sao", Charlotte nói một cách dữ tợn. Cô níu chặt bàn tay Mireille và đưa ra dưới ánh sáng ngọn đèn. "Dấu hiệu trên tay chị ! Ngày sinh của chị là ngày mùng bốn tháng tư ! Chị là người được định đoạt, người sẽ hợp nhất Bộ cờ Montglane !"

"Chúa ơi !" Mireille kêu lên, giật phắt tay lại. "Chị có biết mình đang nói gì không ? Valentine chết vì chúng ! Vì một lời tiên đoán ngớ ngẩn mà chị liều mạng..."

"Không, bạn thân mến", Charlotte bình thản nói. "Tôi hiến dâng mạng sống của mình".

Mireille nhìn chằm chằm cô ta trong nỗi kinh hoàng. Làm sao cô ta chấp nhận sự dâng hiến quá lớn lao như vậy ? Cô lại nghĩ đến đứa con còn ở lại sa mạc...

"Không !" cô hét. "Không thể có thêm sự hy sinh nào vì những quân cờ đáng sợ kia. Không thể, sau nỗi khiếp sợ chúng đã gieo rắc cho ta !"

"Vậy chị muốn tất cả chúng ta đều chết ư ?" Charlotte nói, tiếp tục cởi đồ của Mireille, cầm nước mắt bằng cách ngoảnh mặt đi.

Mireille đặt tay dưới cằm Charlotte, nâng khuôn mặt cô ta lên đến khi họ nhìn sâu vào mắt nhau. Hồi lâu sau, Charlotte nói bằng giọng run rẩy.

"Chúng ta phải thủ tiêu chúng", cô ta nói. "Chị là người duy nhất có thể làm điều đó. Đến giờ chị vẫn chưa thấy sao ? Mireille, chị là Nữ Hoàng Đen !"

Hai giờ trôi qua, Charlotte nghe tiếng chốt cửa rít lên báo hiệu đám lính đã đến đưa cô lên xe bò. Cô đang quỳ trong bóng tối cạnh ổ rơm cầu nguyện.

Mireille đã cầm ngọn đèn dầu và vài bức phác họa cô vẽ Charlotte, những bức họa cô phải trình ra để đi khỏi nhà ngục. Sau cuộc chia tay đầy nước mắt, Charlotte trút bỏ vào lòng những suy nghĩ và ký ức của riêng cô. Cô có cảm giác đã hoàn thành sứ mệnh, cảm giác được cứu rỗi. Đâu đó trong cô hình thành một chốn nho nhỏ thanh bình yên ả, thậm chí đến lưỡi dao sắc nhọn của máy chém cũng không thể cắt lìa. Cô sắp về với Chúa.

Cánh cửa sau lưng mở ra và khép lại, tất cả lại chìm vào bóng tối, nhưng cô nghe tiếng người thở bên trong xà lim. Gì vậy ? Sao họ không đưa cô đi ? Cô chờ đợi trong im lặng.

Có âm thanh đập viên đá lửa, hơi dầu bốc lên khi ngọn đèn lồng bập bùng tỏa sáng bên kia căn phòng.

"Cho phép tôi tự giới thiệu", một giọng nhẹ nhàng cất lên. Có gì đó trong giọng nói này khiến toàn thân cô ớn lạnh. Rồi cô nhớ ra, tê cứng người và vẫn không quay lưng lại. "Tên tôi là Maximilien Robespierre".

Charlotte run rẩy trong khi cô vẫn không quay mặt lại. Cô thấy ánh sáng đèn lồng hắt lên các bức tường di chuyển về phía mình, nghe tiếng ghế kéo đến rất gần chỗ cô quỳ, và một âm thanh khác cô không thể nhận ra. Có ai khác trong phòng nữa không ? Cô sợ hãi không dám quay lại nhìn.

"Cô không cần tự giới thiệu" Robespierre đang bình thản lên tiếng "Tôi đã đến dự buổi xét xử chiều nay và buổi tố cáo trước đó. Giấy tờ bên nguyên giật phăng ra từ áo cô, chúng không phải của cô".

Sau đó cô nghe tiếng bước chân khẽ khàng rón rén băng qua căn phòng đi về phía họ. Họ không chỉ có một mình. Cô giật thót người, suýt hét toáng lên khi cảm thấy một bàn tay mềm mại đặt trên vai mình.

"Mireille, xin hãy tha thứ cho điều bác đã làm !" giọng không thể nhầm lẫn vào đâu của họa sĩ David vang lên. "Bác phải đưa ông ta đến đây, bác không có sự lựa chọn. Cháu thân yêu..."

David xoay cô lại, vùi mặt lên cổ cô. Qua vai ông, cô nhìn thấy một khuôn mặt dài hình trái xoan, bộ tóc giả phủ phấn, cặp mắt xanh biển long lanh của Maximilien Robespierre. Nụ cười xảo quyệt trên mặt ông ta nhanh chóng tan chảy thành nét ngạc nhiên, rồi điên tiết khi ông rón rén lấy tay nhấc ngọn đèn lên, giơ cao để nhìn cho rõ.

"Đồ ngốc !" ông ta hét lên the thé. Xoay mạnh David khiếp sợ đang quỳ khóc trên vai Charlotte ra, ông vung tay chỉ vào cô. "Tôi đã nói ngài chúng ta sẽ muộn mất ! Nhưng ngài không chịu, cứ một mực chờ đến buổi xét xử ! Bộ ngài nghĩ cô ta có thể được tha bổng sao ? Giờ cô ta thoát rồi, và tất cả tại vì ngài !"

Ông ném ngọn đèn lên bàn làm tràn ra một ít dầu, túm chặt Charlotte và níu mạnh cô đứng dậy. Hất David sang một bên, Robespierre giận dữ rút tay về tát bốp lên mặt cô.

"Cô ta đâu ? !" ông ta thét lên. "Ngươi đã làm gì cô ấy ? Ngươi sẽ chết thế cho cô ta, bất kể cô ta đã nói gì với ngươi, ta thề, trừ khi ngươi khai hết mọi thứ !"

Charlotte để máu chảy tràn khóe môi trong khi đứng thẳng người kiêu hãnh nhìn vào mắt Robespierre, rồi cô mỉm cười.

"Đó chính là điều ta định làm", cô thản nhiên nói. 

LUÂN ĐÔN. Ngày ba mươi tháng bảy năm 1793

Gần nửa đêm, Talleyrand từ nhà hát trở về. Ném áo choàng lên ghế trong hành lang lối vào, anh tiến đến phòng làm việc nhỏ cuối dãy để rót cho mình một ly rượu. Courtiade nhanh chóng bước vào hành lang.

"Thưa giám mục", anh chàng nói giọng rất khẽ, "có khách đang đợi. Con đưa cô ấy vào phòng làm việc ngồi chờ. Hình như có việc rất cấp bách. Cô ấy nói mang tin tức của cô Mireille đến".

"Tạ ơn Chúa, cuối cùng cũng có tin", Talleyrand nói, lao bổ vào phòng làm việc.

Một dáng hình mảnh mai, quấn kín người trong chiếc áo choàng nhung đen đứng trong ánh lửa, cô ta đang hơ ấm bàn tay cạnh lò sưởi. Khi Talleyrand bước vào, cô giở mũ trùm kín đáo ra và để chiếc áo trượt khỏi đôi vai trần. Mái tóc vàng nhạt xõa xuống che phủ phần ngực nửa hở. Anh có thể thấy da thịt cô run rẩy trong ánh lửa, khuôn mặt nhìn nghiêng bập bùng trong ánh sáng vàng, chiếc mũi hếch và cái cằm cong, áo nhung màu tối ôm sát thân hình kiều diễm. Anh không thể thở, cảm thấy nỗi đau đớn khủng khiếp bóp nghẹt tim mình trong lúc đứng hóa đá ở cửa.

"Valentine !" anh thì thầm. Chúa ơi, sao lại thế được ? Sao cô ấy có thể sống dậy từ nấm mồ ?

Cô gái quay người lại và mỉm cười, đôi mắt xanh dương lấp lánh, ánh lửa bập bùng ngời sáng qua mái tóc cô. Trong khi anh vẫn đứng ngay đơ tại cửa, cô nhanh nhẹn tiến đến anh với dáng đi như dòng nước lướt trôi, rồi quỳ xuống và áp mặt lên tay anh. Anh đặt tay kia lên tóc cô vuốt ve, nhắm mắt lại. Tim anh tan vỡ, sao lại thế được ?

"Thưa ngài, tôi đang gặp nguy hiểm khủng khiếp", cô hạ giọng thì thầm. Nhưng đây không phải giọng nói của Valentine. Anh mở mắt nhìn chằm chằm vào khuôn mặt ngước lên, quá đẹp, quá giống Valentine, nhưng không phải Valentine.

Đôi mắt anh lướt nhìn mái tóc vàng, làn da mịn màng, phần khe giữa ngực cô, cánh tay trần... rồi một cơn choáng váng điếng người lướt qua anh khi trông thấy vật cô ta siết chặt trong tay, đang giơ lên trong ánh lửa. Đó là một quân Tốt bằng vàng, lấp lánh đá quý, quân Tốt của Bộ cờ Montglane !

'Thưa ngài, tôi phó mặc bản thân vào lòng nhân từ của ngài", cô thì thầm. "Tôi cần sự giúp đỡ của ngài. Tên tôi là Catherme Grand, và tôi đến từ Ấn Độ.. 

NGƯỜI DỊCH: NGUYỄN LÂM XUÂN CÁC
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.