The Three Sirens

The Three Sirens

Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tiết 01

❊ ❊ ❊

Bức thư này là bức đầu tiên mà Maud Hayden nhặt lên từ chồng thư buổi sáng trên bàn, cô không chút xấu hổ tự thừa nhận rằng, chính hàng tem ngoại quốc ở phần trên phong bì đã thu hút cô. Trên tem vẽ bức "Bức tranh ngựa trắng" của Gauguin, được in ba màu xanh lá, đỏ và xanh đậm, nét chữ trên dấu bưu điện là "Polynesia thuộc Pháp... Bưu điện Elina."

Năm tháng trôi qua, Maud đau đớn nhận thức được rằng, theo sự trôi dạt của thời gian, những chuyện làm cô vui lòng vốn dĩ đã ngày càng ít đi, ngày càng không thấy nữa, năm nay không bằng năm trước. Những chuyện lớn thì vẫn còn nhìn thấy rõ ràng, ví dụ như thành tựu học thuật mà cô cùng Adelaide đạt được (cho đến nay vẫn được người ta kính trọng), sự tận tụy của cô đối với công việc (vĩnh viễn không suy giảm), con trai cô Mark (bằng cách nào đó bước sát theo gót chân cha), cô con gái dâu mới Claire (điềm tĩnh, đáng yêu, tốt đến mức khiến người ta khó mà tin nổi); chỉ là những niềm vui nhỏ nhặt ấy, giống như tuổi trẻ của chính cô, vẫn đang trở nên khó nắm bắt và ít ỏi hơn, đặc biệt là khi Adelaide còn sống, mỗi ngày họ tắm mình trong ánh ban mai của California, bằng những bước dạo nhẹ nhàng cố ý ăn mừng sự ra đời của một ngày mới, điều đó mới dễ chịu làm sao, nhưng bây giờ, hễ nghĩ đến điều này chỉ khiến cô nhớ lại chứng viêm khớp của bản thân, mỗi khi cô từ cửa sổ phòng sách trên lầu nhìn ngắm con đường uốn lượn như dải lụa từ Los Angeles đến San Francisco, cùng bãi biển Santa Barbara ở đằng xa và những con sóng trắng như tuyết đống của Thái Bình Dương, thứ nhận được luôn là sự thưởng thức đầy cảm xúc của cái đẹp; nhưng giờ đây, thứ nhìn thấy chỉ là những chiếc xe chạy vụt qua và mùi xăng, cỏ mục cùng mùi tảo biển bên kia đường cao tốc ven biển ngửi thấy trong trí nhớ; bữa sáng cũng từng là một niềm vui khác của cô, từng chồng báo chí mỗi ngày kể cho cô nghe về những hành động ngu ngốc và kỳ tích của loài người, đồ ăn cũng vô cùng phong phú, lương khô, trứng, thịt muối, khoai tây, cà phê nóng bỏng rắc rất nhiều đường, bánh mì nướng phết một lớp bơ dày; mà giờ đây, những chủ tiệm cung cấp bữa sáng đều bị những lời bàn tán về cholesterol cao, chất ít béo làm cho mê muội cả đầu óc, toàn bắt ăn những thứ chỉ ăn vào thời kỳ khó khăn (sữa tách béo, bánh pudding bơ nhân tạo, gạo). Cuối cùng, trong những niềm vui nhỏ nhặt mỗi ngày vào buổi sáng, có một điều vẫn chưa bị thời gian phai mờ, từ đầu đến cuối vẫn luôn khiến người ta vui vẻ, đó chính là chồng thư nhận được mỗi ngày.

Đối với Maud Hayden mà nói, những lá thư này sở dĩ khiến người ta vui mừng, là bởi vì khiến cho mỗi ngày của cô đều giống như đang đón Giáng sinh, hoặc có cảm giác giống như đón Giáng sinh vậy. Bản thân cô là một nhà thông tin năng suất, những đồng nghiệp và đệ tử làm nhân loại học ở nơi xa xôi của cô cũng là những tay viết thư không mệt mỏi. Hơn nữa, cô là một "thánh nhân" lớn nhỏ gì cũng có, rất nhiều người mang theo những nan đề, hy vọng và yêu cầu của họ đến để thỉnh giáo cô. Trong những lá thư mỗi tuần luôn có sự tò mò đến từ nơi xa — một sinh viên tốt nghiệp viết thư từ chuyến đi Ấn Độ đầu tiên của mình kể lại, bộ tộc Ba Giai đã dùng đinh đóng cỏ xuống đất như thế nào sau mỗi trận động đất. Một nhà nhân loại học nổi tiếng người Pháp viết thư từ Nhật Bản nói rằng, ông phát hiện người Ainu cho đến khi cô dâu sinh ra đứa con mới thừa nhận cô ấy thực sự đã kết hôn, điều này có hoàn toàn giống với phát hiện của Maud ở người Xiêm hay không? Một bức thư từ đài truyền hình New York hứa trả cho cô một khoản thù lao nhỏ, mời cô xác nhận một tình tiết trong một bộ phim phong cảnh về Tân Britain: Một người cầu hôn bản địa đem bán cô dâu từ chỗ người chú của cô ấy, sau khi hai vợ chồng sinh con, bế đứa trẻ giơ lên trên ngọn lửa bập bùng, dùng cách này để cầu mong đứa trẻ sau này bình an lớn lên.

Bức thư sáng nay, điều huyền bí trong đó còn chưa được biết rõ, thế nhưng cái nhìn đầu tiên đã không thấy hăng hái. Maud tìm kiếm đủ loại phong bì, dấu bưu điện toàn là những nơi không hăng hái như New York, London, Kansas, Houston, cho đến khi tay cô dừng lại ở phong bì dán tem có vẽ tranh của Gauguin và đóng dấu bưu điện "Polynesia thuộc Pháp".

Cô nhận thức được những ngón tay ngắn ngủi của mình đang cầm lấy chiếc phong bì vừa dài vừa dày, mòn vách này. Ngay sau đó, cô lại nhận thức được rằng, trong những năm gần đây, thói quen hành sự quyết đoán của cô ngày càng thường xuyên rơi vào sự trầm tư và một thứ tâm trạng tự thương hại đầy bấp bênh.

Maud Hayden trong lòng tự trách mình, lật ngược chiếc phong bì dài này lại, phát hiện tên của người gửi và địa chỉ hồi đáp nằm ngay trên chỗ gấp niêm phong ở mặt sau, được viết thảo bằng một kiểu chữ viết tay châu Âu kiểu cũ: Đảo Tahiti, Papeete, phố Dinh Tổng đốc, lữ quán Taimi Ami, A. Eisteddfod.

Cô cố gắng ghép cái tên A. Eisteddfod vào một khuôn mặt nào đó trong trí óc mình. Mới quen gần đây, không có người này; quen biết cũ — cô tìm kiếm trong ký ức — tìm mãi, cuối cùng trong vô số khuôn mặt cũng tìm ra một khuôn mặt phù hợp với cái tên. Ấn tượng thật nhạt nhòa, thật mơ hồ. Cô nhắm mắt lại, dốc sức hồi tưởng, dần dần ấn tượng bắt đầu rõ ràng và chắc chắn hơn.

Alexander Eisteddfod, đúng vậy, ở Papeete. Họ bước đi trên con đường có bóng râm hướng về cửa hàng của ông ta ở số 147 phố Jeanne. Vóc dáng ông ta lùn tịt, béo đến mức giống như bị ép ra từ máy ép. Ông ta sinh ra ở Memel, hoặc Danzig, hoặc một bến cảng nào đó đã nhanh chóng bị các đội xung kích Đức xóa sổ, ông ta có rất nhiều tên và hộ chiếu, trong hành trình dài đằng đẵng làm người tị nạn đi Mỹ, ông ta dừng lại ở nửa đường, cuối cùng ở lại Tahiti, mở ra công việc kinh doanh. Ông ta tự xưng từng có thời là một nhà khảo cổ học, trong những ngày tháng đắc ý đó từng đi theo vài đoàn thám hiểm nước Đức, mô phỏng người khai quật thành Troia, Heinrich Schliemann cáu kỉnh kỳ cục, đóng vai trò của Schliemann. Eisteddfod lại quá yếu đuối và lôi thôi, quá nôn nóng thành công nên rất khó được như ý muốn, quá mức không thành công, ít nhất cô từng cho là như vậy. Alexander Eisteddfod, đúng vậy, cô có thể nhìn rõ ông ta hơn: đội một chiếc mũ vải lanh cao một cách buồn cười, thắt nơ bướm (ở Nam Hải), bộ đồ nhiệt đới màu xám nhàu nhĩ bị cái bụng bự căng đến mức chật ních. Lại càng rõ ràng hơn: kính kẹp mũi gác cao trên chiếc mũi dài, râu dài cả tấc, nước bọt theo chiếc tẩu chưa châm thuốc nhỏ xuống, chiếc túi xiêu vẹo nhét đầy những món đồ nhỏ, mảnh giấy, danh thiếp.

Bây giờ đã nhớ lại hết rồi. Cô đã lục lọi một buổi chiều trong cửa hàng chất đầy thủ công mỹ nghệ Polynesia của ông ta, giá cả đều còn hợp lý, cuối cùng mua đi một cặp thanh tre Bali, một cây gậy chiến Marquesas điêu khắc, một chiếc váy vỏ cây Samoa, một tấm chiếu đảo Ellis và một cái bát gỗ Tonga cổ. Cái bát gỗ dùng cho tiệc tùng này cho đến nay vẫn khiến cho phòng khách lầu dưới nhà cô bừng sáng rực rỡ. Cô hồi tưởng: trước khi rời đi, cô và Adelaide — bởi vì cô từng yêu cầu Adelaide làm quen với Eisteddfod — đã thết đãi ông ta ở nhà hàng trên tầng thượng của khách sạn Grand. Khách đã chứng minh bản thân là một cuốn bách khoa toàn thư — những giai thoại của ông ta thậm chí khiến cho những nghi vấn tương đối nhỏ nhặt mà họ bỏ lại trong nửa năm ở Melanesia đều tìm được chú thích — đó đã là chuyện của gần 8, 9 năm trước, Mark lúc đó đang học năm cuối đại học (ở đó lại đi ngược lại với ảnh hưởng của Alfred Kroeber, cô vô cùng tin chắc vào điều này, bởi vì cô và Adelaide sùng bái Kroeber).

Sắp xếp lại những năm tháng đã qua, Maud nhớ lại lần liên lạc cuối cùng của cô với Eisteddfod, là vào một, hai năm sau khi gặp mặt ở Tahiti. Lúc đó, nghiên cứu của họ về người Naviti ở Fiji đã được xuất bản, Adelaide nhắc nhở cô gửi cho Eisteddfod một cuốn sách có chữ ký riêng. Cô vui vẻ làm theo. Vài tháng sau, nhận được một bức thư ngắn của Eisteddfod. Trong thư nói món quà đã nhận được, những lời khen ngợi mang tính xã giao hòa lẫn với niềm vui chân thành vì người bạn đáng kính vẫn luôn nhớ đến ông ta — ông ta dùng từ "đáng kính", điều này khiến cô càng không nghi ngờ gì việc ông ta từng học ở Đại học Göttingen.

Đây là lần cuối cùng cho đến hiện tại Maud nhận được tin tức từ "Eisteddfod" — tấm bưu thiếp cảm ơn từ 6, 7 năm trước. Cô ngẫm nghĩ địa chỉ hồi đáp của Eisteddfod. Cách trở muôn trùng, khuôn mặt mờ nhạt, sớm đã bị lãng quên này bây giờ sẽ cầu xin cô làm gì? Tiền? Giới thiệu? Tài liệu? Cô cân nhắc chiếc phong bì trên lòng bàn tay. Không, chỉ vì có thỉnh cầu thì bức thư này quá nặng rồi, giống như có sự ban ơn thì đúng hơn. Có thể khẳng định, trong thư người này có việc lớn muốn thông báo.

Cô nhặt từ trên bàn lên con dao găm Ashanti — một kỷ vật trong chuyến đi châu Phi giữa hai cuộc Đại chiến thế giới, vào những ngày tháng ở Ghana trước kia — chỉ một thoáng, đã mở được phong bì ra.

Cô mở tờ giấy viết thư hàng không mỏng manh ra. Bức thư được đánh máy gọn gàng trên một chiếc máy cũ kỹ có khuyết điểm, bởi vì rất nhiều chữ đều mang theo lỗ thủng — phàm là chỗ có chữ t hoặc o, đại đa số đều bị đánh thành lỗ thủng — thế nhưng vẫn rất gọn gàng, cẩn thận đánh cách dòng đơn. Cô đếm bức thư được đánh máy bằng giấy nháp thông thường này, tổng cộng có 22 trang. Đọc xem ra cần có thời gian đấy. Vẫn còn những bức thư khác, một số bài giảng vào buổi chiều trước khi lên lớp cũng phải lật xem lại. Thế nhưng, cô lại cảm nhận được sự thúc giục quen thuộc của sự tò mò đến từ bản ngã thứ hai. Maud Hayden thứ hai phi trí thức và phi khách quan đang ẩn cư bên trong chính cô, và từ trước đến nay vẫn tồn tại với tư cách là bản ngã phi khoa học, trực giác và nữ tính của cô. Bây giờ, bản ngã thứ hai lại đến nuông chiều và nhắc nhở cô. Sự huyền bí và cảm xúc trước kia vốn dĩ thường xuyên đến từ nơi xa. Bản ngã thứ hai của cô rất ít khi yêu cầu lắng nghe tiếng nói của mình, nhưng một khi đã yêu cầu, thì không thể phớt lờ. Những khoảng thời gian tuyệt vời nhất của cô thường là do đã vâng theo bản ngã thứ hai mới có được.

Cô đầuه hàng, gạt bỏ áp lực của lương tâm và thời gian sang một bên. Cô ngồi phịch xuống, mặc cho chiếc ghế xoay bằng kim loại cấn người, nâng cao bức thư lên, áp sát vào mắt, chậm rãi đọc. Cô hy vọng bức thư này là điều tuyệt vời nhất trong những niềm vui nhỏ nhặt hôm nay.

Tahiti, Papeete

Lữ quán Taimi Ami

Giáo sư Alexander Eisteddfod kính gửi

Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

Bang California, thành phố Santa Barbara

Cao đẳng Reina

Tòa nhà khoa học xã hội phòng 309

Trưởng khoa Nhân loại học

Tiến sĩ Maud Hayden kính khởi

Tiến sĩ Hayden kính mến:

Bức thư này chắc chắn sẽ khiến cô kinh ngạc, chỉ mong cô vẫn còn nhớ tên tôi. 10 năm trước, khi cô cùng người chồng xuất chúng của mình từ đảo Fiji đi California trên đường lưu trú vài ngày ở Papeete, tôi vô cùng vinh hạnh được làm quen với hai vị. Tôi tin rằng, cô sẽ nhớ ra cô từng quang lâm tệ điền, khen ngợi hết lời về bộ sưu tập khảo cổ học của tôi về các xã hội nguyên thủy. Ngoài ra, việc có thể làm khách của chồng cô và chính cô cùng nhau dùng bữa, cũng là khoảnh khắc đáng ghi nhớ trong cuộc đời tôi.

Mặc dù đã thoát khỏi dòng xoáy của cuộc sống, tôi vẫn không thể không đặt mua một vài tạp chí khảo cổ học và nhân loại học, bao gồm cả "Der Spiegel" của Hamburg, dùng cách này để duy trì liên hệ với thế giới bên ngoài. Từ trong đó, tôi hết lần này đến lần khác đọc được tung tích của cô, và vì có duyên gặp mặt một lần với cô mà cảm thấy tự hào. Những năm gần đây, tôi đã kiếm được một phần tác phẩm thời kỳ đầu của cô, đều là những bản bìa mềm dễ tìm, say sưa đọc từng cuốn một. Thật sự mà nói, không chỉ một mình tôi tin rằng, người chồng tài năng rực rỡ và chính cô đã có những cống hiến vĩ đại nhất cho nhân loại học hiện đại.

Thế nhưng, ba, bốn năm trước, khi đọc được tin tức qua tuần báo "Biện luận" của địa phương chúng tôi về việc chồng cô qua đời, tôi cảm thấy chấn động và bi thương. Lúc đó tôi mất hồn mất vía, thực sự khó mà viết thư cho cô. Bây giờ, những năm tháng đau khổ đã qua đi, tôi ở đây xin gửi lời chia buồn chân thành nhất. Chỉ mong cô đã vượt qua được đả kích của sự mất mát này, hồi phục lại từ nỗi đau, thân thể tráng kiện, bắt đầu lại việc dạy học, viết lách và du lịch.

Tôi cầu nguyện bức thư này có thể đến được chỗ cô, bởi vì tôi chỉ có danh thiếp cũ của cô. Cho dù cô đã đi nơi khác, chắc chắn cơ quan bưu chính cũng sẽ biết địa chỉ mới của cô. Sở dĩ tôi nói "cầu nguyện bức thư này có thể đến được chỗ cô", là bởi vì tôi cảm thấy, nội dung phía sau sẽ khơi gợi sự hứng thú cực lớn của cô, sẽ sản sinh ra ảnh hưởng sâu xa đối với tiến trình công việc của cô.

Trước khi nói cho cô biết chuyện khiến tôi vô cùng tò mò, tôi phải gợi lại cho cô — nếu như cần thiết — về một đoạn trò chuyện của chúng ta 10 năm trước. Đó là ở Papeete, một lần sau bữa ăn, chúng ta đang uống rượu ngọt, cô và người chồng đáng kính của cô vì những giai thoại lịch sử tầm thường mà tôi kể đã nói lời cảm ơn tôi. Chúng ta im lặng uống vài phút, sau đó cô liền nói đoạn lời sau đây, sở dĩ tôi vẫn có thể nhớ, không phải nhờ vào trí nhớ hay sai sót của tôi, mà dựa vào một số đoạn trong cuốn nhật ký nhiều năm được tôi cẩn thận bảo quản. Cô nói: "Giáo sư Eisteddfod, chúng tôi đến Fiji khảo sát du lịch, trên đường ghé thăm toàn bộ khu vực Melanesia, cũng như chuyến thăm ngắn ngủi hiện tại đến Tonga, quần đảo Cook, quần đảo Marquesas và ở Tahiti, đã mang lại cho chúng tôi ích lợi rất lớn, vô cùng phấn chấn. Chồng tôi và tôi đều cảm thấy phải bước lên đường về. Nhưng chúng tôi hy vọng chẳng bao lâu nữa sẽ lại quay về Polynesia, không thể không đến. Nhưng chuyến thăm này có một mục đích. Đây là chỗ cần đến ông, Giáo sư Eisteddfod. Chúng tôi mạo muội đưa ra một yêu cầu với ông: Giả sử một khi ông được biết trên một hòn đảo san hô vòng không ai biết đến có một chủng tộc Polynesia, văn hóa của họ không hề bị ô nhiễm bởi thế giới bên ngoài, còn chưa bị khảo tra khoa học, tôi thỉnh cầu ông bằng mọi cách lập tức cho chúng tôi biết phát hiện của ông. Giả sử chủng tộc này và hòn đảo của họ đáng được nghiên cứu trong lĩnh vực nhân loại học, giả sử chúng ta có thể thu được từ đó một số thứ liên quan đến hành vi con người, chúng tôi sẽ tiến hành một cuộc điều tra. Còn về phần ông, sẽ nhận được thù lao hậu hĩnh."

Tiến sĩ Hayden, tôi nghe những lời này, khiến cho sự tín nhiệm của cô đối với tôi vô cùng cảm động. Đồng thời, có lẽ cô vẫn nhớ, tôi buộc phải thừa nhận tôi hoài nghi liệu bản thân có giúp ích được gì cho cô hay không. Tôi nói với cô, theo những gì tôi biết, không có bất kỳ hòn đảo quan trọng nào — hòn đảo có người ở — mà còn chưa ai biết đến, chưa được đo đạc, ghé thăm, điều tra. Tôi thẳng thắn nói với cô, các nhà thám hiểm, nhà truyền giáo, người săn cá voi, thương gia — cùng với những chuyên gia quân sự, khách du lịch, kẻ lang thang, nhà nhân loại học kéo đến sau đó — đã xem hết những gì nên xem ở đây rồi, không thể nào có bất kỳ thứ đồ mới mẻ hay hàng nguyên bản nào sót lại.

Nếu trí nhớ của tôi chính xác, cô nghe những lời phủ định quả quyết đó của tôi rồi, mà không hề nản chí. Từ điểm này tôi hiểu ra, đây chính là tính cách của cô, trực giác, sự lạc quan, sự kiên trì của cô chính là một số đặc điểm phẩm đức của cô. Chính vì thế, cô lúc đó mới có thể thốt ra những lời như sau:

"Giáo sư Eisteddfod, mặc dù ông hiểu biết về Châu Đại Dương nhiều hơn chúng tôi, tôi phải nói với ông rằng, kinh nghiệm của chúng tôi ở rất nhiều nơi cho chúng tôi biết, không phải vạn vật đều được phát hiện, vạn vật đều được hiểu rõ, tự nhiên có cách giữ gìn những thứ khiến người ta kinh ngạc của riêng nó. Xét cho cùng, bản thân tôi từng gặp vài nhà nhân loại học từng phục vụ trong quân ngũ ở Thái Bình Dương thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai. Họ thú nhận với tôi, họ ít nhất từng đụng độ trên nửa tá bộ tộc cư trú người nguyên thủy, trên bất kỳ bản đồ nào cũng không tìm thấy những hòn đảo vô danh. Những nhà nhân loại học này kín như bưng về những hòn đảo chưa từng được phát hiện trước đó — từ trước đến nay chưa từng nói vị trí của chúng cho bất kỳ ai — sợ rằng chúng bị đánh dấu lên bản đồ công khai hoặc hải đồ. Họ găm hàng chờ thời, chờ đợi một khi có thời gian và vốn liếng, liền tiến hành nghiên cứu độc quyền. Ông đương nhiên hiểu rõ, quyền sở hữu độc quyền — nói cách khác, lĩnh vực mới cần nghiên cứu — điều này trong khoa học xã hội thường có quan hệ trọng đại. Bây giờ, tôi có một cảm giác, trong hàng vạn hòn đảo san hô vòng, đảo san hô, đảo núi lửa ở Châu Đại Dương, chắc chắn có một số hòn đảo gọi là bỏ sót rất đáng để nghiên cứu sâu. Tôi lặp lại lần nữa, thưa giáo sư, một khi ông nghe nói về một hòn đảo như vậy, phong tục của người trên đảo còn chưa được thế giới bên ngoài biết đến, xin đừng quên vợ chồng Hayden và sự hứng thú nồng nàn của họ. Ngàn vạn lần đừng quên những lời tôi nói tối nay, Giáo sư Eisteddfod, ngàn vạn lần đừng quên. Tôi đảm bảo, ông sẽ không cảm thấy hối hận vì những phiền phức mà mình gặp phải."

Những lời cô nói tối hôm đó tôi chưa từng dám quên, Tiến sĩ Hayden. Cách biệt ngần ấy năm, có lẽ cô sớm đã quên bẵng, nhưng tôi thì không. Yêu cầu của cô vẫn luôn khắc sâu trong tim tôi. Thật sự mà nói, những năm gần đây, đặc biệt là khi văn minh máy bay phản lực phương Tây ngày càng xông vào bầu trời Nam Thái Bình Dương, tôi cho rằng nguyện vọng của cô và cuộc thám hiểm mà tôi vì cô mà tiến hành, chẳng qua chỉ là một vọng tưởng không thể thực hiện được. Cả cô và tôi đều rõ ràng, bản đồ thế giới vẫn đang trưng bày cho mọi người thấy những khu vực chưa được khai phá — phần sâu thẳm của đảo New Guinea thuộc Đức, một số phần của khu vực Trung - Miến - Ấn, phần thượng lưu của thung lũng sông Amazon — có những bộ tộc chưa từng được thế giới bên ngoài nhìn thấy. Nhưng giấc mơ của cô về việc ở Châu Đại Dương có những hòn đảo có người ở mà dấu chân người ngoài chưa đặt đến có đáng tin không? Tôi thừa nhận, cuối cùng tôi hầu như không muốn nghe những lời đồn đại và tin đồn có thể chứng thực giấc mơ của cô nữa. Thế nhưng đột nhiên, ngay vào tuần trước, đúng lúc tôi chuẩn bị không đi nghĩ đến chuyện này nữa, một cơ hội ngẫu nhiên lại khiến cho yêu cầu bị gác lại từ lâu của cô kết trái.

Cô đã đúng, Hayden, tôi đã phát hiện ra hòn đảo bị bỏ sót mà cô nói.

Nếu tiếng Anh cứng nhắc của tôi không biểu đạt đúng sự kích động trong lòng tôi lúc này, vậy thì xin cô hãy tha thiết tha thứ cho tôi! Tôi khao khát biết bao trong khoảnh khắc thành công này có thể dùng ngôn ngữ của cô để thoải mái nói lên suy nghĩ của mình! Mặc cho rào cản ngôn ngữ, tôi sẽ cố gắng hết sức để biểu đạt cảm xúc nồng nhiệt của mình với cô.

10 năm sau, trong hàng ngàn hàng vạn hòn đảo nhỏ của Châu Đại Dương, tôi đã phát hiện ra hòn đảo và con người chưa từng được thế giới biết đến mà cô tìm kiếm. Đây không phải là nghe nói lại, cũng không phải là lời đồn dã sử, Tiến sĩ Hayden. Tôi viết thư cho cô bởi vì tôi sở hữu bằng chứng tận mắt chứng kiến có thẩm quyền. Tôi từng đặt chân lên mảnh đất của hòn đảo cao nhỏ bé này. Tôi từng chung sống ngắn ngủi với cư dân trên đảo, cư dân trên đảo là chủng tộc lai giữa bán Polynesia và bán người Anh, giống như những người trên đảo Pitcairn vậy. Tôi tận mắt chứng kiến phong tục của bộ tộc này, những thứ nghe được thì còn nhiều hơn nữa. Những phong tục này đã hé lộ một thứ văn hóa bị cách ly đặc biệt nhất, kỳ lạ nhất trên thế giới hiện nay. Tôi thử dùng ánh mắt hiểu rộng biết nhiều của chuyên gia cô để nhìn nhận phát hiện của mình, thế nên, tôi đã nhìn thấy một đề tài nghiên cứu có lẽ có ý nghĩa quan trọng đối với công việc của cô, có lẽ là cống hiến hữu ích đối với những nam thanh nữ tú đang sống trên đời.

Nhóm hòn đảo trong Nam Hải này — một hòn đảo núi lửa nhỏ bé tươi tốt và hai hòn đảo san hô vòng nhỏ như hạt đậu — có tên gọi là ba nàng tiên cá.

Đừng có ý định tìm kiếm ba nàng tiên cá trên bản đồ, trên đó sẽ không có đâu. Bất kể là nhà chức trách, hay đại chúng nói chung, đều chưa từng được chính thức phát hiện. Cũng đừng có ý định tìm kiếm chúng trong bất kỳ cuốn sách nào đã biết về Châu Đại Dương. Theo lịch sử và địa lý được biết hiện nay, chúng vốn dĩ còn chưa tồn tại. Cô nhất định phải tin vào cảm giác của tôi với tư cách là một học giả: ba nàng tiên cá, so sánh mà nói mặc dù không đáng kể, thế nhưng lại chân thực giống như Tahiti, hoặc Rarotonga, hoặc đảo Phục Sinh, ở một số phương diện hoặc là càng giống đảo Pitcairn hơn. Còn về phần cư dân trên đảo, tôi dám nói nhiều lắm là 200 người, và cũng giống như cô và tôi là những con người đang sống sờ sờ. Ngoại trừ tôi và hai người da trắng khác, bất kỳ ai đang sống trên đời đều không còn nhìn thấy họ nữa.

Điểm độc đáo nhất của con người trên ba nàng tiên cá là gì — vấn đề này tôi phải tuyên bố trước, nếu vấn đề này không thể khơi gợi sự hứng thú của cô, cô cũng không cần nhọc lòng đọc tiếp nữa, tôi cũng đành miễn cưỡng chuyển sang chỗ khác — điều phi thường nhất của những con người này là thái độ tiên tiến của họ đối với tình yêu và hôn nhân (tôi còn có thể bổ sung thêm từ "khiến người ta kinh ngạc"). Tôi chắc chắn, ở bất kỳ xã hội nào khác trên trái đất, không thể tìm ra bất kỳ thứ gì có hành vi lịch sử tương tự với họ.

Đối với phong tục về tính dục và hôn nhân trên đảo Ba Nàng Tiên Cá, tôi không thể bình luận thêm. Tôi chỉ không chút mơ hồ chỉ ra rằng, chúng khiến tôi kinh ngạc không nhỏ. Hơn nữa, Tiến sĩ Hayden, tôi không phải là một sinh viên ngây thơ, chưa trải sự đời, mà là với tư cách là một nhà khoa học, một đấng nam nhi đang nói chuyện với cô.

Nếu như giống như điều tôi cầu nguyện, đã khơi gợi được sự hứng thú của cô, cô cứ đọc tiếp đi! Hãy ghi nhớ, tôi không phải là một bậc thầy kể chuyện thần thoại, mà là một nhà nhân loại học được đào tạo kiểu Đức đang nói chuyện với sự khách quan bình tĩnh của mình. Ngoài ra, xin hãy ghi nhớ lời mà Hamlet bất tử từng nói: "Giữa trời đất vạn vật vô cùng phức tạp, Horatio, giấc mộng triết học của anh thực sự rất khó dung chứa."

Tôi muốn thảo luận theo thứ tự thời gian về việc bản thân mình đã bị cuốn vào phát hiện ngẫu nhiên này như thế nào, và tôi đã phát hiện ra cái gì, quan sát được cái gì, nghe nói được cái gì và một vấn đề có lẽ có liên quan đến cô, đó là đối với việc này nên thực tế làm thế nào cho phải.

Khoảng 6 tuần trước, tiệm của tôi có ghé qua một quý ông trung niên người Australia, vóc dáng cao lớn, hương vị quý tộc rất nồng đậm, tự giới thiệu là ông Trevor đến từ Canberra. Ông ta nói ông ta vừa hoàn thành một chuyến du lịch vòng quanh Tây Samoa, quần đảo Marquesas và quần đảo Cook, không mang theo chút kỷ vật nào thì không thể về quê hương được. Ông ta từng nghe nói về hàng hóa trong kho của tôi, cùng với sự tôn sùng của tôi đối với sự trung thực, lần này đến đây là muốn mua vài món thủ công mỹ nghệ nhỏ. Tôi dẫn ông ta đi dạo một vòng trong tiệm, giới thiệu từng món một, từ nguồn gốc, lịch sử, công dụng giảng giải đến hàm nghĩa. Chẳng mấy chốc, ông ta đã bị kiến thức uyên bác của tôi về Nam Hải làm cho chấn động, bắt đầu hỏi tôi rất nhiều hòn đảo ngoài đó cũng như chuyện tôi đến đó du lịch, mua sắm. Kết quả là, ông ta nán lại thêm mấy tiếng đồng hồ — tôi thiết đãi bằng trà — mặc dù ông ta mua đi những thứ chỉ đáng giá 1800 franc Thái Bình Dương, tôi vẫn cảm thấy tiếc nuối vì sự rời đi của ông ta. Ở nơi hẻo lánh này, tìm được một người tri âm có văn hóa là rất khó.

Tôi nghĩ, ông Trevor ở Canberra, Australia thì sẽ không gặp lại nữa. Sáng hôm sau, tôi vừa mở cửa tiệm ra, ông ta vậy mà lại xuất hiện lần nữa! Sự kinh ngạc của tôi lúc đó cô có thể tưởng tượng được đấy. Ông ta nói, lần này đến không phải vì đồ thủ công mỹ nghệ, cũng không phải để nghe tôi kể chuyện, mà là muốn giao cho tôi một việc làm, xem tôi có muốn làm hay không. Ông ta nói, việc tôi quen thuộc như vậy với nhiều hòn đảo và người thổ dân ở Polynesia, đã để lại ấn tượng sâu sắc cho ông ta. Ông ta vẫn luôn tìm kiếm một người như tôi, mà trong suốt hành trình của mình lại không tìm được một người vừa đáng tin cậy vừa có kiến thức, cho đến khi tình cờ gặp được tôi. Vì cảm thấy tôi phù hợp đến mức khó tin, vào buổi tối hôm trước ông ta lại hỏi thăm các yếu nhân địa phương, bọn họ cũng đều ủng hộ và giới thiệu tôi.

Ông Trevor đi thẳng vào vấn đề, thốt ra sứ mệnh của mình. Ông ta đại diện cho một tập đoàn giới công thương Canberra. Những con người ở đây tin rằng, Polynesia có tiền đồ vô lượng, hy vọng đầu tư lớn ở đây. Dự án công trình rất nhiều, mỗi thứ mỗi khác, trong đó ưu tiên hàng đầu là phải có một đội máy bay chở khách cỡ nhỏ, chuyên chở du khách qua lại giữa những hòn đảo nhỏ hơn nhưng phong cảnh đẹp nhất và những hòn đảo lớn hơn một chút. Hãng hàng không nội địa Châu Đại Dương về giá vé và cước phí phải thấp hơn hãng Qantas, Air France, Hãng hàng không Nam Polynesia, Hãng hàng không New Zealand và một vài hãng hàng khống khác. Điểm cốt lõi nhất của dự án này là hy vọng có thể cung cấp một loại dịch vụ khứ hồi hoặc dịch vụ phà có tính năng động và không gian dư địa lớn hơn các công ty lớn, bởi vì sử dụng máy bay hạng nhẹ, sân bay nhỏ và rẻ, các trang thiết bị không quá đắt đỏ, chi phí sẽ tương đối thấp. Ông Trevor giải thích, sự sắp xếp này dưới sự hợp tác của chính quyền địa phương đã được thi hành trên toàn bộ Polynesia, nhưng có một vị trí sân bay thì vẫn chưa tìm được địa điểm thích hợp.

Ông Trevor không thể ở lại thêm để xác định vị trí sân bay khó nắm bắt cuối cùng này, ông ta cần một người để thay thế mình, thế là, ông ta liền tìm đến tôi. Công việc ông ta giao cho tôi như sau: Yêu cầu tôi ngồi máy bay tư nhân từ hai hướng thực hiện vài chuyến khảo sát trên không. Thứ nhất, ông ta muốn tôi tìm kiếm hành lang giữa Tahiti và quần đảo Marquesas, giả sử không có địa điểm thích hợp, ông ta đề xuất tôi kéo dài từ Tahiti về phía nam, bao gồm khu vực tam giác lớn hình thành bởi quần đảo Tubuai, đảo Pitcairn và đảo Rapa, nếu cần thiết, thậm chí còn có thể đi xuống phía nam nhiều hơn nữa, rời khỏi tuyến đường giao thông.

Thứ mà hãng hàng không nội địa Châu Đại Dương cần là một hòn đảo nhỏ không người ở, hơn nữa phải có một vùng đất cao hoặc đất phẳng, có thể dùng xe ủi đất ủi phẳng, xây dựng một sân bay dài không quá một dặm rưỡi ở trên đó. Sở dĩ cần đảo nhỏ không người ở, là bởi vì có thể thuê với giá rất rẻ từ chỗ chính phủ sở hữu những hòn đảo này mà lại lơ đễnh. Nói lùi một bước, nếu hòn đảo thích hợp xuất hiện, mà ở trên đó cư trú một bộ tộc hoặc chỉ vài thổ dân chứ không phải người da trắng, thì cũng không sao cả. Thổ dân có thể dời đi, hoặc mua lại và cách ly đi, đất đai vẫn sẽ không đắt.

Ông Trevor nói, nhiệm vụ của tôi là từ trên không xác định 3, 4 hòn đảo như vậy, sau đó lên đảo thăm dò, viết báo cáo tỉ mỉ cho Canberra. Các chuyên gia của ông Trevor sẽ tiến hành sàng lọc, tập trung mục tiêu vào một hoặc hai hòn đảo, rồi để những lão tay nghề của họ đưa ra quyết định cuối cùng. Tôi sẽ nhận được 500 đô la phí trinh sát. Nếu thành công, tôi sẽ nhận được thêm 3000 đô la phí báo cáo.

Mặc dù du lịch giữa những hòn đảo này là hứng thú của tôi, nhưng công việc này lại không phải là thứ tôi thích. Một nguyên nhân là tôi chán ghét việc bay lượn, nguyên nhân thứ hai là tôi không có nhiều sức lực để bôn ba trên mảnh đất hoang vắng, xa xôi, không mọc nổi cỏ đó. Thế nhưng, Tiến sĩ Hayden, trước mặt cô tôi cũng không dám đánh bóng phồng má làm người sang, gần đây vận may tài chính của tôi không tốt lắm. Tôi vẫn y nguyên như cũ, không có tiến bộ gì. Duy trì cuộc sống hàng ngày của tôi đơn giản là một cuộc đấu tranh. Tôi đã vấp phải sự cạnh tranh ngày càng tăng cường của những kẻ buôn bán địa phương, muốn kiếm được thủ công mỹ nghệ có giá trị thì ngày càng khó hơn. Cứ như vậy, bất cứ khi nào gặp được cơ hội có thể bổ sung cho thu nhập cỏn con của mình, tôi không thể không chê bai mà tiếp nhận nó. Mặc dù dự toán chi phí của ông Trevor được ép rất chặt, nhưng thù lao cuối cùng của nó vẫn khá khả quan, chắc chắn nhiều hơn số tiền tôi kiếm được trong cả một năm từ cửa hàng hay việc buôn bán khác. Tôi không còn sự lựa chọn nào khác, đành phải chấp nhận sự ủy nhiệm này.

Ông Trevor sau khi đưa ra những chỉ thị tỉ mỉ cho tôi, liền bay về Australia. Tôi lập tức bắt tay vào việc thuê một chiếc thủy phi cơ tư nhân. Những chiếc có thể cho thuê ở Papeete — ví dụ như hai chiếc phi thuyền mà công ty RAI dùng để vận chuyển du khách đến Bora Bora — đối với việc cá nhân bao thuê thì quá đắt đỏ. Tôi tiếp tục dò la. Một lần ở quán rượu của nhà Queen, người phục vụ nghe tôi nhắc đến chuyện này, bảo với tôi anh ta quen một người mà tôi đang tìm kiếm. Anh ta nói, một vị khách hàng của anh ta tên là Đại úy Ole Rasmussen (người này tôi cũng từng nghe danh) có một chiếc thủy lục lưỡng dụng kiểu cũ, được mua lại từ một công ty của Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Người phục vụ quán rượu này lại nói, Rasmussen ở Moorea — cách chúng tôi chỉ một tầm tên bắn — có một căn biệt thự nhỏ và một người vợ người Polynesia, bên cạnh trung tâm thương mại Kuai có một nhà kho. Người phục vụ này cho rằng, Rasmussen là một nhà nhập khẩu, dùng thủy phi cơ của mình vận chuyển hàng hóa, bất kể gió mưa, mỗi tuần ít nhất đến Papeete một lần, tôi muốn gặp ông ta không khó.

Vài ngày sau, tôi đã gặp Đại úy Rasmussen và cơ phó của ông ta, một người thổ dân độ 20 tuổi tên là Richard Harper. Hơi thở mà Rasmussen thở ra mang theo mùi whisky, lại còn mang theo một vẻ tục tĩu, bề ngoài rất khó khiến người ta kính trọng, điều này khiến tôi sinh ra vài phần hoài nghi. Ông ta quả thực có một chiếc Ford-Sikorsky đã có tuổi — một chiếc máy bay hai động cơ cồng kềnh, kêu cót két, tốc độ tối đa 170 dặm một giờ — tôi phát hiện máy bay rất sạch sẽ, được bảo dưỡng khá tốt, điều này lại khiến tôi sinh ra thêm vài phần kính trọng. Rasmussen nói chuyện nước bọt văng tứ tung, nói không dứt miệng, không chán ghét việc kể lể chuyện ông ta dùng chiếc thuyền buồm hai cột buồm cũ đánh bắt ngọc trai năm 1947 đổi lấy một chiếc thủy phi cơ, tỏ ra vô cùng tiếc nuối, nhưng tôi cho rằng tình yêu của ông ta dành cho máy bay còn sâu sắc hơn những gì ông ta có thể thừa nhận. Ông ta mỗi tuần đều đi lại giữa các đảo, một lần chỉ tốn thời gian hai ngày. Cho nên, ông ta có đầy đủ thời gian rảnh rỗi, đối với việc cho tôi thuê máy bay chắc chắn sẽ không không đồng ý. Chúng tôi kỳ kèo mặc cả tranh cãi mất một tiếng đồng hồ, cuối cùng ông ta đồng ý dẫn tôi thực hiện 3 chuyến bay khảo sát, hai chuyến đường ngắn, một chuyến dài hơn, nhiều nhất chỉ được hạ cánh 3 lần, thu phí 400 đô la.

Một ngày cách đây hai tuần, Rasmussen và Harper ngồi ở buồng lái tận phía trước, chúng tôi bắt đầu chuyến hành trình thám hiểm đầu tiên. Phải nói rằng, Đại úy Rasmussen hiểu rõ khu vực giữa Samoa và quần đảo Marquesas hơn tôi, và chỉ cho tôi số lượng đáng kể những hòn đảo nhỏ không người ở, những hòn đảo này, người ta luôn hoài nghi sự tồn tại của chúng, trên bản đồ không tìm thấy, nhưng lại có thật. Thế nhưng, trong những hòn đảo này, không có hòn đảo nào phù hợp với yêu cầu của công ty vận tải nội địa Châu Đại Dương. Chuyến thám hiểm trinh sát thứ hai tiến hành vài ngày sau đó, mặc dù tôi chỉ huy Rasmussen hạ cánh một lần và lên bờ, kết quả vẫn giống như lần đầu tiên, chẳng có tích sự gì. Tôi chán nản thất vọng — dường như thấy rõ việc không kiếm được 3000 đô la đã hứa với tôi — nhưng vẫn giữ lại một tia hy vọng, chuyến thứ ba, cũng là chuyến bay dài nhất, có lẽ sẽ phát hiện ra mục tiêu tôi cần. Sau đó, chuyến bay cuối cùng này đã bị trì hoãn mất mấy ngày. Rasmussen biến mất khỏi Papeete, tìm khắp nơi không thấy. Cuối cùng, 5 ngày trước, ông ta tự mình đến lữ quán nơi tôi ở. Chuyến khảo sát kéo dài hai ngày lần này đã chuẩn bị sẵn sàng, cất cánh lúc rạng đông, giữa đường chỉ dừng lại để đổ xăng, ngủ lại một đêm ở đảo Rapa, và bất cứ lúc nào theo mệnh lệnh của tôi mà hạ cánh khi tôi phát hiện có khả năng tương đối lớn.

Tiến sĩ Hayden, không cần thiết phải để cô cũng đi theo tôi để trải nghiệm cái cảm giác tuyệt vọng của chuyến du lịch trên không không có thu hoạch gì cuối cùng đó. Ngày đầu tiên không có kết quả. Ngày thứ hai, rời khỏi đảo Rapa vào lúc rạng đông, chúng tôi mạo hiểm bay về phía nam, bay cao bay thấp suốt mấy tiếng đồng hồ, rời xa tuyến đường cũ từ lâu, hết hòn đảo san hô vòng này đến hòn đảo san hô vòng khác kiểm tra. Không có hòn đảo nào phù hợp với mục đích của ông Trevor, tự lừa dối bản thân là vô ích. Khi đến buổi chiều, Rasmussen mở bình dầu phụ, quay đầu muốn bay về nhà, phàn nàn chúng tôi bay quá xa, không đời nào bay về kịp Tahiti vào thời gian thích hợp trong buổi tối. Tôi đề nghị ông ta bay ngược về hướng đông bắc, như vậy chúng tôi có lẽ sẽ dọc theo quần đảo Tubuai bay về phía Tahiti. Rasmussen lại tỏ ra không đồng tình, phàn nàn nhiên liệu không ngừng giảm bớt, nhưng sau đó lại vì sự chán nản thất vọng của tôi mà động lòng trắc ẩn, uống cạn mấy ly whisky Scotland xong, liền đồng ý với tôi.

Harper đang lái, Rasmussen đang chìm vào giấc say, tôi ngồi xổm phía sau bọn họ, nhìn ra ngoài từ cửa sổ. Tôi chợt nhìn thấy một mảng đất mờ ảo nhô lên mặt biển ở đằng xa, đang lấp lánh dưới ánh hoàng hôn. Ngoại trừ quần đảo Tubuai ra, chúng tôi chẳng dính dáng đến đâu cả, tôi không quen thuộc với khu vực này, nhưng tôi vẫn cảm nhận được, mảnh đất này chưa từng có ai đặt chân đến, cũng không phải là hòn đảo chính.

"Cái gì thế, ở đằng kia vậy?" Tôi hỏi Đại úy Rasmussen.

Chưa nói đến bề ngoài thô lỗ của ông ta, trước khoảnh khắc này, tôi vẫn luôn cảm thấy Rasmussen là kẻ dễ gần nhất, dễ hợp tác nhất. Đối với một số lời thô tục trong lời nói của ông ta, tôi cho rằng nó rất không xứng với ông ta, cho nên liền nghe như gió thoảng ngoài tai. Nhưng lần này tôi muốn đem cách dùng từ của ông ta chép y nguyên từ trong cuộc sống ra, cũng để cô thưởng thức trải nghiệm của tôi vào buổi tối hôm đó.

Đối với câu hỏi của tôi về mảnh đất ở đằng xa kia, Đại úy Rasmussen bĩu môi hừ mũi, đáp rằng: "Cái gì chứ? Là cái thứ quái quỷ gì — một hòn đảo san hô vòng bẩn thỉu — hoang vu — có chút cỏ — mẹ kiếp, có lẽ — không có nước, không có con người sinh sống, chỉ có chim hải âu lớn, còn có chim mòng biển, còn có chim biển lớn — là chỗ chim đậu, không phải chỗ máy bay đậu."

Tôi không hài lòng với lời giải thích này, về hải đảo tôi đã hiểu biết đôi chút. "Trông không giống một hòn đảo nhỏ," tôi kiên quyết nói, "tôi thấy giống một loại hòn đảo lớn hơn có một mảng cao nguyên san hô, hoặc đơn giản là một hòn đảo núi lửa. Nếu ông không phiền, tôi muốn đến gần hơn một chút để khảo sát nó."

Tôi nhớ rằng, nghe xong lời của tôi, Đại úy Rasmussen liền nghiêm túc lại, trong giọng nói xuất hiện mấy phần nghiêm khắc: "Tôi không bận tâm đến việc rẽ thêm một vòng lãng phí thời gian. Nhưng nói đi cũng phải nói lại, tôi đã làm tròn trách nhiệm của mình rồi — đêm tối sắp buông xuống — dầu của tôi cũng sắp hết rồi — chúng ta vẫn còn một quãng đường rất dài phải đi đấy. Chiếc kệch thây nó đi."

Ngữ điệu của ông ta, bộ dạng của ông ta, cái ánh mắt cố ý muốn tránh né tôi của ông ta, trong đó có một điểm nào đó khiến tôi lập tức sinh ra hoài nghi đối với sự chính trực của ông ta, tôi quyết định không dễ dàng thỏa hiệp. "Ông bảo với tôi ở đó không có người ở." Tôi nói.

"Ừm, là tôi bảo với cô đấy."

“Vậy thì, tôi buộc phải đến gần nó xem cho bằng được, bởi vì chúng ta đang ở trong chiếc máy bay do tôi thuê, tôi đề nghị ông vẫn nên nghe theo sự sắp xếp của tôi.”

Đôi mắt của ông ta, vì uống rượu mà trở nên đục ngầu, lúc này hình như đã trong trẻo lại, hơn nữa còn lóe lên ánh sáng nghiêm khắc. Ông ta chằm chằm nhìn tôi: "Cô muốn gây chuyện à, giáo sư?"

Tôi cảm thấy không ổn, nhưng tôi đang đấu tranh với ông ta. Sợ bóng sợ gió đối với tôi mà nói nguy hiểm quá lớn. Tôi đi thẳng vào vấn đề đáp lại ông ta: "Ông đang giấu giếm tôi thứ gì phải không, thưa thuyền trưởng?"

Điều này đã chọc giận ông ta. Tôi tin chắc ông ta sẽ mắng tôi. Nhưng ông ta không làm thế, mà nghiêng người về phía tên phi công phụ người thổ dân của ông ta: "Rẽ phải, đừng để tên này dây dưa với tôi nữa — cho hắn đến gần thêm chút nữa, Harper, để hắn nhìn xem, ngoại trừ vách đá, đá cuội và mấy ngọn đồi nhỏ ra, trên đảo Nữ Tiên Biển chẳng có gì cả."

"Đảo Nữ Tiên Biển?" Tôi lập tức truy vấn, "Đây là tên của hòn đảo đó sao?"

“Nó không có cái tên đàng hoàng nào cả.” Ông ta trở nên vô cùng thô lỗ.

Trong lúc nói chuyện, máy bay đã vòng qua một góc cung tròn, chật vật bay về phía điểm đất đai ở đằng xa. Càng lúc càng nhìn rõ hơn, tôi thậm chí có thể phân biệt được đường nét của vách đá ven biển hiểm trở và một vùng đất phẳng có miệng núi lửa ở phía sau.

“Được rồi, đủ rồi,” Rasmussen nói với tay sai của mình. Ông ta lại quay sang tôi: “Cô tự nhìn đi, giáo sư — không có chỗ để hạ cánh.”

Nếu không có đất phẳng, lời ông ta nói chính là sự thật, nhưng vấn đề là tôi hoài nghi trên đó quả thực có một mảng đất phẳng, và đem suy nghĩ của mình nói cho Rasmussen biết. Tôi yêu cầu ông ta bay lại gần hơn nữa, thấp hơn nữa, để bản thân có thể thu được kết luận thỏa đáng. Rasmussen lại một lần nữa thở dốc dập dồn, sắp sửa phát tác, dường như muốn gầm lên một tiếng "Không đời nào". Tôi dùng tất cả sự nghiêm túc mà mình có thể biểu hiện ra nói: "Thưa thuyền trưởng, tôi rất rõ chúng ta đang ở đâu bây giờ. Nếu ông từ chối cho tôi nhìn một cách đàng hoàng hòn đảo này, tôi sẽ mời cao nhân khác, ngày mai sẽ đến ngay." Thực ra, tôi hoàn toàn chỉ đang giương oai giả hổ, bởi vì số tiền ông Trevor để lại hầu như sắp sạch trơn, tôi cũng không biết vị trí hiện tại của mình ở đâu, nhưng tôi tin là sự khủng bố sẽ có hiệu quả.

Rasmussen trầm mặc một lát, chớp chớp mắt với tôi, dùng lưỡi liếm liếm đôi môi khô khốc. Cuối cùng, ông ta mở miệng nói chuyện, trong giọng nói mang theo một thứ ám chỉ vi tế và hiểm độc: "Tôi là cô thì sẽ không làm thế này đâu, giáo sư. Đây vốn dĩ là một sứ mệnh hữu nghị, một chuyến đi tĩnh lặng, giống việc tư nhiều hơn. Tôi đối với cô cũng coi như hào phóng rồi, trước đó, tôi chưa từng đưa bất kỳ ai đến khu vực này, tôi không muốn cô dùng tư cách người thuê để sai khiến tôi."

Tôi quả thực có chút sợ Rasmussen, nhưng tôi cũng sợ không hoàn thành được sứ mệnh của mình. Tôi cầu cứu sự khủng bố của mình. "Bầu trời là tự do và đại dương cũng là tự do," vừa nói, tôi vừa lặp lại lời khủng bố của mình lần nữa, "không ai có thể ngăn cản tôi quay lại đây lần nữa, đặc biệt là bây giờ, tôi chắc chắn ông đang giấu giếm điều gì đó."

“Cô đang khoác lác ở đó đấy,” Rasmussen gầm lên, “Những hòn đảo hoang như thế này có hàng ngàn hàng vạn, cô vĩnh viễn không phân biệt được cái nào với cái nào, cô vĩnh viễn không tìm thấy nó đâu.”

“Cho dù tốn trọn một năm, tôi cũng nhất định sẽ tìm thấy nó,” tôi tăng thêm ngữ khí, “Tôi sẽ động viên tất cả những người ủng hộ của tôi ở Canberra và tất cả các đội phi cơ của họ, về khu vực này tôi đã hiểu biết đôi chút, đã quan sát được một số mốc giới đất đai rồi.” Tôi dứt khoát đánh cược một ván liều lĩnh, “Nếu ông muốn cản trở tôi, được thôi, lập tức đưa tôi về Tahiti, tôi sẽ giao dịch việc này với những tay lái máy bay cho thuê có thể hành sự theo cái giá mà tôi đưa ra.”

Tôi sợ Rasmussen sẽ nhảy dựng lên, động võ với tôi, nhưng ông ta có vẻ như bị hơi rượu ngâm đến mê mẩn, phản ứng chậm chạp. Ông ta lầm bầm thứ gì đó, ném ra một cử chỉ biểu thị sự chán ghét đối với tôi, quay sang tên sai vặt của mình: “Mẹ kiếp — bay đến không trung đảo Nữ Tiên Biển đi, Harper. Lần này hắn nên ngậm cái mõm thối lại rồi.”

Tiếp theo, trong sự im lặng khó chịu bay suốt 10 phút, chúng tôi liền đến được không trung hòn đảo đó. Tôi phát hiện đó không phải là một hòn đảo, mà là 3 hòn. Tôi liếc nhanh qua hai hòn đảo san hô vòng nhỏ bé đó, chu vi mỗi hòn chưa đầy 1 phần tư dặm. Chúng là những hòn đảo san hô, vừa mới lộ ra mặt biển, trên mỗi hòn đều có đất khô, có cỏ và bụi cây, còn có cây dừa. Trên một trong các hòn đảo còn có một cái hồ nhỏ xinh xắn. So với hai hòn đảo nhỏ này, hòn đảo chính có thể gọi là lớn, nhưng nói thật lòng, so với những hòn đảo khác của Polynesia mà nói, lại là nhỏ, theo tôi phỏng đoán nhiều lắm là dài 4 dặm, rộng 3 dặm.

Dưới tốc độ bay của chúng tôi, tôi có thể nhìn ra miệng núi lửa cao ngất, sườn núi hiểm trở được bao phủ bởi những chiếc lá xanh dày đặc, những cây thông uốn lượn méo mó, khu rừng gỗ cứng, mấy thung lũng cỏh xanh rờn, một cái hồ nhỏ màu đồng lấp lánh, vô số khe núi khe suối, những vách đá khổng lồ đang bảo vệ mảnh đất này.

Tiếp theo, tôi đã phát hiện ra mảng đất phẳng cần tìm. Thảm cỏ xanh bao phủ lên trên đó, giống như một chiếc thảm lớn, phẳng phiu ngay ngắn, ở giữa không có khe rãnh hay đá mọc nhô lên. Dần dần, mảng đất phẳng hòa quyện với sườn dốc do một sống núi dẫn xuống, được bao phủ bởi những lùm cây xanh, và nối liền một dải bãi cát hình dải băng.

“Không có vũng đậu tàu nào mà thuyền có thể neo đậu cả,” Rasmussen lên tiếng, có chút đắc ý phơi phới, “Nước nông — rạn san hô dưới đáy nước — bãi đá ngầm — gió bắc thổi tới, bất kỳ con thuyền nào cũng phải tiêu đời. Lúc tôi có con thuyền 4 cột buồm đó cũng chưa từng đến đây, có được chiếc máy bay này rồi, mới có thể đến được.”

“Trên đó có một mảng đất phẳng,” tôi không thể áp chế tâm trạng kích động, “Chính xác không sai một li.”

Rasmussen vừa nhìn thấy hòn đảo lớn hơn một chút đó liền chìm vào trầm tư, hoàn toàn bị thu hút, có vẻ như quên mất yêu cầu của tôi, lời nói của tôi khiến ông ta bừng tỉnh lại.

“Tôi muốn anh thả tôi xuống,” tôi nói, tôi nghĩ mình đã lặp lại câu này mấy lần liền, hệt như đứa trẻ trong dàn đồng ca tìm thấy một viên kẹo. “Tôi muốn tận mắt nhìn thấy nó.” Nội dung trong lòng tôi tràn ngập hy vọng, bởi vì tôi biết đây là một vùng đất rất thích hợp. Tôi sẽ hoàn thành sứ mệnh của mình cho ông Trevor và Hãng hàng không nội địa Châu Đại Dương. Tôi sẽ nhận được thù lao đáng có.

“Không,” Đại úy Rasmussen nói.

“Không?” Tôi hoang mang khó hiểu, “Ý anh là gì?”

Chúng tôi quay đầu lại, chuẩn bị bay thêm một chuyến từ trên không trung hòn đảo chính. Rasmussen đưa ra những cử chỉ khó hiểu hướng về phía cửa sổ. “Sóng biển cuồn cuộn — sự oanh kích nghiêm trọng — gió tồi tệ — chúng ta sẽ bị hất tung vào đống đá.”

Tôi nhìn xuống dưới, “Biển lớn tĩnh lặng như gương. Hoàn toàn không có chuyện gì cả.”

“Tôi không biết,” Rasmussen lẩm bẩm nói, “Còn có thứ khác nữa. Vô cùng nguy hiểm. Có kẻ săn đầu người — kẻ ăn thịt người.” —

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.