Cô kéo nốt đường khóa kéo cuối cùng trên chiếc váy lụa màu xanh mòng két mới mua cho thẳng thắn, rồi vừa dò dẫm tìm chiếc móc cài ở sống lưng vừa bước về phía cửa sổ. Từ độ cao của ngọn đồi nơi căn hộ cô tọa lạc, cô có thể nhận ra sương mù đang vươn ra những chiếc vuốt xám xịt, cuồn cuộn cuộn trào dưới bầu trời đêm đen nhánh và ánh đèn vàng rực, bò qua những khu phố dưới chân. Chẳng mấy chốc, toàn bộ San Francisco sẽ bị nuốt chửng, chỉ còn lại bộ khung của cầu Cầu cổng vàng hiện ra lờ mờ như một đường kẻ đen ở chân trời xa tít.
Cô biết Walter ghét thời tiết sương mù, nhưng dẫu cho anh từng nhắc đến chuyện muốn tung hoành một đêm cho thỏa thích, cô vẫn hoài nghi bọn họ sẽ chỉ đến một nơi nào đó không quá xa nhà hàng bên bờ Ngư Phủ Mã Đầu. Ăn uống xong xuôi, nếu theo đúng lệ thường, họ sẽ đi thẳng trở lại căn phòng này và sự ấm áp thoải mái của chiếc giường lớn ấy; Walter luôn giúp cô trải giường, và cô chẳng bận tâm điều đó, được gặp anh khiến cô cảm thấy hạnh phúc — cùng với danh tiếng, tiền tài, các mối quan hệ, quyền lực của anh ở thế giới bên ngoài (và cả chức vụ cao hiện tại) — thân xác cô, một thực thể sinh học không hề phức tạp nhưng lại mang đến vẻ đẹp mỹ cảm, có thể kéo anh xuống mức bình đẳng hoàn toàn với cô. Thứ tài năng hóa giải sự ngạo mạn trần tục của anh, khiến anh thu mình lại về với bản ngã mộc mạc, nguyên thủy nhất (mà cô cho là phần tốt đẹp nhất ở anh), chính là món bảo bối bí mật của cô, đồng thời cũng là mong ước lớn nhất của cô.
Rời khỏi cửa sổ, cô bước đến trước bàn trang điểm, muốn tìm trong chiếc hộp đựng trang sức cũ kỹ, rẻ tiền nào đó một món đồ có thể làm điểm nhấn cho bản thân. Cô thử phối hợp vài đôi bông tai và vài chiếc dây chuyền để chọn ra một bộ phù hợp. Điều khó hiểu là, những người bạn trai của cô thường tặng cô những cuốn sách nghệ thuật dày cộp, hoặc những chiếc ly uống rượu nhỏ (cô thực sự có một lý thuyết tin rằng chúng có tồn tại nhưng lại không muốn chấp nhận: các vị hôn phu của cô đều cảm thấy trang sức là một sự lãng phí đối với cô) — cuối cùng, cô quyết định đeo bộ bông tai và dây chuyền ngọc trai đơn giản nhất, bởi vì nó ít gây chú ý nhất.
Harriet Briska không thèm nhìn vào chiếc gương phía trên bàn trang điểm để xem bộ trang sức này có làm tôn lên hình ảnh của mình hay không, cô thừa hiểu việc đó chẳng mang lại mấy tác dụng, và cô không muốn phải nhìn thấy sự bất cẩn của tạo hóa thêm một lần nào nữa. Nếu nói về lòng tự trọng, thì thực ra cô có chứ, nhưng thứ nâng đỡ lòng tự trọng của cô lại không phải là dung mạo hay vóc dáng của cô. Giống như một kẻ tàn tật bẩm sinh, Harriet từ lâu đã hiểu rõ rằng, tướng mạo của cô tự nhiên đã cách ly cô khỏi một loại viên mãn nào đó của cuộc đời.
Lúc này, cô phá vỡ quy tắc, đưa mắt nhìn vào hình ảnh trong gương, chỉ để chắc chắn rằng cách ăn vận của mình trông không đến nỗi quê mùa. Gương mặt quen thuộc trong gương — một chiếc mặt nạ, cô thầm gọi khuôn mặt ấy như vậy, bởi vì nó che đi vẻ đẹp và sự lương thiện thực sự của cô — cũng đang nghiêm nghị chắp tay nhìn cô. Giá như sự bẽ bàng chỉ đơn giản là vì cô trông bình thường, hay không đẹp cho lắm, hoặc không nổi bật, thì mọi chuyện đã không đến mức tệ hại thế này. Hoàn toàn chẳng phải chuyện bẽ bàng gì cả. 26 năm nay, Harriet chưa từng có một khoảnh khắc nào không phải sống chung với sự thật phũ phàng rằng cô cực kỳ kém sắc. Ngoại hình của cô giống như một tín hiệu đèn đỏ gạt bỏ đàn ông khỏi con đường của cô. Ngay cả phần đẹp nhất trên ngoại hình của cô, chính là mái tóc, thì ở bất kỳ người phụ nữ xinh đẹp nào, nó cũng là thứ xấu xí nhất. Tóc cô dài ngang vai, lòa xòa như sợi thừng, màu sắc hệt như một con chuột đồng màu nâu đỏ, lại thẳng đơ một cách chẳng còn gì để nói. Cô từng muốn đi làm tóc, cắt phăng phần mái phía trước. Kể từ dạo đó, mọi thứ chỉ càng tệ hơn. Đôi mắt của cô quá nhỏ, lại nằm sát nhau. Chiếc mũi hếch lên quá đà khiến khó mà gọi là đẹp được. Miệng cô trông như một vết sẹo lớn, môi trên gần như không thấy đâu, trong khi môi dưới lại quá dày. Cằm cô vừa dài vừa nhọn. Cô vẫn nghĩ, người ta hay bảo cô có bộ xương của một con ngựa cái giống Bỉ.
Các bộ phận khác trên cơ thể cô cũng chẳng hề vớt vát được chút nào cho cô. Cổ cô giống như một đoạn ống chì; vai cô trông như đang độn chiếc đệm vai chơi bóng bầu dục; ngực cô thì chẳng có nổi sự đầy đặn như chiếc cúp ngực cỡ “A”; hông và chân cô to bè hệt như một cỗ ngựa nặng ký vùng Perche chuyên đi thi giải, hoặc ít nhất trong mắt cô là vậy. Tóm lại, đúng như Harriet từng nghĩ, khi Chúa tạo ra phụ nữ, lúc tạo đến Harriet Briska, ngài đã dùng những thứ nguyên liệu thừa thãi.
Harriet buông một tiếng thở dài đầy cam chịu trước số phận — sự khôn ngoan và tính thực tế khiến cô chưa bao giờ phải phiền muộn — cô quay người khỏi bàn trang điểm, tìm một điếu thuốc lá đầu lọc, châm lửa bằng chiếc bật lửa mạ bạc hình con tàu buôn cổ Tây Ban Nha (do Walter tặng), rồi đặt chiếc bật lửa trở lại cuốn sách nghệ thuật dày và sáng bóng kia (cũng do Walter tặng). Còn đúng 12 phút chẳng có việc gì làm, cũng chẳng có cách nào để giết thời gian, cô bèn quyết định nhẩm đếm những chuyện đắc ý để qua loa cho xong.
Đi đi lại lại trong phòng, rít thuốc liên tục, cô tin chắc rằng với tư cách là một con vịt xấu xí, cô làm không đến nỗi tồi. Tất nhiên, dựa trên những nghiên cứu cá nhân của họ, một nhúm quý ông bảnh chọn ở đây sẽ đồng thanh xác nhận rằng, chẳng có người phụ nữ nào trên giường lại tuyệt vời hơn Harriet Briska.
Tạ ơn trời đất vì vẫn có được niềm may mắn này, cô nghĩ, điều đáng buồn là các chị em của cô đều sở hữu dung mạo tầm thường, và những khuyết điểm bên dưới thắt lưng thì rõ mồn một.
Thế nhưng, sự an ủi mà lợi thế lớn lao ấy mang lại cho cô lại bị phủ một lớp mây mù bởi những sự thật tàn khốc của cuộc sống. Trên thị trường thời đại của cô, đàn ông mua bề ngoài xinh đẹp. Những gì nằm bên trong lớp vỏ bọc ấy ra sao chẳng hề quan trọng, ít nhất là lúc ban đầu. Cả một thế hệ đàn ông bị thao túng bởi thơ ca, tiểu thuyết lãng mạn, phát thanh, truyền hình, điện ảnh, biển quảng cáo, rạp hát, cùng với các quảng cáo trên tạp chí và báo chí, để rồi tin rằng nếu một cô gái có khuôn mặt đáng yêu, ngực đầy đặn, vóc dáng tao nhã, phong thái mang chút vẻ gợi tình (môi hé mở, giọng khàn khàn, dáng đi uyển chuyển), thì cô ta chắc chắn là bạn tình trên giường, là người bạn đời tuyệt vời nhất trên đời. Khi một cô gái sở hữu vẻ bề ngoài ấy, cô ta có quyền lựa chọn người mua — những kẻ đẹp mã, cao quý, giàu có, có tên tuổi. Những người sở hữu vẻ bề ngoài hạng hai sẽ thu hút ít người mua hơn, cứ thế xoay vòng đi xuống, cho đến tận vị trí cô độc, vô danh tiểu tốt nơi Harriet Briska đang đứng.
Sự ngu ngốc này tuy không làm cô đau khổ, nhưng đôi khi lại khiến cô muốn cất cao giọng hét thẳng vào mặt những gã đàn ông ngốc nghếch ấy. Liệu họ có thể nhìn ra, nhận biết và thấu hiểu rằng sắc đẹp chỉ là một lớp da bên ngoài hay không? Liệu họ có thường xuyên nhận ra rằng ẩn giấu bên dưới lớp vỏ bọc xinh đẹp ấy là sự ích kỷ, lạnh lùng và bệnh tâm thần hay không? Liệu họ có thấy được một phẩm chất khác sẽ giúp cho hạnh phúc hôn nhân trong phòng khách, nhà bếp và phòng ngủ được bảo đảm hơn không? Không, họ không nhìn thấy, họ hoàn toàn chẳng thèm nhìn ngó tới, và đó chính là cây thập giá nặng nề của Harriet.
Đàn ông đánh đồng chiếc mặt nạ của cô — sự kém thu hút — với một cuộc hôn nhân kém thu hút và một đời sống tình dục tẻ nhạt; họ rất ít khi cho cô cơ hội để chứng minh rằng bản thân cô có giá trị hơn thế; và dẫu thi thoảng họ có cho cô cơ hội đi chăng nữa, thì vẫn là chưa đủ. Bởi vì, trong xã hội này, việc cưới một mỹ nhân, dẫu có biết thừa đó là một đôi uyên ương lệch pha thì vẫn là đúng đắn, đó là một phần biểu trưng cho sự thành công công khai. Ngược lại, việc cưới một người phụ nữ xấu xí, dẫu rành rành ra đó là một lương duyên trời định thì vẫn là sai lầm, bởi vì đó là một phần biểu trưng cho sự thất bại. Đàn ông là lũ ngốc, còn cuộc đời thì xuẩn ngốc, thế nhưng cả hai cũng từng ban tặng không ít.
Cô sinh ra tại Dayton, bang Ohio, bố mẹ cô là những người lao động gốc Litva thuộc tầng lớp trung lưu hạ đẳng, rất mực đoan trang, giản dị, bôn ba năm tháng và đáng yêu. Khi còn nhỏ, cô chẳng hề biết bản thân mình có điểm gì khác biệt, bởi vì cô đã nhận được sự quan tâm và tán dương quá mức từ bố mẹ cùng đông đảo họ hàng. Cho đến tuổi dậy thì, cô vẫn luôn cảm thấy mình là một người quan trọng, đặc biệt và được yêu thương.
Tình trạng ấy bắt đầu thay đổi khi người bố làm việc tại một công ty in ấn của cô được thăng chức và chuyển đến Cleveland, còn cô cũng bước chân vào trường Trung học Cleveland Heights ở đó; cô bắt đầu cảm nhận được bức tường ngăn cách giữa mình và đời sống xã hội bình thường. Đó chính là chiếc mặt nạ, sự nhạt nhòa của cô đã đạt đến mức cực điểm. Cô giống như một cây xương rồng lạc giữa bụi hoa sơn trà. Cô có không ít bạn bè, nhưng tất cả đều cùng giới tính với cô. Các cô gái thích cô vì một động cơ vô thức, khi đặt lên bàn cân so sánh với dung mạo của họ, cô chính là tấm phông nền hoàn hảo nhất. Học kỳ đầu tiên, các nam sinh thích cô, ở hành lang, trong các hoạt động của trường, cũng y như cách họ thích những cậu con trai khác. Để khai thác và duy trì sự chấp nhận có hạn ấy của họ, trong những học kỳ tiếp theo, cô càng tỏ ra giống một cô nàng tomboy hơn.
Theo thời gian tuổi tác, hành vi tomboy bắt đầu khiến cô cảm thấy phiền muộn. Bọn con trai giờ đây đều đã lớn, không còn thích những đứa con trai khác nữa, họ muốn có con gái. Harriet hồi tưởng lại quãng thời gian thiếu nữ, quả thực chẳng dám nhìn lại, bởi vì cô không thể cho bọn con trai những gì mà những cô gái khác có thể cho, nên cô quyết định cho họ nhiều hơn một chút. Những người bạn nam của cô từng người một đều bảo thủ y như bố mẹ họ, bảo thủ trong mọi ngóc ngách, những nam sinh Cleveland từ sớm đã bị uốn nắn thành những kẻ biết tuân thủ quy củ. Hôn môi thì được, dẫu là hôn kiểu Pháp đi chăng nữa cũng không sao; âu yếm cũng có thể khá thân mật, nhưng chỉ giới hạn từ eo trở lên. Nhảy múa có thể dán sát người vào nhau, sự tiếp xúc và chuyển động tạo ra sự kích thích đáng kể, nhưng mọi thứ chỉ dừng lại ở đó. Harriet, vì những khiếm khuyết sinh lý và sự buông thả có chủ ý của bản thân, vì nhu cầu và tính cách hướng ngoại, nhưng chủ yếu là vì những khiếm khuyết sinh lý — để khỏa lấp cái khuyết điểm bỏ công mười thu về một — là người đầu tiên phá vỡ thứ quy tắc bất thành văn ấy.
Một buổi chiều nọ, sau giờ tan học, tại những hàng ghế tối tăm ở tầng trên của hội trường trống trải, Harriet đã cho phép một nam sinh thông minh mặt đầy mụn trứng cá, mới chuyển đến từ trường Đại học Heights, luồn tay vào dưới váy cô. Lúc ấy cô không hề phản kháng, chỉ nhắm nghi mắt lẩm bẩm từ "không" trong khi cậu ta gần như phát cuồng vì chiến thắng đến mức luống cuống cả tay chân. Thế nhưng phản ứng run rẩy của cô trước những động tác của cậu ta đã khiến cậu ta vô cùng kích thích và tiếp tục làm tới, còn cô thì đáp lại bằng sự dịu dàng. Cuộc giao dịch ngắn ngủi, cuồng nhiệt và thiếu lý trí ấy đã mang lại cho Harriet không ít khoái cảm. Nó cũng chính thức trao cho cô một vị trí với tư cách là một cô gái.
Đến năm cuối trung học, Harriet đã tiến triển đến hình thức kích thích lẫn nhau ở mức độ cao nhất, các nam sinh coi cô là một thứ đồ chơi; trong khi các nữ sinh lại cho rằng cô là kẻ đê tiện. Còn Harriet thì cảm thấy mãn nguyện vì những kẻ mà cô coi là người yêu đã chấp nhận mình. Hơn nữa, trong những kỹ năng ứng phó của mình — cô không phải lúc nào cũng làm chuyện đó; cô có tiêu chuẩn của mình — cô đã tìm thấy sự giải tỏa cho bản tính nhiệt tình, thích giao thiệp và ưa yêu đương của mình, cô nhận ra đó là một nguồn suối phong phú đầy thỏa mãn. Trong những cuộc lăng nhăng tựa trò chơi trẻ con ấy, đôi bên đều chưa có kinh nghiệm, thế nên chẳng có ai đưa ra những đòi hỏi sâu xa với cô. Sự không kháng cự của cô chính là cao trào, và thế là đủ. Các bạn tình của cô cũng chẳng thể ngờ được những góc khuất ẩn giấu bên trong cô. Tóm lại, năm rưỡi cuối cùng của Harriet ở trường trung học đã được lưu giữ một cách trân trọng trong ký ức của cô. Chỉ có một câu hỏi làm cô hoang mang tột độ. Ngoại trừ những lúc đắm chìm trong hương thơm tình ái của mình ở ban công, ở những hàng ghế sau hay giữa lùm cây, thì vào những đêm dạ hội cuối cấp và dạ hội tốt nghiệp, cô đều thui thủi ngồi một mình ở nhà. Vào mỗi đêm tụ họp công cộng, đám tùy tùng nam giới tràn trề sinh lực ấy lại hoàn toàn vứt xỏ cô lại phía sau.
Sự ruồng bỏ mang tính tập thể ấy chỉ trở nên rõ rệt hơn trong hai năm sau đó. Khi ấy, Harriet đang theo học tại Bệnh viện Bellevue ở New York để trở thành một y tá được cấp chứng chỉ. Việc chọn làm y tá cũng tự nhiên như việc lựa chọn giữa sự sống và cái chết vậy. Bản tính nhiệt tình, đồng cảm của cô cần một lối thoát nào đó; cô cần một nghề nghiệp đáng trân trọng, nơi việc trao đi lòng tốt sẽ được chào đón và khích lệ; cần một lối sống mà ở đó chiếc mặt nạ không còn che lấp đi vẻ đẹp nội tâm thực sự của cô.
Khi 500 bạn học nội trú tại Bellevue của cô thi nhau oán thán và càu nhàu dưới sức ép tàn khốc của công việc đào tạo, thì Harriet lại đắm chìm trong niềm yêu thích đối với nó. Cô tự hào về bộ đồng phục sọc trắng xanh cùng đôi giày tất đen của mình, và việc trong suốt thời gian học chuyên ngành này, mỗi năm còn có thể kiếm được 240 đô-la, cũng khiến cô vô cùng vui sướng. Cô nhanh chóng cảm thấy quen thuộc và gắn bó với phòng ăn nhìn xuống sông Đông, cửa hàng đồ ăn nhanh hay lui tới, và những con đường uốn lượn mà cô và các bạn nữ thường lê bóng. Cô mong ngóng buổi lễ trao mũ truyền thống, nơi ánh nếnập bùng chắc chắn sẽ đẩy năm đào tạo đầu tiên của cô lên đến cao trào tột đỉnh. Cô ganh tỵ với các học viên năm cuối, những người có thể đi giày tất trắng, bước từ những trang sách khô khan thẳng vào phòng phẫu thuật và phòng bệnh.
Chỉ có những ngày cuối tuần là đáng buồn, các bạn học khác đều có hẹn hò, còn Harriet không chỉ độc chiếm căn phòng của riêng mình mà còn gần như chiếm trọn cả ký túc xá. Sự cô độc của cô kéo dài nửa năm thì chấm dứt, khi một học viên năm cuối giọng khàn khàn, tương lai sẽ là một y tá nam, bị cận thị, (nghe nói) có ý đồ bất chính với mọi phụ nữ, phát hiện ra cô ngồi thui thủi một mình trong phòng học trống không. Cậu ta hờ hững hôn lên cổ cô, còn cô thì lao ngay vào vòng tay cậu ta, phản ứng mãnh liệt đến mức khiến anh chàng y tá nam này tiến thêm một bước, mời cô đến căn hộ của một người bạn gần đó để thử xem cô có phải chỉ là một kẻ nữa muốn đùa giỡn với cậu ta hay không. Đối với cậu ta, gương mặt của cô không hẳn là quá khó coi, thậm chí trước khi tắt đèn, cậu ta đã hiểu ra rằng cô không phải kiểu người để cậu ta chơi đùa. Chẳng mấy chốc, cậu ta còn hiểu ra nhiều hơn thế. Đêm hôm ấy, đêm đó và rạng sáng ngày hôm sau, cậu ta đã được dẫn dắt vào những tầng sâu mới mẻ và chưa từng biết đến trong cõi bồng lai tiên cảnh. Cậu ta không biết Harriet có phải là kho tàng kỹ thuật ân ái xưa nay chưa từng có hay không, cậu ta chỉ biết rằng trong vô số những cuộc phiêu lưu kỳ quái ngớ ngẩn của mình, chưa từng có ai hiến dâng một cách trọn vẹn không giữ lại chút gì như thế. Sau đêm đầu tiên, theo bản tính của mình, cậu ta lẽ ra đã nên đi rao tin khắp Bellevue và thế giới rộng lớn ngoài kia về phát hiện kỳ diệu của mình. Thế nhưng, dẫu rất khó khăn, cậu ta vẫn ngậm chặt miệng. Cậu ta muốn độc chiếm thứ tài năng kỳ lạ này. Mọi chuyện diễn ra vô cùng suôn sẻ và kéo dài suốt 4 tháng. Rốt cuộc, Harriet bắt đầu tin rằng cô đã tìm được tri kỷ trọn đời. Khi thời điểm tốt nghiệp của cậu ta đến gần, cô đã nói với cậu về “tương lai của hai người”. Thế nhưng, cậu ta tìm đến cô ngày càng thưa dần, và sau khi tốt nghiệp thì biến mất tăm biến mất tích.
Món quà thừa kế mà nam y tá ấy để lại cho cô mang tính hai mặt: một là, trước khi chia tay, cậu ta đã đi rêu rao với một nửa số đàn ông ở Bellevue về việc cậu ta dũng mãnh thế nào và cô có kỹ nghệ điêu luyện ra sao; hai là, cậu ta kể lại với một người bạn, người bạn này lại kể cho một người bạn khác của anh ta, và gã này, trong lúc bị cô đẩy tay ra vì tức giận, đã đem câu chuyện đó thuật lại cho cô nghe nguyên văn thế này: “Cô ta đúng là một em hàng tuyệt đỉnh, một cực phẩm khó tìm trên đời, những con đẻ khác không làm nổi trò gì thì cô ta làm tất, nhưng mẹ kiếp, quỷ tha ma bắt, sao mày có thể cưới và sống chung đầu gối tay ấp với một đứa con gái mà ngoài mấy buổi tiệc hóa trang ra, phải trùm bao tải lên đầu mới dám mang ra đường cơ chứ.”
Harriet không hề phát điên, cô điềm tĩnh và thực tế đón nhận “lời khen ngợi” ấy của anh ta, nhưng nội tâm thì chịu tổn thương nặng nề. Kể từ dạo đó, hầu như tất cả các y tá nam, bác sĩ thực tập, nhân viên nam, thậm chí cả một vài giảng viên và bác sĩ đều tranh nhau làm việc cùng cô. Cô hoài nghi tất cả, thu mình lại, và trong 3 năm ở Bellevue, sau đó có thêm 5 lần cô tin rằng những kẻ theo đuổi mình đang tìm kiếm bản chất thực sự của cô, để rồi hoàn toàn phó thác bản thân cho họ — mỗi khi cô dâng hiến thân xác, trong lòng luôn ôm ấp sự hy vọng, hy vọng. Ngoại trừ người đã thiệt mạng trong một vụ tai nạn xe hơi (cô vốn chẳng biết liệu anh ta có cầu hôn mình hay không), biểu hiện của những người khác đều y như một khuôn đúc. Họ dành cho cô những lời đường mật và những cuộc mây mưa, còn cô thì tận hưởng niềm vui thể xác cùng những lời ca tụng của họ. Họ luôn đi cùng cô đến những nơi tăm tối và đông đúc như Radio City hay Công viên Quảng trường Madison, những nhà hàng xa xôi và hộp đêm ngầm, chứ chưa bao giờ đưa cô đến những buổi biểu diễn thời trang, dạ tiệc gia đình, tụ họp họ hàng hay những bữa ăn quan trọng. Khi Harriet cẩn trọng đưa ra những yêu cầu như vậy với họ, họ liền biến mất không sủi tăm. Đối với họ, cô gọi họ là “những đối tác thưởng thức của tôi”; còn đối với chính mình, cô chỉ mỉm cười cay đắng và đối đãi một cách phớt lờ.
Khi Harriet tốt nghiệp Bellevue với tư cách là một y tá được cấp chứng chỉ, thứ cô mang theo bên mình, ngoài chiếc mũ hình tròn có nếp gấp, được tinh bột giặt ủi phẳng phiu của trường Rensselaer ra, còn có cả một tấm lòng son sắt với nghề nghiệp mới, một bản chất luôn tốt đẹp và sự thấu hiểu thực tế đến mức đành chịu trước thái độ của đàn ông đối với cô (những giấc mơ vỡ vụn tội nghiệp, e rằng cứ phải kéo dài cho đến tận lúc ngó lơ thế gian).
Công việc đầu tiên của cô là ở một phòng khám tại Nashville, lần thứ hai là tại một phòng khám có mức lương cao hơn ở Seattle, và lần cuối cùng, vào 6 tháng trước, được tuyển dụng bởi bệnh viện lớn ở San Francisco này. Ở Nashville và Seattle, cô sống trong một thế giới không có đàn ông. Chính gương mặt đã dọa họ chạy mất dép, còn danh tiếng của cô thì chẳng giúp ích gì mấy. Ở San Francisco, hầu như ngay lập tức, đời sống xã hội của cô đã bước sang một bước ngoặt.
Trong một ca cấp cứu bệnh tim phức tạp, cô đã làm việc đến tận đêm khuya, lúc bước ra khỏi bàn phẫu thuật thì đã kiệt sức, vị bác sĩ gây mê trẻ tuổi đi bên trái cô cũng mệt lả người. Sau khi rửa tay và thay đồ xong, anh ta đề nghị đi uống một tách cà phê. Cả hai đều rất cần, nhưng trời đã quá muộn, các quán cà phê nhỏ đều không mở cửa. Nơi này gần chỗ ở của cô, thế nên cô đã mời vị bác sĩ gây mê về phòng mình uống cà phê. Vừa uống cà phê vừa trò chuyện phiếm, cô được biết về cuộc sống của chàng trai trẻ có bề ngoài khó coi và tính tình hướng ngoại này — bố mẹ mất sớm, những người giám hộ họ hàng đáng sợ, những năm tháng cực khổ vất vả khi đi học, một đứa con tinh thần bất ổn sinh ra từ cuộc hôn nhân chưa chín muồi, và người vợ đã bỏ trốn cùng ông chủ của cô ta. San Francisco là một khởi đầu mới đối với anh ta, cũng giống như đối với cô vậy, trái tim cô hướng về chàng trai trẻ nhút nhát này. Cô không thể để anh ta về nhà muộn màng trong tình trạng kiệt sức như thế, nhưng căn phòng chỉ có một chiếc giường, một chiếc giường xếp, thế là họ đành ngủ chung giường.
Trải nghiệm đêm hôm ấy đã hé lộ cho anh ta một thế giới chưa từng được biết đến, và sau hai lần trải nghiệm nữa, anh ta nhận ra rằng anh ta không hợp với Harriet, và cô cũng không hợp với anh ta. Anh ta là kiểu người không tin vào vận may, đồng thời lo lắng rằng bản thân không gánh vác nổi thứ khoái lạc thể xác nhường ấy. Hơn nữa, năng lực của cô không mang lại cho anh ta sự tự tin, ngược lại còn khiến anh ta sinh ra cảm giác mình là kẻ khiếm khuyết, và vì điều đó mà thầm buồn bã. Mặc dù vậy, anh ta đáng lẽ nên tiếp tục duy trì mối quan hệ với cô — liệu pháp mỗi tuần một lần này là thứ không thể cưỡng lại, gần như lấn át cả sự tự vấn nội tâm — thế nhưng, anh ta nhìn thấy cơ hội lợi dụng Harriet để củng cố sự an toàn cho bản thân, mà sự an toàn đối với anh ta dẫu ở hoàn cảnh nào đi nữa cũng là điều vô cùng quan trọng.
Là một gương mặt mới tại bệnh viện, vị bác sĩ gây mê này cần các bác sĩ tuyến trên thuê anh ta cho những bệnh nhân mang lại lợi nhuận cho họ. Anh ta từng gặp bác sĩ Walter Zegner, nhưng vị bác sĩ này cho đến nay vẫn chưa giới thiệu anh ta với ai. Nếu Zegner bắt đầu lên tiếng thay cho anh ta, anh ta tin chắc rằng tương lai của mình tại bệnh viện này đã được đóng đinh chắc chắn. Điều khiến anh ta nhớ đến Zegner không chỉ là uy tín của Zegner với tư cách là một bác sĩ, mà còn là tiếng tăm của ông ta như một kẻ đào hoa sát gái. Thế là, anh chàng này liền mai phục chờ thời cơ, trong một lần Harriet mặc bộ đồng phục trắng phẳng phiu bước qua, anh ta chỉ cho Zegner thấy, đồng thời dốc hết sức mình để miêu tả về tài năng của cô. Lắng nghe lời miêu tả của anh ta, đôi mắt Zegner dõi theo vóc dáng kém sắc của Harriet, cau mày đầy hoài nghi, trông có vẻ vẫn thờ ơ trước những lời thêu dệt của gã kẻ cả này.
Một tuần sau, kết quả từ việc bác sĩ Zegner cất nhắc, vị bác sĩ gây mê nọ đã lọt vào top đầu trong một loạt các ca phẫu thuật có thù lao hậu hĩnh. Thế là, anh ta hiểu rằng mình đã ghi điểm, Zegner cũng ghi điểm, và từ đó vị bác sĩ gây mê không bao giờ bén mảng đến chỗ Harriet nữa.
Harriet biết được tất cả những điều này từ chính miệng Walter Zegner. Một buổi tối nọ, khi cả hai đã kiệt quệ sức lực, nằm trên chiếc giường trong phòng khách của cô, chính miệng anh đã kể lại chuyện đó. Thế mà cô lại chẳng hề để tâm. Đó là một cuộc giao dịch công bằng đối với cả đôi bên, huống chi hiện tại cô lại đang bước vào niềm hy vọng tuyệt vời nhất.
Một buổi chiều mười tuần trước, Harriet đang uống cà phê và ăn bánh nướng xốp ở căn tin dành cho nhân viên bệnh viện. Ghế ở cả hai bên cô đều trống. Đột nhiên, một chiếc ghế có người ngồi xuống, người đó không ai khác chính là vị bác sĩ Zegner đáng kính. Họ bắt đầu trò chuyện một cách thoải mái, ông tỏ ra rất có hứng thú, thậm chí còn vô cùng quyến rũ. Nhắc đến lĩnh vực nghiên cứu lão khoa mà ông đang theo đuổi, cô đưa ra vài câu hỏi ngây ngô khiến ông vui thích như một đứa trẻ, trong khi sự hiểu biết đầy đủ của cô về mảng này lại giúp cô đặt ra những câu hỏi giả vờ một cách vừa vặn chuẩn xác. Ông giải thích rằng mình buộc phải rời đi vội vàng, nhưng rất khao khát có cơ hội tiếp tục trò chuyện với cô. Ông hỏi khi nào cô rảnh, tối nay có rảnh không? Cô gần như á khẩu, đáp rằng mình rảnh. Ông đồng ý đợi cô ở khu vực đậu xe của bác sĩ.
Cô xuất hiện đúng giờ, run rẩy vì phấn khích, ông đỡ cô ngồi vào chiếc xe Cadillac của mình. Ông lái xe đưa cô ra ngoại ô để ăn tối tại một nhà hàng theo phong cách Bohemia. Họ thoải mái ăn uống, trò chuyện rôm rả, rồi lại uống tiếp. Ông đưa cô về tận nơi ở, cô cảm thấy ngại ngùng vì chỗ ở tồi tàn của mình nên không dám mời ông lên phòng. Tự ông ngỏ ý muốn lên, bảo là trước khi ngủ cần thêm một ly nữa. Vừa bước vào phòng cô, cả hai lại tiếp tục uống, lời nói của ông bớt đi vẻ học thuật, tăng thêm nét tình người và sự mơn trớn. Cuối cùng, ông bước tới hôn chào tạm biệt, cô có cảm giác như mình đang được hôn bởi bác sĩ Martin Arrowsmith hoặc bác sĩ Philip Carey — những hình tượng trong trí tưởng tượng của cô, cô tan chảy và quyến luyến không rời. Rõ ràng, ông chẳng hề muốn rời đi, và ông đã ở lại. Trải qua một đêm ngon giấc cùng cô trên chiếc chiếc giường bừa bộn ban ngày chưa kịp dọn. Trong tất cả những lần hoan ái với đàn ông, chưa bao giờ cô dốc cạn sức lực đến thế, và từ tiếng thở dốc cùng những lời thì thầm lộn xộn mang tính buông thả của ông, cô hiểu rằng trong đời mình chưa bao giờ ông cảm thấy mãn nguyện đến trọn vẹn nhường này.
Lúc rạng sáng ông rời đi, cô đoán rằng ông sẽ quay lại, và cô đã đoán không sai. Ông tìm đến cô một tuần 3 lần, 4 lần, 5 lần, đến chốn ẩn náu của họ, cùng uống rượu, ăn tối, khiêu vũ, rồi lại trở về căn phòng của cô, cuồng hoang suốt mấy tiếng đồng hồ. Cô kích động, cô tự hào. Trong bệnh viện, cô muốn cất cao tiếng nói tuyên bố chiến thắng của mình với từng y tá, từng bác sĩ, và cả từng bệnh nhân nữa. Thế nhưng cô đã giữ kín bí mật tuyệt diệu của mình. Vị thế của anh không thể bị đe dọa. Điều khiến cô bất an nhất là tình cờ nghe được đám y tá cùng các bác sĩ thực tập lan truyền những lời đồn nhảm về các bác sĩ, liên quan đến những bóng hồng quanh Walter, như tin đồn với những người phụ nữ thuộc tầng lớp thượng lưu, những nữ thừa kế, và tất cả các nhân vật tai mặt ở Nob Hill. Mỗi khi nghe thấy những điều đó, cô lại chỉ muốn hét to lên: Lũ ngốc các người, những tin đồn tự vạch áo cho người xem lưng ấy, các người có biết buổi tối anh ấy ở đâu không? Ở cùng tôi đấy! Chuẩn xác một trăm phần trăm, ở cùng tôi, lõa thể ở cùng tôi, âu yếm tôi, yêu tôi y như cách tôi yêu anh ấy, tôi, Harriet Briska.
Những vết sẹo cũ vẫn chưa lành hẳn, cô trước giờ vẫn không dám nuôi mộng tưởng về một niềm hy vọng trăm năm có một. Thế mà đến trưa ngày hôm qua, cô lần đầu tiên cảm nhận được rằng, niềm tin của cô dành cho Walter đã là thứ không thể thay đổi nổi. Cũng là lần đầu tiên, một người đàn ông nhìn thấu qua lớp vỏ bề ngoài để thấy trọn vẹn vẻ đẹp của cô.
Sự việc xảy ra vào trưa ngày hôm qua bắt nguồn từ một thông báo bùng nổ, bác sĩ Walter Zegner được bổ nhiệm làm Trưởng khoa nhân sự y tế của bệnh viện. Cô nghe thấy mọi người xì xào bàn tán, nào là ảnh hưởng từ gia đình Fleischer, mụ góa phụ già đó, cô con gái út, vân vân và mây mây, cô nghe xong mà suýt ngất đi. Thế nhưng, sự thật vẫn hoàn toàn là sự thật. Walter là nhà quản lý hành chính cao nhất của bệnh viện, chỉ sau một giấc ngủ dậy, ông sẽ được chính thức tuyên bố là một trong những bác sĩ quan trọng nhất phương Tây. Cô không cho phép bản thân tơ tưởng xem điều này có ý nghĩa gì đối với mối quan hệ của họ, đây là một bài kiểm tra, và cô đang chờ đợi.
Vào lúc giữa trưa, cô đã nhận được câu trả lời. Ông đã đến, đang ở trong hành lang, bị vây quanh và đón nhận những lời chúc mừng. Cô bước ngang qua, giả vờ như có việc bận, và nghe thấy giọng nói của anh. — “Y tá — cô Briska — không đến chúc mừng tôi sao? Tôi là sếp mới của cô rồi đấy.” Trái tim cô nhảyọt lên tận cổ họng. Giữa chốn đông người, cô nghiêm nghị nắm lấy bàn tay anh, lắc mạnh, nghẹn ngào không thốt nên lời. Lúc này, anh nắm lấy cánh tay cô. — “Nói chuyện công việc chút nào — tôi muốn hỏi cô tình hình của bệnh nhân trong phòng —” Anh kéo cô ra khỏi đám đông, mỉm cười hạ thấp giọng nói: “Cuộc hẹn của chúng ta tối mai vẫn tiếp tục chứ?” Cô gật đầu. Anh nói: “Được, tôi muốn mở tiệc ăn mừng, chúng ta sẽ đi đánh chén một trận, đi hóng gió, và còn — thôi, gặp lại sau — bác sĩ Delgado tới kìa.”
Đó là trưa ngày hôm qua, khoảng thời gian tuyệt đẹp nhất của cô, thế mà giờ phút này đây chỉ còn kém 3 phút nữa là đến 8 giờ, và 180 giây nữa thôi là cô sẽ được ở trong vòng tay của Walter rồi. Nghĩ đến điều đó, nghĩ đến tương lai phía trước, cô cảm thấy hơi choáng váng.
Cô cố tình không đi lại và hút thuốc nữa, thay vào đó là ngồi lên thành của một chiếc ghế bành, ngồi không thoải mái mới khiến phần eo lưng thẳng đơ được. Cô đứng dậy, vươn vai duỗi người, phủi phủi chiếc váy dạ hội, rồi quyết định pha hai ly whiskey Scotland thật lớn với đá, một ly cho mình, một ly cho Walter (để thể hiện rằng cô sẽ là một người vợ tốt biết nhường nào, một người vợ tuyệt vời ra sao).
Cô lấy xuống hai chiếc ly kiểu cũ, lấy một ít đá từ chiếc tủ lạnh mini của mình, rồi chậm rãi, cẩn thận rót rượu lên những viên đá trong ly. Đặt ly của Walter lên chiếc bàn nhỏ bên cạnh chiếc ghế bành, cô đứng thưởng thức ly whiskey của riêng mình.
Còn 1 phút nữa là đến 8 giờ, tiếng gõ cửa vang lên, cô vui vẻ ra mở cửa đón Walter.
Cô giật phăng cửa ra, ngạc nhiên khi phát hiện ra kẻ gọi cửa hoàn toàn không phải là Walter. Người đàn ông đứng ở cửa trông giống người Latinh, vóc dáng trung bình, thon thả, cô nhận ra đó là Herb Delgado, một bác sĩ nội khoa mà Walter đôi khi có việc ra ngoài thường hay gọi để thay thế ca trực của mình. Sau một thoáng ngỡ ngàng, phản ứng đầu tiên của cô là sự ghê tởm. Các y tá trong bệnh viện không thích bác sĩ Delgado. Anh ta coi thường họ, cứ như thể họ thuộc về một giống loài cấp dưới vậy.
“Buổi tối tốt lành, cô Briska,” anh ta cất giọng nhẹ nhàng, tựa như được mời mà đến. “Làm cô ngạc nhiên à?”
“Tôi — tôi cứ nghĩ là Wal — bác sĩ Zegner.”
“Đúng, tôi hiểu chứ. Nhưng giống như câu nói người ta hay truyền miệng ở cửa quán rượu lậu ấy — Walter phái tôi tới đấy.”
“Anh ấy phái anh tới?”
“Đúng vậy. Tôi vào trong một lát được chứ?” Anh ta chẳng đợi cô đồng ý, lướt qua người cô bước thẳng vào phòng, tự tay cởi cúc áo khoác.
Cô đóng cửa lại, gương mặt đầy vẻ hoài nghi. “Anh ấy đang ở đâu? Anh ấy nói sẽ đến đây cơ mà.”
“Cậu ấy không tới được đâu,” Delgado điềm đạm nói. “’Có việc không thể chối từ’, nguyên văn là thế.” Anh ta cười cười bổ sung thêm, “Cậu ấy đột ngột bị giữ chân lại nên bảo tôi qua thông báo với cô.”
“Anh ấy có thể gọi điện thoại cơ mà.”
“Và tiện thể thay thế vị trí của cậu ấy vào tối nay luôn.”
“Ơ.” Harriet vẫn có chút khó hiểu, nhưng dường như cảm thấy đây là sự sắp xếp chu đáo của Walter. “Lát nữa anh ấy sẽ đến tìm chúng ta chứ?”
“E là không đâu, Harriet.” Cô tự hỏi tại sao “cô Briska” lại biến thành “Harriet”, và không biết từ lúc nào mà “Harriet” rồi đây lại sẽ biến thành “cô y tá”. Bác sĩ Delgado bĩu môi, nói tiếp. “Gia đình Fisher quyết định tổ chức một buổi tiệc mừng tạm thời — kiểu quyết định ngẫu hứng ấy — Walter buộc phải đi.”
“Buộc phải đi?”
“Họ là chỗ dựa lưng của cậu ấy mà.”
“Tôi có nghe nói.”
“Đương nhiên là cô sẽ nghe nói rồi, thế nên cô cũng sẽ hiểu thôi.” Anh ta chú ý đến ly rượu trên bàn nhỏ. “Pha cho tôi đấy à?”
“Là cho Walter.”
“Được thôi, tôi là đại diện của cậu ấy mà.” Anh ta nâng ly lên, hướng về phía cô, “Cạn ly nào.”
Anh ta nốc cạn ly whiskey, trong khi cô hoàn toàn không nâng ly. “Tôi không muốn đi ăn tối vào tối nay,” cô nói.
“Cô đương nhiên phải đi chứ, lệnh của bác sĩ mà.”
“Đó là thứ mệnh lệnh kiểu của Walter và anh, nhưng tôi thì không. Khi nào Walter rảnh, anh ấy sẽ tự mình đến gọi tôi.”
Bác sĩ Delgado bắt đầu nghiêm túc đánh giá cô. “Cô thấy đấy, cưng à, anh không còn ôm bất kỳ hy vọng gì về việc cậu ta có đến hay không nữa. Anh nói thẳng thừng với cô thế này, giống như cách nói chuyện với những thành viên trong cùng một câu lạc bộ vậy, anh không còn trông mong cậu ta có thể đến được nữa đâu.”
Lần đầu tiên, nỗi lo lắng dù là mong manh nhất bắt đầu hóa thành nỗi đau nhói trong lồng ngực. Cô cảm thấy một nỗi sợ hãi vô hình tóm lấy lục phủ ngũ tạng mình, cơ thể cũng vì thế mà co rút lại. “Tôi chẳng trông mong bất cứ điều gì cả,” cô nói bằng giọng yếu ớt. “Tôi biết anh ấy bận rộn, lại gánh vác thêm trách nhiệm mới. Tôi cũng hiểu cảm nhận của anh ấy về chúng ta lúc trưa hôm qua...”
“Trưa hôm qua là thời kỳ Trung cổ đen tối rồi,” Delgado nói bằng giọng gần như thô lỗ. “Hôm nay là một thế kỷ khác trong cuộc đời cậu ta. Cậu ta đã tiến bước, thậm chí còn vượt qua cả anh. Tóm lại, địa vị của cậu ta đã khác xưa, cậu ta không thể chơi đùa nữa đâu.”
“Trò chơi?” cô lặp lại, lồng ngực bị đâm thủng sâu sắc. “Cậu đang nói cái quái gì thế? Ý cậu là sao?”
“Ồ, không nói nữa,” Delgado thiếu kiên nhẫn nói. Cô nhận ra cuối cùng anh ta cũng chuyển từ “Harriet” sang “cưng”, rồi đến “y tá”, anh ta thậm chí chẳng thèm buông lấy một chút sự đồng cảm của kẻ đứng ngoài cuộc. “Nhìn này,” anh ta nói, “cậu ta đã kể hết mọi chuyện về cô cho anh nghe rồi.”
“Ý gì chứ?” Cô cố gắng kiểm soát giọng nói của mình.
“Ý anh là, anh là bạn thân của cậu ta, cậu ta kể cho anh nghe tất tần tật.”
“Tôi không thích cách úp mở của anh, ẩn ý trong lời nói của anh cứ như thể có chuyện gì đó — chuyện dơ bẩn gì đó đã —”
“Cưng à, đó là do cô tự nói đấy chứ, anh không nói thế nhé. Anh hoàn toàn không có ý đó. Walter thích cô, cậu ta muốn vào một đêm thế này mà sai anh đến thì bắt buộc phải kể cho anh nghe lý do tại sao. Ngược lại, anh đã bị cô làm cho chấn động sâu sắc, đương nhiên, anh biết Walter hiểu rất rõ về cô, đó chính là điều anh muốn nói khi bảo rằng cậu ta không thể chơi đùa nữa. Tối nay, cậu ta đang được gia đình Fisher chào đón, ở đó cậu ta không xuất hiện với tư cách là một bác sĩ mà là một kẻ có địa vị ngang hàng. Anh còn được biết thêm rằng, một trong những cô con gái của họ đã chiếm được cậu ta, hoặc đang định chiếm lấy, mà cô ta thì xinh đẹp đến chết người.”
Harriet cảm nhận được sự tổn thương vô tình trong lời nói của anh ta, tiếp sau đó lại là một thứ cảm giác khác. Chiếc mặt nạ vừa mới bị vứt xó gần đây lại trượt bò về lại chỗ cũ.
“Là — là anh ta sai anh đến để nói tất cả những điều này ư?” cô bất giác hỏi.
“Cậu ta bảo anh tùy cơ ứng biến, ngôn từ là của anh, còn quan điểm là của chính cậu ta.”
“Tôi — tôi không thể tin nổi,” cô nói. “Anh ấy — ngay vào ngày hôm qua, anh ấy —” Cô không thể nói tiếp được nữa.
Bác sĩ Delgado lập tức bước đến bên cạnh cô, một tay ôm lấy cô như người cha ôm con gái, an ủi cô. “Cô thấy đấy, cưng à, anh rất xin lỗi, thực sự đấy. Anh thật sự không ngờ cô lại — ý anh là — không thể tưởng tượng nổi trong lòng cô đang nghĩ gì. Một người đàn ông giống như Walter ấy mà.”
“Đàn ông ai cũng thế cả,” cô nói gần như chỉ để tự nói với chính mình.
“Cô biết đấy cưng, nếu động não một chút thôi, cô sẽ nhớ ra một thí nghiệm nhỏ cơ bản vẫn thường được làm trong bài học tâm lý học. Người ta luôn dùng một con chuột đực, khiến nó chết đói ở hai phương diện — bị cách ly khỏi thức ăn — và cách ly khỏi tình dục. Sau đó, thả nó vào một chiếc lồng mà một đầu đặt thức ăn còn đầu kia đặt một con chuột cái. Vấn đề là — liệu nó sẽ lao về phía thức ăn để giữ mạng sống, hay lao về phía tình dục và tình yêu. Cô biết đáp án là gì rồi đấy, việc bảo toàn tính mạng luôn giành chiến thắng.”
“Anh đang nói cái quái gì thế?” Cô nghe mà không lọt tai nổi.
“Ý anh là lần này nó lại chiến thắng rồi.”
“Đồ khốn, không, không,” cô cảm thấy hoa mắt chóng mặt, dò dẫm tìm thành ghế để vịnh vào.
Bác sĩ Delgado đỡ lấy cô. “Này, này, đừng nghiêm trọng hóa thế chứ, chưa phải là tận thế đâu.” Anh ta giúp cô ngồi vững vào ghế, đưa cho cô chiếc ly rượu dở dang lúc nãy. “Uống cạn nó đi, có vẻ cô rất cần uống chút gì đó đấy, anh đi pha cho mình ly nữa đây.”
Cô đón lấy chiếc ly, Delgado cởi áo khoác, biến mất đằng sau lưng cô. Cô nghe thấy tiếng anh ta lục đục pha rượu, thế nhưng thứ vang lên từ sâu thẳm tâm can cô lại là nỗi bi thương vọng về từ chốn xa xăm. Nó xuất xứ từ Mary Shelley, người ngồi trên lầu ở Casa Magni, ngẩng nhìn Trelawny, kẻ vừa mới trở về từ vùng bờ biển gần Viareggio, nơi hắn vừa nhận dạng thi hài của chính mình. Trelawny đứng lặng trong sự tĩnh lặng cực độ của nỗi bi phẫn và tin dữ, còn Mary Shelley thì khóc ngút ngàn, “Không còn hy vọng nào nữa sao?” trong khi trong thâm tâm rõ mồn một là chẳng còn chút hy vọng nào nữa.
Những điều mà Harriet từng đọc được trong một cuốn tiểu sử cổ kính nào đó, thứ mà cô chưa từng nghĩ tới, vậy mà giờ đây lại ùa về tràn ngập tâm trí.
“Cảm thấy khá hơn chút nào chưa?” Là giọng bác sĩ Delgado đang đứng bên cạnh cô.
Cô nhấp một ngụm whiskey, đặt chiếc ly sang một bên, cô đã từng phải chịu đựng tất cả mọi thứ, cô đã cam chịu số phận. “Ít ra,” cô cất lời, “anh ta cũng nên tự mình đến nói với tôi chứ.” Tất cả những gì còn lại cho cô lúc này chỉ là sự oán trách trong tiếng thở dài khẽ khàng.
“Cậu ta không thể. Cô thừa biết cậu ta nhạy cảm thế nào mà. Cậu ta ghét phải lộ diện. Hơn nữa, cậu ta không nỡ làm tổn thương cô.”
“Anh ta không nghĩ làm thế là tổn thương tôi chắc?”
“Thôi nào, với tư cách là một người ngoài cuộc —”
“Vâng, tôi biết rồi.”
Anh ta ngồi lên thành ghế, dùng tay vỗ vỗ lên mái tóc cô.
“Điều này không chỉ vì tôi là một y tá,” cô cứ thế nói thẳng ra, coi như chẳng có ai xung quanh, “mà là vì tôi đáng bị như thế. Những bác sĩ quan trọng sẽ cưới y tá, không ít người làm thế, nhưng họ sẽ không cưới những cô y tá không xinh đẹp, không giàu có, hay ít nhất là chẳng có điểm gì đặc biệt. Tôi không muốn trách móc Walter, tôi chỉ không gặp may ở những mặt mà đàn ông coi trọng thôi, tôi không sở hữu vẻ bề ngoài mà đàn ông đòi hỏi ở một người vợ. Đối với đàn ông, người vợ đại diện cho sở thích của anh ta, uy tín và địa vị của anh ta, khả năng phán đoán của anh ta, cái tôi của anh ta — cô ấy là đại sứ của anh ta, xuất hiện trong các buổi tiệc cocktail để giới thiệu, chủ trì các bữa tiệc của anh ta, hoặc khoác tay anh ta xuất hiện ở nhà người khác, còn tôi thì ngoài chuyện chăn gối ra chẳng có lấy một chút giá trị nào.”
“Cưng à, đừng ngốc thế chứ, Walter vẫn luôn khen cô mà.”
“Khen kỹ năng trên giường của tôi ấy hả, chứ có phải cái gì khác đâu. Thế nhưng anh ta mặc kệ hoàn cảnh của tôi, liên tục đến tìm tôi, kỹ nghệ trên giường của tôi đã làm lóa mắt anh ta nhất thời mà thôi.”
Bác sĩ Delgado hứng khởi nắm lấy đôi vai cô. “Anh không phủ nhận chuyện cậu ta từng nhắc đến những điều đó. Nếu không hiểu cậu ta, chắc chắn anh sẽ cho rằng cậu ta là một gã khoác lác. Anh không hiểu nổi tại sao một người phụ nữ lại có thể như những gì cậu ta miêu tả.”
Cô hầu như chẳng nghe lọt tai anh ta đang nói gì, chỉ mang vẻ mặt bi phẫn trừng trừng nhìn về phía trước.
Anh ta khẽ áp sát vào người cô. “Này cưng, thực tế lên chút đi, mọi chuyện qua rồi mà. Hoàng đế có chết thì người ta vẫn hô vạn tuế như thường. Walter đi rồi, chẳng phải lão Herb vẫn ở đây sao? Sao không thuận theo dòng nước luôn đi? Cô trông có vẻ là người hiểu biết cơ mà, sao không mỉm cười đối diện với phiền muộn chứ? Rất nhiều cô gái thấy anh rất hấp dẫn, họ muốn mà chẳng được, trong khi cô lại có thể.”
Cô đã phần nào lấy lại được tâm trí, ngẩng đầu nhìn anh ta với vẻ mặt hoang mang.
“Chúng ta ra ngoài ăn tối giống như kế hoạch ban đầu của cô đi,” bác sĩ Delgado nói. “Rồi sau đó, quay lại đây, tận hưởng cho thật đã, rồi —”
Anh ta khựng lại. “Thì tận hưởng chứ sao, anh vừa nói rồi đấy.”
“Ý anh là tối nay ngủ với tôi á?”
“Rồi tối nào cũng thế, đừng có coi đó là nỗi nhục nhã tột cùng chứ. Suy cho cùng thì cô cũng có phải thuần khiết gì cho cam —”
“Cút ra ngoài.”
Anh ta giật mình. “Gì cơ?”
Harriet đứng phắt dậy. “Cút ra ngoài, ngay lập tức.”
Bác sĩ Delgado chậm chạp rời khỏi thành ghế. “Cô không — nói thật đấy chứ?”
“Anh đã nghe đến lần thứ hai rồi đấy.”
“Này cô gái trẻ, hạ cái tôi xuống đi chứ. Cô là ai cơ chứ? Anh vẫn luôn cố gắng nhắc nhở cô đấy. Cô cũng đã khá nổi bật rồi, thế nên anh mới tới. Cô cũng vớt vát được không ít rồi đấy, nghe nói thế, nhưng cũng chỉ đến thế mà thôi. Rửa tay gác kiếm đi, rồi cô sẽ chết vì thèm khát bạn tình cho mà xem.”
“Tôi nói câu thứ ba, cũng là câu cuối cùng, cút ngay ra ngoài, bằng không tôi sẽ gọi chủ nhà tống cổ anh đi đấy.”
Trên khuôn mặt bác sĩ Delgado treo một nụ cười khinh miệt, mang theo bộ dạng kiêu ngạo, anh ta uống cạn ly rượu còn dang dở, xách áo khoác lên và bước về phía cửa. Anh ta nắm lấy tay nắm cửa. “Đám tang của cô đấy,” anh ta nói.
Mở cửa xong, anh ta lại đột ngột quay phắt người lại. “Suýt chút nữa thì quên,” anh ta nói, vồ tay vào trong áo lấy ra một chiếc phong bì Manila dài. “Walter dặn nhất định phải giao cho cô, là một lá thư anh ta muốn cô đọc đấy.”
Anh ta chìa tay ra, nhưng cô không nhận. Anh ta nổi giận ném phắt nó lên chiếc bệ lò sưởi bằng đá cẩm thạch.
“Hẹn gặp ở bệnh viện nhé, cô y tá,” anh ta nói dứt câu rồi bỏ đi.
Harriet thẫn thờ đứng chết trân giữa phòng, đôi mắt chằm chằm dán vào bức thư của Walter. Giờ đây cô chẳng còn chút hứng thú nào với những gì anh ta muốn nói với cô nữa. Trông nó cứ giống như việc hôn một người đã chết, tựa như khung cảnh ở Lausanne do Hemingway viết lại, khi “kẻ vô danh” đặt nụ hôn lên thi thể lạnh ngắt của nữ y tá Catherine Barkley sau khi cô qua đời vậy.
Một, hai phút sau, Harriet quay lại khu bếp, tự rót cho mình một ly whiskey Scotland khác. Tay cầm ly, cô đá văng đôi giày dưới chân ra, lang thang không mục đích trong phòng, thỉnh thoảng lại nhấp một ngụm whiskey. Cô khựng lại trước tủ quần áo, đặt ly rượu xuống, cởi đồ chỉ để lại mỗi bộ đồ lót bằng nylon. Cô nhấc chiếc áo choàng tắm trên móc áo xuống khoác lên người. Cô thoáng chần chừ không biết có nên làm chút gì đó lót dạ, chẳng hạn như một chiếc bánh mì kẹp chẳng hạn, rồi sau đó cô cảm thấy mình nên uống tiếp thêm một lúc nữa.
Cô lại bắt đầu lang thang khắp phòng, cuối cùng dừng chân trước cửa sổ. Điều khiến cô cảm thấy khuây khỏa đôi chút là sương mù bên ngoài đã dày hơn, ít nhất thì cô cũng không phải ra ngoài trong cái thời tiết ẩm ướt thất thường thế này. Quay người rời khỏi cửa sổ, cô bắt đầu chú ý đến chiếc phong bì Manila trên bệ đá cẩm thạch. Cô uống cạn ly whiskey một cách qua loa, đi thẳng tới chỗ chiếc phong bì và xé toạc nó ra. Cô thầm đoán xem liệu anh ta có còn dám gửi tiền cho mình nữa không, nếu quả thực là vậy, cô sẽ ném thẳng vào mặt anh ta trong lần gặp tới. Ngay sau đó cô nhận ra kịch bản này sẽ chẳng bao giờ xảy ra nữa, bởi vì cô sẽ chẳng còn được gặp lại anh ta đâu, tình hình đến nước này thì việc tiếp tục bám trụ lại bệnh viện là điều bất khả thi.
Bên trong phong bì là một bức thư dài, sử dụng giấy viết thư của Học viện Rayner, người nhận là “Walter thân mến”, và chữ ký kết thúc là “Maud”. Đính kèm theo bức thư còn có một mảnh giấy nhớ nhỏ màu trắng, ở phần đầu có in dòng chữ “Đến từ bác sĩ y khoa Walter Zegner”. Những con chữ trên đó xuất phát từ bàn tay của một người phụ nữ: “Cô Briska thân mến, tiến sĩ yêu cầu tôi chuyển lá thư này đến chỗ cô, ông ấy nghĩ cô sẽ rất có hứng thú, ông ấy đang chuẩn bị viết thư cho tiến sĩ Hayden lấy danh nghĩa của cô đấy.” Chữ ký trên mảnh giấy nhớ là “Cô Snyder thay mặt bác sĩ Zegner.” —