The Three Sirens

Lượt đọc: 28 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần 30

❊ ❊ ❊

Mark Hayden đi lại liên tục trên vách đá cao và bằng phẳng, vách đá treo leo như một đài quan sát nằm cao ngất ngưởng phía trên ngôi làng của ba chị em nhà Siren.

Không phải cứ vừa đến nơi này là hắn đã tìm tới điểm cao này, chính xác mà nói, là từ hai tuần trước. Từ đây, đi theo con đường mòn vòng quanh mép đá là có thể đi xuống khu dân cư hình chữ nhật nằm sâu trong thung lũng dài. Dạo một vòng trên vách đá, Mark nhìn thấy những ngôi nhà tranh nhỏ xíu dưới chân, dòng suối giữa bãi đất trống như một dải lụa lấp lánh. Đến lúc này đã gần giữa trưa, bãi đất trống bắt đầu có những bóng người thưa thớt, những chấm đen màu nâu đang di chuyển kia là trẻ em và phụ nữ, chắc chắn không phải ai khác, bởi vì đàn ông đã đi làm hết, thanh thiếu niên đều đến trường, còn các thành viên trong đoàn khảo sát của Mattie (không phải của hắn) thì đang trốn ở xó xỉnh nào đó bận rộn với bút chì, băng ghi âm và những người trong cuộc ba hoa chích choè.

Nếu nói cảnh tượng nhìn từ điểm cao vót và đột ngột này là tươi đẹp, thì Mark lại chẳng hề nhận ra điều đó. Làng mạc ở đâu, thì liên quan gì đến hắn? Kể từ đêm đó, hắn đã gần như tách biệt hoàn toàn thân phận của mình khỏi ngôi làng. Nó xa xôi và không chân thực hệt như một bức ảnh màu trên tạp chí National Geographic.

Đối với Mark, ngôi làng và những dân làng của nó chẳng qua chỉ là những món đồ vật, là những vật phụ trợ dùng để giúp hắn trốn chạy khỏi một lối sống cổ xưa và đáng ghét. Thứ chân thật, sống động và tươi đẹp chính là bản "Đại hiến chương" linh hồn ấy — "Tuyên ngôn độc lập" cá nhân của hắn — được nhét trong túi quần vải Dacron màu xám ở bên phải.

Bức thư ở túi bên phải chỉ có 3 trang giấy, giấy viết thư và phong bì mỏng manh, thế nhưng chúng lại khiến hắn cảm thấy trong túi, toàn thân và cả trong đầu đều tràn ngập — hắn cố gắng nghĩ ra một hình ảnh ví von thật chính xác — phép thuật của một chiếc đèn thần Aladin, luôn sẵn sàng đi thực hiện mong muốn của hắn.

Hắn đã ở căn phòng trước của ngôi nhà tranh gần như suốt cả đêm, viết 3 trang giấy gửi cho Rex Garrity ở thành phố New York. Phần lớn thời gian của hắn không dùng để viết, mà dùng để suy nghĩ xem nên nói gì với Garrity về ý định của mình. Viết thư xong, hắn nhanh chóng chìm vào giấc ngủ, lần đầu tiên sau nhiều tháng ngủ ngon đến thế, mang theo cảm giác giống như một người vừa làm xong công việc trong ngày và làm rất suôn sẻ, không có sự hối hận, cũng chẳng có xa vọng, chỉ muốn ngủ một giấc thật ngon. Hắn mặc kệ hình thể nhấp nhô của Claire trên chiếc túi ngủ, đặt chuông báo thức, nhắm mắt lại rồi ngủ thiếp đi.

Khi tiếng chuông báo thức đánh thức hắn dậy, hắn mới chỉ ngủ được 3 tiếng, thế nhưng hoàn toàn không hề mệt mỏi. Trong bữa sáng, Claire bước ra mà không rửa mặt. Gương mặt cô ta kéo dài ra, lạnh lùng, lời chào buổi sáng nói ra một cách miễn cưỡng và mang theo nồng nặc thuốc súng, trong khi câu chào buổi sáng của chính hắn lại nhẹ nhàng và không rõ ràng đến mức hầu như không giống một lời chào. Lúc di chuyển, động tác của cô ta rất lớn, xông xáo đâm thọc, giậm chân đạp càn, mang một thái độ ngang ngược, dùng sức ép vô ngôn để buộc hắn phải chú ý và xin lỗi vì hành vi đêm qua của hắn. Cô ta cần, rất cần những lời nói giống như một miếng "băng Urgo" để dán chặt lấy vết thương của mình. Cô ta muốn hắn giảm bớt sự tổn thương mà những lời lăng mạ và trách mắng của hắn gây ra cho cô ta vào tối qua, muốn hắn viện cớ say rượu để xin lỗi cô ta, từ đó cô ta sẽ đồng ý quên đi tất cả, giữ lại thể diện, đồng thời cũng giữ lại cuộc sống chung giữa họ.

Trong cuộc đọ sức không tiếng động này, hắn vẫn luôn chờ đợi, hoàn toàn không nhượng bộ một bước nào. Hắn im lặng ăn uống, né tránh cô ta, chỉ vì sáng nay trong mắt hắn cô ta hoàn toàn không tồn tại. Sự thờ ơ của hắn triệt để đến mức khó tin. Chỉ trong một đêm, hắn đã trưởng thành, biến thành người đàn ông mà hắn vẫn luôn cho rằng mình nên là (có lẽ đối với người phụ nữ này thì đã trở thành một kẻ xa lạ), hắn không cần bất kỳ lời thề ước hôn nhân cũ kỹ nào mà bản thân không còn cảm thấy tự hào nữa.

Hắn vội vã trốn khỏi ngôi nhà tranh — cố ý tìm sổ tay và bút bi để cho cô ta nhìn thấy, khiến cô ta tin rằng mình đang đi làm — tay phải đút túi đựng bức thư gửi cho Garrity, nhanh nhẹn leo theo con đường mòn lên phía trên ngôi làng. Hắn biết mình không thể đến muộn. Mục đích của hắn là chặn đầu thuyền trưởng Rasmussen — hôm nay là ngày Rasmussen, ngày gửi thư, ngày tiếp tế — chặn trước khi gã cướp biển già này đến làng và chỗ của Mattie. Nếu có thư hồi âm của Garrity, bức thư hồi âm cho lá thư hắn đã gửi từ Papeete, hắn không muốn Mattie nhìn thấy, hoặc biết về chuyện này. Hắn muốn một mình nhận được bức thư đó từ sớm. Nội dung của nó sẽ khiến hắn đưa ra quyết định cuối cùng — gửi hay không gửi bản tuyên bố ý định đang nằm trong túi cho Garrity. Hắn ngồi dưới bóng râm dày đặc của những rặng cây cao su, dâu tằm và cây lai (kukui), nơi này chỉ cách con đường bắt buộc phải đi qua của Rasmussen vài bước chân. Hắn bồn chồn chờ đợi kẻ mang vận mệnh của mình đến. Rasmussen vẫn chưa xuất hiện, Mark liên tục bước ra khỏi bóng râm mát mẻ để quanh quẩn dưới bức tường đá đang bị ánh nắng thiêu đốt gần đó.

Lúc này, hắn đã quanh quẩn trên vách đá được 20 phút, không chắc chắn liệu có bức thư nào không, liệu giấc mơ ban ngày của mình có thành hiện thực hay không, liệu hắn có đủ dũng khí để gửi đi bức thư hồi âm trong túi hay không, cho đến khi hắn nhận ra việc cứ phơi mình dưới ánh nắng buổi sáng thế này là chuyện không thể chịu nổi.

Hắn dùng khăn tay chùi nhẹ mặt và cổ, đi theo dấu chân cũ quay lại dưới tán cây. Con đường mòn dốc đứng dẫn về phía bờ biển vẫn không thấy bóng dáng Rasmussen đâu. Thoạt đầu, Mark lo lắng không biết mình có tính nhầm ngày không, hoặc nếu không tính nhầm, thì liệu Rasmussen có bị trì hoãn hay hoãn lại chuyến hải trình từ bi bác ái của lão không. Sau đó, hắn lại tự khẳng định là do bản thân quá nôn nóng. Chắc chắn Rasmussen sẽ xuất hiện.

Đứng bên vệ đường, Mark chạm vào thứ ở túi quần bên phải. Hắn rút chiếc phong bì có ghi địa chỉ của Garrity nhưng vẫn chưa dán kín ra, tinh thần vừa phấn chấn lên thì ngay lập tức lại nhét phong bì về chỗ cũ. Hắn ngẩng đầu nhìn ra xa một lần nữa — con đường mòn vẫn trống không, chỉ có hai con dê gầy gò ở đó — cuối cùng, hắn quay lại chỗ râm mát nhất mà hắn có thể tìm thấy, phịch một tiếng ngồi bệt xuống thảm cỏ. Hắn lấy ra một điếu xì gà, hầu như chẳng thèm nghĩ đến việc chỉnh sửa lại cho ngay ngắn rồi châm lửa hút, bởi vì tâm trí hắn đã quay trở lại với Te-hura, hắn đã nhắc đến cô trong bức thư gửi Garrity cũng như vai trò mà cô có thể đóng trong những ngày tháng quyết định sắp tới.

Khi hắn nhìn đồng hồ lần nữa thì đã gần đến trưa, hắn đã canh chừng được 3 tiếng đồng hồ. Hắn lại chìm đắm vào trong dòng suy tư, rơi vào giấc mộng ban ngày đến mức mụ mẫm cả đầu óc. Không biết đã qua bao lâu nữa, hắn bị đánh thức bởi một tiếng huýt sáo chói tai, có ai đó đang huýt sáo một bài hát của thủy thủ.

Mark vội vàng đứng bật dậy — đồng hồ báo cho hắn biết đã là 12 giờ 15 phút — chạy ra đường mòn. Cách hắn 20 yard, thân hình đại giá của thuyền trưởng Ole Rasmussen đang tiến lại gần hắn, chiếc mũ thủy thủ trùm ra tận phía sau gáy của khuôn mặt đầy râu rậm rạp mang phong cách Göteborg, mặc chiếc áo sơ mi xanh phanh ngực, chiếc quần yếm công nhân dơ dáy, vẫn là đôi giày vải tennis cũ kỹ, chiếc túi đựng thư thì vác trên vai trái.

Đến gần, Rasmussen nhận ra Mark, bèn vơ tay phải vẫy hắn. "Ây da, Beau. Cậu là ủy ban đón tiếp à?"

"Chào thuyền trưởng." Mark số ruột chờ Rasmussen bước đến gần, sau đó bổ sung thêm, "Tôi đi dạo lên đây, tôi nhớ hôm nay ông đến, nên muốn ở quanh đây đợi một lát, xem trước có thư của tôi không. Tôi đang đợi một thứ rất quan trọng đối với công việc của mình."

Rasmussen vứt chiếc túi thư từ trên vai xuống con đường mòn. "Thực sự quan trọng đến mức không đợi nổi cơ à? Thư từ vẫn chưa được phân loại đâu."C

"Ờ, tôi chỉ muốn —"

"Không sao, thực ra cũng chẳng có mấy thứ để phân loại đâu." Lão kéo cái túi từ dưới đất lên thảm cỏ, dạng hai chân ngồi lên một đoạn gỗ dừa, dựng đứng chiếc túi thư ở giữa hai chân. "Tôi thở dốc cái đã." Lão mở túi ra, khi Mark cúi người ghé sát vào, Rasmussen hít hít mũi, ngẩng đầu lên. "Còn thuốc lá không, Beau?"

"Chắc chắn là có, tuyệt đối có." Mark nhanh như cắt rút một điếu xì gà từ trong túi áo sơ mi ra đưa cho Rasmussen. Lão nuốt nước bọt đón lấy, đặt lên khúc gỗ bên cạnh. Mark lo lắng dõi theo Rasmussen thọc bàn tay thô ráp như khúc củi vào trong túi, lấy ra một bó thư được buộc chặt bằng dây da. Lão cởi dây da ra, sau đó vừa lẩm bẩm họ tên đầy đủ của Mark vừa kiểm tra thư từ.

Cuối cùng, lão đưa ra 3 chiếc phong bì. "Chỉ có thế này thôi, không thể có thêm thư của cậu nữa đâu, Beau — trừ khi có bưu phẩm lớn hơn — nhưng hiện tại cậu đâu cần chúng."

"Không cần nữa, thế này là được rồi," Mark nói, lập tức đón lấy những chiếc phong bì đó.

Mark xòe các phong bì ra như hình chiếc quạt, giống như đang đánh bài, để xem địa chỉ người gửi. Rasmussen nhét xấp thư vào lại trong túi, rồi tập trung mở vỏ bọc điếu xì gà, châm lửa hút. Mark nhìn thấy, bức thư thứ nhất là từ một đồng nghiệp ở Đại học Renault; bức thư thứ hai, ngoài bì thư đề tên Claire và bản thân hắn, là do những người bạn đã kết hôn ở San Diego gửi tới; bức thư thứ ba đến từ "Cục Nghệ thuật và Học thuật Bush, Trung tâm Rockefeller, thành phố New York, Ray Ga." Bức thư cuối cùng này là do Rex Garrity viết từ văn phòng công ty đại diện diễn thuyết của ông ta, Mark siết chặt lấy nó với tâm trạng đầy háo hức. Thế nhưng, hắn không muốn mở phong bì trước mặt Rasmussen. Viên thuyền trưởng vẫn ngồi đó, hút thuốc một cách phì phao nặng nhọc, đôi mắt đục ngầu vì say rượu đang quan sát Mark.

"Có thứ cậu muốn không, Beau?"

"Chết tiệt, không có," Mark nói dối. "Chỉ là dăm ba bức thư cá nhân thôi, có lẽ chuyến gửi thư đợt sau sẽ tới."

"Hy vọng thế." Rasmussen vơ lấy cái túi, đứng dậy. "Tôi phải đi đây. Phải nhanh chóng rửa ráy, lót dạ cho no bụng, rồi tham gia lễ hội cho đúng giờ. Bắt đầu từ hôm nay, trọn vẹn cả một tuần đấy, cậu biết đấy."

"Gì cơ? Ồ, đúng rồi, lễ hội, tôi suýt quên mất — chắc là bắt đầu từ hôm nay nhỉ."

Rasmussen trừng mắt nhìn Mark với vẻ khó hiểu. "Nói thật nhé, tôi nhớ ra là — Waitero với mấy đứa nhóc bản địa đã chạm mặt chúng tôi ở bãi biển phía dưới — bọn chúng đang vận chuyển hàng tiếp tế từ đường tắt — nó đã nhắc đến chuyện của cậu — cậu tham gia cuộc thi bơi lội vào ngày hôm nay cơ mà. Đây là khoác lác hay chuyện thật thế?"

Cuộc thi bơi lội trong lễ hội, được ấn định vào lúc 3 giờ chiều, nhưng trong tâm trí Mark thì nó lại bị đẩy ra xa nhất có thể. Lời nhắc nhở này khiến hắn giật mình.

"Vâng, thưa thuyền trưởng, là thật, tôi đã đồng ý tham gia rồi."

"Vì cái gì cơ chứ?"

"Vì cái gì à? Để luyện tập thôi, tôi nghĩ thế," Mark nói khẽ.

Rasmussen kéo chiếc túi lên vai. "Cậu có muốn nghe lời khuyên của một lão già không? Cậu có thể luyện tập thật tốt để giành lấy một ả nào đó trên đảo Siren đấy, Beau — tôi nói là đừng để các quý cô coi thường nhé — nhưng đây chính là phần hấp dẫn nhất của lễ hội đấy. Tôi là vì có hứng thú với nghiên cứu khoa học nên mới cho cậu lời khuyên này đấy. Nhớ lấy điều đó, nếu có cô gái nào tặng cậu một chiếc vỏ sò lễ hội."

"Vỏ sò gì cơ?"

"Là thứ dùng để cởi váy cỏ ra đấy, Beau." Lão cười khàn khàn, ho khan một tiếng, lấy điếu xì gà ra khỏi miệng, mím môi lại rồi lại nhét điếu xì gà vào kẽ những chiếc răng đã đổi màu. "Đấy, là thế đấy."

"Tôi sẽ nhớ kỹ, thưa thuyền trưởng," Mark nói với giọng mất hết sức lực.

"Cậu cứ đánh cược bằng cả mạng sống đi, đúng thế đấy," Rasmussen nói. Lão bước lên con đường mòn. "Cậu đi cùng đường với tôi chứ?"

"Tôi — không, cảm ơn, tôi muốn đi dạo thêm lát nữa."

Rasmussen bỏ đi. "Được rồi, đừng để bản thân quá mệt mỏi trước khi thi bơi nhé, cậu biết mấy cái này rồi đấy." Lão lại cười lớn, sải những bước chân nặng nề đi về phía vách đá.

Mark bị những lời giới thiệu về lễ hội của viên thuyền trưởng làm cho rối trí đôi chút, đứng ngây ra nhìn theo bóng lưng của lão. Rasmussen đi xuyên qua rặng cây cao su và cây lai, tiến lên vách đá lớn, đi theo khúc cua dọc theo mép những tảng đá lớn dẫn xuống ngôi làng phía dưới, rồi biến mất sau những tảng đá. Lúc này, tâm trí Mark lại quay trở về với chiếc phong bì dài mỏng manh của Garrity.

Mark vội vã rời khỏi con đường mòn, đi vào tán cây ở phía đối diện, gập hai chiếc phong bì kia lại rồi nhét vào túi quần sau. Hắn cẩn thận lật ngược chiếc phong bì của Garrity lại, bóc phần mép dán ra, không nỡ xé rách nó mà dùng ngón trỏ thọc vào trong để bóc ra.

Hắn cẩn thận mở 4 tờ giấy lụa mỏng được đánh máy ra. Hắn tự kiềm chế bản thân, giống như một kẻ sành ăn cố tình kìm nén không nuốt chửng ngay lập tức một món ăn ngon đã mong chờ từ lâu, hắn đọc từng chữ từng dòng trong bức thư tới.

Đầu tiên là lời xưng hô không theo quy chuẩn, "Mark yêu quý của tôi." Tiếp theo là thông báo đầy vui mừng rằng đã nhận được lá thư hỏi thăm vội vã của Mark gửi từ Papeete. Sau đó mới là công việc chính trước mắt. Trước khi đọc, trước khi biết được tương lai của mình sẽ là gì hoặc sẽ không là gì, Mark nhắm nghiền hai mắt lại, muốn vẽ ra trong đầu bức chân dung của tác giả bức thư. Thời gian, khoảng cách và sự mong cầu đã làm mờ đi hình ảnh trong trí nhớ: Garrity, da nâu, cao ráo, mảnh khảnh, mang phong cách lịch lãm quý phái kiểu Phillips Exeter - Yale, là thanh niên trẻ trung nhất trong số những người 50 tuổi trên thế gian, là người thực tế, là thần tượng trong lòng, là người thành công, là một người đàn ông có sức hút quen hành động, là nhà thám hiểm bám sát dấu chân của Hannibal — ông ta — là một người — ở một tòa nhà cao tầng nào đó trong Trung tâm Rockefeller, đang ngồi bên một chiếc máy đánh chữ mạ vàng, gõ dòng chữ "Mark yêu quý của tôi"!

Mark mở mắt ra, đọc tuyên bố rõ ràng của Garrity về công việc trước mắt:

Tôi phải nói trước tiên rằng, tôi vô cùng ca ngợi việc cậu viết thư nhanh đến thế, bởi vì tôi cho rằng chỉ có một mình tôi là tri âm của cậu, hiểu được sự nhạy cảm, cá tính và hoàn cảnh của cậu. Tôi biết có vô số sự ràng buộc đang kìm hãm cậu. Ví dụ như, người mẹ nổi tiếng của cậu, Chúa phù hộ bà ấy, có một cái nhìn học viện vô cùng chật hẹp đối với thế giới thương mại đang sinh động. Bà ấy không cho phép tôi tham gia đoàn khảo sát, sự chán ghét không thể nghi ngờ của bà ấy đối với những người như chúng tôi trong lĩnh vực truyền thông đại chúng và giải trí, được xây dựng dựa trên một chuẩn mực đạo đức đã lỗi thời. Hơn nữa, cậu đã bị giam cầm trong thế giới của mẹ cậu quá lâu rồi, cái thế giới mang danh "khoa học" đầy cao ngạo ấy. Thế nhưng, cậu thuộc về một thế hệ mới mẻ, trưởng thành hơn, và, xin hãy thứ lỗi cho tôi, Mark, những người như cậu có tương lai, không chỉ có tương lai, mà còn là một tương lai huy hoàng. Từ cuộc trò chuyện riêng tư của chúng ta tại nhà cậu ở Santa Barbara, từ việc cậu ủng hộ tôi trước mặt mẹ, vợ và gã cận thị Hacklefield, nói thật nhé, và từ bức thư cậu gửi từ Papeete, tôi đã củng cố thêm niềm tin vào cậu, vào mối quan hệ và tương lai của chúng ta, tất cả những điều này khiến tôi nhìn thấy ở cậu một Hayden hoàn toàn mới, một nhân vật kiên cường có chủ kiến và hoài bão của riêng mình, luôn sẵn sàng đối mặt với thế giới và cuối cùng là chinh phục nó.

Theo như tôi hiểu từ lá thư ngắn ngủi nhưng nghiêm túc của cậu, cậu đang lo ngại việc đoàn khảo sát công bố trước những thông tin có được về ba chị em nhà Siren cho đại đa số công chúng rộng rãi. Cậu lo lắng liệu những tài liệu này có bị những kẻ vô lương tâm sử dụng sai lệch hoặc bị cường điệu hóa quá mức hay không. Cậu lo lắng liệu có nhà khoa học hoặc nhà nhân chủng học nào từng đem phát hiện của họ dâng hiến cho toàn quốc theo "phong cách Rex Garrity" hay không. Cậu lo lắng về lợi ích kinh tế thực sự của việc đi lưu diễn diễn thuyết hiện nay, và cậu nói rằng bản thân vẫn tồn tại một số hoài nghi, cậu chắc chắn rằng những lời tôi nói tại nhà cậu về việc công bố hợp lý cuộc điều tra và thám hiểm về ba chị em nhà Siren sẽ giúp cả tôi và cậu kiếm được 1 triệu đô la chỉ là nói đùa mà thôi.

Sau khi suy nghĩ chín chắn, tôi quyết định trả lời một cách nghiêm túc, hoàn toàn nghiêm túc những vấn đề cậu quan tâm. Khi lá thư của cậu chuyển đến tay tôi, tôi đang có buổi giảng bài ở Pittsburgh. Tôi lập tức hủy lịch hẹn giảng bài ở Scranton. Vội vã đến New York, hội ngộ với người đại diện của tôi tại Trung tâm Rockefeller. Họ rất đáng tin cậy, tôi đã kể cho họ nghe chút ít những gì tôi biết về cuộc khảo sát thực tế của cậu cũng như tình hình của đảo Siren, tôi hỏi họ chi phí thực tế cho tất cả những chuyện này sẽ là bao nhiêu, chính là cái mà cậu gọi là "lợi ích kinh tế thực sự", sau khi ở đây hai ngày, tôi đã nhận được tất cả các câu trả lời xác thực. Tin tôi đi, Mark, lúc này tôi đang viết thư cho cậu với một tâm trạng vô cùng kích động. Tôi hy vọng sự kích động này có thể truyền đến cái nơi xa xôi kỳ diệu mà cậu đang làm việc, dù cho nó rốt cuộc là nơi quái quỷ nào đi nữa, có thể truyền đến cho cậu.

Trước hết, hãy để tôi làm giảm bớt nỗi lo lắng của cậu về việc công bố trước cuộc thám hiểm ba chị em nhà Siren có thể tồn tại. Cậu chắc chắn cũng lo ngại tài liệu sẽ bị sử dụng sai lệch. Tôi biết mẹ cậu kết tội tôi với tư cách là một tác giả bình dân thành công, sẽ lợi dụng tài liệu về đảo Siren theo một cách gây ra sự tàn phá đối với nhân học và cư dân trên đảo. Mark, mẹ cậu đã sai rồi. Lại xin cậu hãy thứ lỗi cho tôi, nhưng những gì bà ấy phản ánh là tư tưởng của một nhà khoa học xã hội thời tiền chiến đã lỗi thời, chính là lũ tín đồ khép kín hoặc cuồng nhiệt đó, cứ khăng khăng nắm giữ những thứ có giá trị đối với bản thân bọn họ. Trên thực tế, danh tiếng của bố mẹ cậu chính là được xây dựng trên nền tảng đập vỡ cái vỏ trứng này, nói cách khác, là đưa tác phẩm của họ ra mắt theo một cách thức đại chúng hóa hơn. Thế nhưng, tôi phải thừa nhận, họ đi chưa đủ xa. Những phát hiện của họ, cùng với của những người khác tại thực địa, vẫn chưa thực sự đi sâu vào quần chúng, không mang lại những lợi ích và phúc lợi cho hàng vạn người đáng lẽ ra phải được hưởng lợi nhiều nhất. Nếu những gì cậu nhìn thấy trên đảo ba chị em nhà Siren hữu ích đối với nước Mỹ, tại sao lại không thể truyền bá rộng rãi để giúp đỡ người Mỹ chứ? Nếu những gì cậu nhìn thấy chẳng có ích gì cho bất kỳ ai, chỉ kỳ lạ và khác biệt, thì việc cho đồng bào của cậu thấy những người khác sống ngu ngốc đến nhường nào và vận mệnh đồng bào cậu hạnh phúc ra sao, thì có hại gì chứ? Hãy nhớ rằng, những nhân vật vĩ đại của thời đại chúng ta như Darwin, Marx, Freud, đều là khi những phát hiện của họ được đại chúng hóa, rơi vào tay những người như cậu và tôi, mới làm chấn động thế giới. Khi cậu hỏi tôi về vấn đề xuất bản trước, tôi muốn hỏi cậu rằng có tổ chức nào có quyền áp bức hoặc kiểm duyệt những thông tin có thể làm phong phú thêm trí óc của con người không? Không, Mark, đừng lo lắng gì cả, việc giao tài liệu này cho những người hiểu rõ quần chúng nhân dân chỉ có lợi mà thôi.

Tài liệu của cậu sao có thể bị sử dụng sai lệch chứ? Chúng ta đi đến đâu, tài liệu mang theo đến đó, chúng ta hình bóng không rời, chính là những người cộng tác. Cậu có thể kiểm soát việc biên tập và phát hành tài liệu. Cậu hiểu rõ công việc của tôi, uy tín lâu năm của tôi được xây dựng dựa trên thị hiếu tốt đẹp. Con người ở mọi tầng lớp trong xã hội, không phân biệt giới tính, không phân biệt tuổi tác, đều là những người trung thành ủng hộ tôi nhiều năm qua. Lượng sách bán ra của tôi, những thành phố hò reo vang dội vì tôi, vô số lá thư của người hâm mộ sách, khoản thuế quốc gia khổng lồ mà tôi phải nộp hàng năm, tất cả đều chứng minh cho chủ nghĩa bảo thủ của tôi, tính phổ quát trong khả năng phán đoán cùng sở thích của tôi. Cuối cùng, chúng ta sẽ làm việc dưới sự tài trợ của Cục Nghệ thuật và Học thuật Bush. Cơ quan này được thành lập vào năm 1888, là một doanh nghiệp thương mại có quy mô cao nhất, trong danh sách của họ vinh dự có tên Tiến sĩ Tôn Dật Tiên, Henry George, Maxim Gorky, Carveth Wells, Sarah Bernhardt, Lillie Langtry, Richard Halliburton, Gertrude Stein, Tiến sĩ Arthur Eltonton, Darren Thomas, Tiến sĩ William Bates, Bá tước Alfred Korzybski, Wilson Mizner, Hoàng hậu Maria của Romania, Jim Thorpe — lần thứ ba xin cậu thứ lỗi, và cả Rex Garrity trung thành của cậu nữa.

Còn về mối quan tâm của cậu về việc các nhà nhân chủng học xuất hiện trước công chúng ngoại đạo, thì hoàn toàn không cần phải lo lắng. Tôi có tài liệu chứng minh rằng, hơn mười đồng nghiệp của cậu, từ Robert Braiford đến Margaret Mead, đều đã từng làm như vậy, và tất cả đều làm cho địa vị chuyên môn của họ được củng cố đáng kể chứ không hề suy yếu đi. Bây giờ chúng ta hãy xem xét cuộc gặp gỡ của tôi với những người ở Cục Nghệ thuật và Học thuật Bush cũng như vấn đề "lợi ích kinh tế thực sự" mà những người trong nghề gọi là "một vốn bốn lời". Tôi đã phân tích những nghệ sĩ diễn thuyết trên bục giảng thành công nhất, những người thành công nhất đều là những nhân vật lớn (Winston Churchill, Eleanor Roosevelt, v.v.) hoặc là những nhân vật thường xuyên nói ra điều gì đó (Henry Morton Stanley, Tướng Chennault, v.v.). Những người ở Cục Bush muốn tôi tin rằng, chúng ta sẽ không thất bại, bởi vì giữa cậu và tôi đều sở hữu những nhân tố tiềm năng để đạt được thành công. Tôi có danh tiếng, cậu có sẵn tài liệu trong tay, có thể xuất bản định kỳ hoặc thường xuyên. Giữa cậu và tôi, có thể đặt cho ba chị em nhà Siren một cái tên thân mật, ví dụ như thiên đường trần gian — đúng vậy, thiên đường trần gian của tình yêu và hôn nhân.

Cơ quan đại diện Bush sẽ sắp xếp vé xá, giao thông, chỗ ở, ăn uống và hướng dẫn cho chúng ta, sẽ trích ra 33% tổng doanh thu của chúng ta, số còn lại 70% lợi nhuận ròng thì hai chúng ta chia đôi. Nếu phát hiện của cậu quả thực chấn động như những gì tôi đã hứa với họ, họ tin rằng, trong vòng 10 tháng (kết hợp giữa diễn thuyết và phát sóng, truyền hình, chưa tính sách vở) tổng doanh thu của chúng ta có thể đạt ít nhất là 750.000 đô la! Cảm ơn Chúa, Mark, trong vòng 10 tháng là cậu có thể thu về ròng 250.000 đô la, lại còn nổi danh toàn quốc nữa!

Những người ở Cục Bush chỉ yêu cầu một thứ duy nhất vào lúc ngài đại giá quang lâm. Họ cần một bằng chứng xác thực, để chứng minh sự tồn tại của ba chị em nhà Siren và những nội dung mà cậu đã nói. Nói một câu thôi, họ không muốn tiếp tục bị lừa như Joan Lowell hay thương nhân Horns nữa. Bằng chứng đó là gì nào? Một bộ phim màu cho thấy khía cạnh chân thực của cuộc sống trên đảo ba chị em nhà Siren, hoặc những slide màu hoặc một bộ ảnh tĩnh để phối hợp với các buổi diễn thuyết của chúng ta, hoặc thậm chí — giống như khi thuyền trưởng Cook trở về sau chuyến thăm Tahiti đầu tiên — mang theo một nam hoặc nữ thổ dân từ đảo Siren cùng xuất hiện với chúng ta.

Có lẽ tôi đã đi quá xa trong việc lĩnh hội hoài bão trong tư tưởng của cậu, tôi hy vọng mình không làm thế. Nếu cậu có thể tìm ra một cách để cộng tác với tôi về mặt này, cậu sẽ không phải hối hận vì điều đó đâu. Cậu sẽ trở nên độc lập và giàu có chỉ sau một đêm, nổi tiếng giống như mẹ cậu, thậm chí còn nổi tiếng hơn cả bà ấy.

Hãy suy nghĩ đi, hãy suy nghĩ về những điều tôi nói với cậu đây, đây không phải là mơ ảo mà là hiện thực, hãy tự mình đưa ra lựa chọn đi. Nếu đưa ra quyết định, tài

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 7 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.